1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập vùng tây nguyên

197 358 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập vùng Tây Nguyên
Tác giả Trương Đình Chiến
Người hướng dẫn GS. TS Nguyễn Hữu Khiển
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý hành chính công
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận, xây dựng cơ sở lý thuyết về QLNN đối với giáo dục NCL nói chung và QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL theo ng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGOÀI CÔNG LẬP VÙNG TÂY NGUYÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGỒI CƠNG LẬP VÙNG TÂY NGUYÊN

Chuyên ngành: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CƠNG

Mã số: 62 34 82 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CƠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS TS NGUYỄN HỮU KHIỂN

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Tư liệu nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc, xuất

xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Đà Lạt, ngày 30 tháng 9 năm 2013

Tác giả luận án

Trương Đình Chiến

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of

Southeast Asian Nations)

DVC: Dịch vụ công

EFA: Giáo dục cho mọi người (Education For All)

EU: Cộng đồng châu Âu (Liên minh châu Âu - European

Union)

GATS: Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (General

Agreement on Trade in Services)

GD – ĐT: Giáo dục – Đào tạo

NCL: Ngoài công lập

OECD: Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for

Economic Co-operation and Development)

PPP: Công – tư phối hợp (Public Private Partnership)

K–12: Giáo dục phổ thông (Mầm non và từ lớp 1 đến lớp 12;

Kindergarten – the 12th grade)

QLCM: Quản lý công mới

(United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)

WB: Ngân hàng Thế giới (World Bank)

WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG – BIỂU, HÌNH ẢNH

1 Sơ đồ 1.1 Cơ sở giáo dục phổ thông trong Hệ thống giáo dục quốc dân Việt

2 Hình 1.1 Hiện tượng tán sắc ánh sáng trắng khi đi qua lăng kính, tổng hợp

3 Sơ đồ 1.2 Sơ đồ biểu thị các thành tố cơ bản trong môi trường hoạt động

của trường phổ thông NCL theo “Mô hình Ánh sáng trắng” 64

TRUNG HỌC CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN 2000 – 2010

91

TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN

94

HOẠCH PHÁT TRIỂN TRƯỜNG PHỔ THÔNG NCL

101

THI CHÍNH SÁCH CỦA CÁC CƠ QUAN QLNN CẤP TỈNH

TẠI TÂY NGUYÊN VỀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG PT NCL

105

9 Bảng 2.5 TỔNG HỢP Ý KIẾN NHẬN XÉT – ĐÁNH GIÁ VỀ TỔ

CHỨC, NHÂN SỰ CỦA CÁC CƠ QUAN QLNN CẤP TỈNH

107

THỨC QUẢN LÝ CỦA CÁC CƠ QUAN QLNN CẤP TỈNH

109

BÁN CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN

111

12 Biểu đồ 2.1 BIỂU ĐỒ PHÁT TRIỂN HỌC SINH PHỔ THÔNG NGOÀI

CÔNG LẬP CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN 2000 - 2010

122

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Trang

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học của luận án 5

5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án 7

7 Kết cấu nội dung của luận án 8

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 9 1 Khái quát tình hình nghiên cứu 9

2 Phân tích – đánh giá một số công trình nghiên cứu có liên quan mật thiết với đề tài, những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu và giải quyết 15

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP 26 1.1 TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP 26 1.1.1 Một số cách tiếp cận về trường phổ thông NCL 26

1.1.2 Đặc điểm, khái niệm trường phổ thông NCL 30

1.1.3 Quá trình hình thành cơ sở giáo dục phổ thông NCL qua các giai đoạn lịch sử phát triển giáo dục, vai trò trường phổ thông NCL trong phát triển hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay 33

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP 39 1.2.1 Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước 39

1.2.2 QLNN về giáo dục – đào tạo 43

1.2.3 QLNN đối với hệ thống các trường phổ thông NCL 46

1.3 CÁC THÀNH TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP, ĐỀ XUẤT “MÔ HÌNH ÁNH SÁNG TRẮNG” 60

Trang 7

1.3.1 Các thành tố cơ bản tạo lập môi trường vận hành của hệ thống trường phổ

thông NCL và có nhiều tác động đến hiệu quả QLNN 601.3.2 Giới thiệu – đề xuất “Mô hình Ánh sáng trắng” trong QLNN đối với hệ thống

trường phổ thông NCL 62

1.4 KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ PHÁT TRIỂN

VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG

1.4.1 Kinh nghiệm về phát triển trường NCL 661.4.2 Một số kinh nghiệm về QLNN đối với hệ thống trường NCL 681.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam, một số vấn đề đặt ra về lý luận

QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL 73KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 78

Chương 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP

CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN 79

2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT

2.1.1 Các nhân tố tự nhiên và xã hội tác động tới quá trình phát triển giáo dục phổ

thông các tỉnh vùng Tây Nguyên 792.1.2 Khái quát tình hình giáo dục phổ thông vùng Tây Nguyên 842.1.3 Sự phát triển hệ thống trường phổ thông NCL trên địa bàn Tây nguyên 87

2.2 THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TRƯỜNG

2.2.1 QLNN theo các nội dung và yêu cầu quản lý chủ yếu đối với hệ thống trường

phổ thông NCL 99

2.2.2 QLNN theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ

– địa phương đối với hệ thống trường phổ thông NCL các tỉnh Tây Nguyên 1172.2.3 Đánh giá chung, những vấn đề rút ra từ thực tiễn QLNN đối với hệ thống

trường phổ thông NCL trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn 2000 – 2010 119KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 129

Trang 8

Chương 3

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN, GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN 130

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI

3.1.1 Quan điểm, yêu cầu chủ yếu; những dự báo làm căn cứ cho định hướng phát triển hệ thống trường phổ thông NCL vùng Tây Nguyên 1303.1.2 Định hướng phát triển hệ thống trường phổ thông NLC tại các tỉnh vùng Tây

Nguyên giai đoạn 2011 – 2020 1393.1.3 Cơ hội, thách thức; những yêu cầu về QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL trên địa bàn Tây Nguyên 142

3.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG

TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN

GIAI ĐOẠN 2011 – 2020 148 3.2.1 Nhóm giải pháp về quy hoạch, xây dựng kế hoạch; đổi mới chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống trường phổ thông NCL 1483.2.2 Nhóm giải pháp về xây dựng và hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy QLNN đối với hệ thống các trường phổ thông NCL; cải cách thủ tục cấp phép 1573.2.3 Nhóm giải pháp đổi mới cơ chế và phương thức QLNN của các tỉnh vùng Tây Nguyên đối với hệ thống trường phổ thông NCL 1613.2.4 Nhóm giải pháp thực hiện chuyển đổi loại hình trường theo Thông tư

11/2009/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo 1683.2.5 Nhóm giải pháp về đảm bảo hiệu lực QLNN trong lĩnh vực kiểm tra

– kiểm soát, kiểm định chất lượng đối với hệ trường phổ thông NCL trên địa bàn Tây Nguyên 172

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Cung ứng dịch vụ công (DVC) là một trong những chức năng cơ bản,

là sứ mệnh của Nhà nước đối với nhân dân và sự nghiệp phát triển kinh tế –

xã hội (KT – XH) Nếu việc thực hiện chức năng quản lý là lĩnh vực hầu như độc quyền của Nhà nước, thì với chức năng phục vụ, theo quan niệm hành chính công mới, xã hội hóa (XHH) là xu hướng ngày càng được quan tâm để

mở rộng khả năng, chia sẻ cơ hội và trách nhiệm với các lực lượng trong xã hội cùng tham gia cung ứng và nâng cao chất lượng DVC

Giáo dục – đào tạo (GD – ĐT) là một lĩnh vực DVC rất quan trọng Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã xác định: giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu; là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và toàn dân, hướng tới

mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”; “đầu

tư cho giáo dục là đầu tư phát triển” Để tiếp tục xây dựng và phát triển sự

nghiệp GD – ĐT phù hợp với yêu cầu mới, xã hội hóa giáo dục (XHHGD) –

đa dạng hóa loại hình trường lớp là chủ trương quan trọng và là xu thế tất yếu Quản lý nhà nước (QLNN) đối với hệ thống trường ngoài công lập (NCL) cũng phải được ngày càng đổi mới và thích nghi trong điều kiện Việt Nam đang trong quá trình tiếp cận cơ chế thị trường định hướng XHCN

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực đổi mới quan điểm, chủ trương và chính sách XHHGD; từng bước thể chế hóa và

đề ra yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp QLNN đối với hệ thống trường NCL Tuy nhiên, QLNN đối với các cơ sở giáo dục NCL, nhất là đối với hệ thống trường phổ thông NCL nhìn chung vẫn còn không ít khó khăn, bất cập về cả thể chế, chính sách, cơ chế cũng như hiệu quả quản lý; chưa theo kịp những đòi hỏi của thực tiễn Đối với các cơ quan thẩm quyền chức năng QLNN cấp tỉnh, quản lý giáo dục phổ thông vẫn là lĩnh vực còn nhiều lúng túng và chậm đổi mới

Trang 10

QLNN đối với hệ thống cơ sở giáo dục phổ thông NCL cần được tăng cường nghiên cứu lý luận, đổi mới tư duy để trên cơ sở đó hoàn thiện khoa

học QLNN về xã hội, đồng thời góp phần thực hiện yêu cầu: “Tăng cường

công tác nghiên cứu lý luận, làm rõ các vấn đề về sở hữu, về tính chất hoạt động lợi nhuận và hoạt động phi lợi nhuận, về trách nhiệm xã hội và các tổ chức, về các hình thức xã hội hóa trong mỗi lĩnh vực, để từ đó tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách.” [46]

Xét về mặt thực tiễn, Tây Nguyên có vị trí chiến lược khá quan trọng,

có đông đồng bào dân tộc; có những nét đặc thù về KT – XH và đang tiềm ẩn một số yếu tố khá nhạy cảm về chính trị – xã hội; trình độ dân trí nhìn chung còn thấp, chưa đồng đều giữa các vùng – miền Trước tình hình dân số các tỉnh vùng Tây Nguyên tăng cơ học khá nhanh, các lợi thế và tiềm năng của vùng đang trong quá trình được khai thác, nhu cầu tạo nguồn nhân lực cho phát triển bền vững vùng Tây Nguyên đang tăng cao; việc phát triển quy mô, mạng lưới trường học và tăng cường hiệu quả QLNN đối với giáo dục phổ thông đang trở thành một nhiệm vụ rất quan trọng

Hệ thống trường phổ thông NCL tại các tỉnh vùng Tây Nguyên đã được hình thành, phát triển từ những năm đầu thập niên 1990 đến nay và đã góp phần tạo điều kiện cho một bộ phận đáng kể số học sinh được học lên bậc trung học Các cấp QLNN địa phương cũng đã có những cố gắng nhất định để thích ứng với yêu cầu mới Tuy nhiên, QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL trên địa bàn Tây Nguyên những năm qua còn không ít hạn chế và nảy sinh một số vấn đề có phần bức xúc Một số cấp QLNN, nhất là ở cấp tỉnh chưa nhận thức đầy đủ về tính chất, yêu cầu XHHGD Để phát triển giáo dục phổ thông gắn với thực hiện công bằng xã hội, chăm lo việc học hành của học sinh các dân tộc ít người, thực hiện phổ cập giáo dục vùng Tây Nguyên là những vấn đề rất cần được quan tâm xử lý hài hòa Thực tiễn đang đòi hỏi cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL

để nâng cao hiệu quả phát triển giáo dục tại các tỉnh vùng Tây Nguyên

Trang 11

Xuất phát từ yêu cầu phát triển giáo dục phổ thông gắn với với điều kiện KT – XH các vùng – miền, giải pháp phù hợp cho phát triển và QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL các tỉnh vùng Tây Nguyên giai đoạn

2011 – 2020 cần được chú ý nghiên cứu để chỉ đạo – thực hiện theo các yêu cầu Chính phủ đã đề ra trong Nghị quyết 05/2005/NQ–CP ngày 18/4/2005

“Về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao”

Từ những lý do chủ yếu nêu trên, việc nghiên cứu lý luận QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL, phân tích – đánh giá thực trạng, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL vùng Tây Nguyên là một yêu cầu khá cấp thiết Trên cơ sở đó, nghiên

cứu sinh xin được chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với hệ thống trường

phổ thông ngoài công lập vùng Tây Nguyên” để nghiên cứu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về QLNN, phân tích – đánh giá thực trạng QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL các tỉnh vùng Tây Nguyên, nghiên cứu sinh thiết lập luận cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng, hoàn thiện nội dung, phương thức QLNN đối với hệ thống các trường phổ thông NCL trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn 2011 – 2020

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận, xây dựng cơ sở lý thuyết về

QLNN đối với giáo dục NCL nói chung và QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL theo nguyên tắc kết hợp quản lý ngành và quản lý theo lãnh thổ – địa phương;

- Khảo sát tình hình phát triển và hiệu quả hoạt động của hệ thống

trường phổ thông NCL, nhận định – đánh giá tác động của nó đến sự phát triển giáo dục phổ thông vùng Tây Nguyên Phân tích, đánh giá những ưu

Trang 12

điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng của hoạt động QLNN đến sự phát triển hệ thống giáo dục phổ thông NCL trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn 2000 – 2010;

- Nghiên cứu – đề xuất định hướng phát triển và các nhóm giải pháp

hoàn thiện QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL trên địa bàn Tây Nguyên để các cơ quan QLNN có thể tham khảo, vận dụng trong giai đoạn

2011 – 2020 và những năm tiếp theo

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu hệ thống các trường phổ thông NCL, QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL các tỉnh vùng Tây Nguyên

Cụ thể là nghiên cứu hoạt động QLNN, cơ sở pháp lý QLNN và những yếu tố tác động đến hiệu quả QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL trong điều kiện thực tiễn KT – XH và yêu cầu phát triển giáo dục phổ thông các

tỉnh vùng Tây Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Giáo dục phổ thông bao gồm 2 bậc học: bậc tiểu học và bậc trung học (cấp THCS, cấp THPT) Do số trường và số học sinh NCL bậc tiểu học còn rất ít, vùng Tây Nguyên chỉ có 3 trường NCL ở bậc học này, luận án chỉ xem xét chủ yếu tình hình phát triển và QLNN đối với hệ thống các trường THCS, THPT NCL;

- Phạm vi về không gian lãnh thổ: chỉ tập trung ở vùng Tây Nguyên;

- Phạm vi về thời gian: thực trạng QLNN đối với hệ thống các trường THCS, THPT NCL được xem xét trong giai đoạn 2000 – 2010 (khi có Luật Giáo dục sửa đổi) Các nhóm giải pháp QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL các tỉnh vùng Tây Nguyên sẽ được đề xuất cho giai đoạn 2011 –

2020 là chủ yếu

Trang 13

4 Giả thuyết khoa học của luận án

QLNN gắn với đổi mới cung ứng và quản lý DVC có tác động sâu sắc đến quá trình phát triển, hiệu quả hoạt động của hệ thống trường phổ thông NCL

Nếu hoàn thiện thể chế; đổi mới chính sách, cơ chế, phương thức QLNN phù hợp với yêu cầu XHHGD và điều kiện đặc thù về KT – XH các địa phương thì sẽ tạo điều kiện tốt hơn để thu hút đầu tư phát triển hệ thống trường phổ thông NCL, phát huy được hiệu quả các nguồn lực trong xã hội tham gia phát triển giáo dục phổ thông góp phần nâng cao dân trí, tạo nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển bền vững KT – XH vùng Tây Nguyên

5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu sinh vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng với quan điểm lịch sử cụ thể, toàn diện; tiếp cận hệ thống và kế thừa kết quả nghiên cứu một số công trình nghiên cứu đi trước để phân tích và tổng hợp lý thuyết, đánh giá thực trạng hoạt động QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL các tỉnh vùng Tây Nguyên trong thời gian qua

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được tiến hành trên cơ sở sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

+ Nghiên cứu tài liệu, sách, các tạp chí, các thông tin khoa học về kết quả nghiên cứu cụ thể có liên quan đến đề tài đã được công bố trên các ấn phẩm và báo cáo khoa học; các văn bản chủ yếu về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới cung ứng và quản lý DVC, về XHHGD và nhất là về QLNN đối với giáo dục phổ thông NCL để tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đi trước về những vấn đề có liên quan đến đề tài

Trang 14

+ Phân tích và tổng hợp, hệ thống hóa lý thuyết; liên kết các mặt, các nguồn thông tin thu thập được nhằm xác định cơ sở lý luận của đề tài, từ đó

có được cái nhìn toàn diện, khách quan về chủ đề nghiên cứu; xác định rõ một

số phạm trù, xây dựng – đề xuất một số khái niệm về “Trường phổ thông

NCL”, “QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL”;

+ Vận dụng phương pháp mô hình, sơ đồ hóa nhằm tăng tính trực quan

trong việc nghiên cứu và đề xuất khái niệm “Mô hình Ánh sáng trắng” để

góp phần làm rõ các thành tố cơ bản trong môi trường hoạt động của trường phổ thông NCL, các yếu tố tác động và vai trò của Nhà nước trong việc nâng cao hiệu quả QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Thu thập, hệ thống hóa và phân tích số liệu để góp phần phát hiện những vấn đề về phát triển và hoạt động của hệ thống trường phổ thông NCL; khảo sát thực tiễn QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL các tỉnh vùng Tây Nguyên

+ Phỏng vấn không chuẩn bị trước thông qua trao đổi trực tiếp (phương pháp bổ trợ) để tham khảo ý kiến một số chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản

lý có kinh nghiệm về quản lý giáo dục, QLNN đối với hệ thống trường NCL

+ Trưng cầu ý kiến thông qua phiếu hỏi: việc khảo sát ý kiến được thực hiện đối với 154 nhà quản lý, công chức ở UBND tỉnh và một số Sở – ngành chức năng; hiệu trưởng, hiệu phó và một số cá nhân đầu tư thành lập trường phổ thông NCL tại các tỉnh được chọn mẫu để khảo sát: Lâm Đồng, Đăk Lăk, Gia Lai (là 3 tỉnh lớn trong 5 tỉnh của vùng Tây Nguyên)

Xử lý thông tin và số liệu từ khảo sát kết hợp với phân tích, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để góp phần đánh giá thực trạng QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL các tỉnh Tây Nguyên; từ đó xem xét – đề xuất những giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn để nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL trên địa bàn Tây Nguyên

Trang 15

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án

6.1 Ý nghĩa khoa học

Thứ nhất, đưa ra được các cách tiếp cận để làm rõ đặc trưng của loại

hình trường phổ thông NCL; đề xuất một số khái niệm, xác định những nội dung QLNN mang tính đặc trưng riêng đối với hệ thống trường phổ thông NCL; phân tích những cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL; đúc rút bài học kinh nghiệm của một số nước về QLNN đối với giáo dục NCL làm cơ sở xây dựng luận cứ khoa học và góp phần làm phong phú lý luận QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL;

Thứ hai, nghiên cứu và đề xuất – giới thiệu “Mô hình Ánh sáng trắng”

để xác định các thành tố cơ bản tạo lập môi trường hoạt động phù hợp cho hệ thống trường phổ thông NCL, từ đó xác định vai trò Nhà nước nhằm góp phần nâng cao hiệu quả QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL trong

cơ chế thị trường định hướng XHCN và điều kiện thực tiễn địa phương;

Thứ ba, chọn lọc, hệ thống hóa và phân tích số liệu để chỉ ra những bất

hợp lý trong phát triển giáo dục NCL; nhận định – đánh giá những măt được, chưa được; phân tích nguyên nhân của những hạn chế, bất cập về QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL các tỉnh Tây Nguyên những năm qua

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thứ nhất, xác định yêu cầu, dự báo nhu cầu và đóng góp những ý

tưởng định hướng tổng thể cho việc phát triển hệ thống trường phổ thông NCL trên địa bàn Tây Nguyên những năm sắp tới;

Thứ hai, thông qua đánh giá thực trạng và phân tích nguyên nhân khách

quan cũng như chủ quan, luận án đi sâu nghiên cứu – đề xuất các nhóm giải pháp QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL có tính chất cơ bản, đồng bộ và có tính khả thi, phù hợp với yêu cầu phát triển giáo dục phổ thông NCL và điều kiện KT – XH các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2011 – 2020;

Trang 16

Thứ ba, các cấp QLNN, các cơ quan thẩm quyền chức năng, các nhà

quản lý giáo dục và các trường phổ thông NCL có thể xem xét – vận dụng trong thực tiễn để góp phần nâng cao hiệu quả QLNN, tạo điều kiện phát huy vai trò của hệ thống trường phổ thông NCL trong phát triển giáo dục tại các tỉnh vùng Tây Nguyên hoặc một số địa bàn có điều kiện KT – XH tương tự

Mặt khác, nghiên cứu sinh mong đợi kết quả nghiên cứu của luận án sẽ được các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý xem xét – tham khảo trong quá trình nghiên cứu khoa học, phân tích – đánh giá chính sách, bổ sung – hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan

7 Kết cấu nội dung của luận án

Nội dung luận án gồm có phần Mở đầu, Tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề có liên quan đến đề tài luận án, 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hệ thống trường

phổ thông ngoài công lập

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ

thông ngoài công lập các tỉnh vùng Tây Nguyên

Chương 3: Định hướng phát triển, giải pháp quản lý nhà nước đối với

hệ thống trường phổ thông ngoài công lập các tỉnh vùng Tây Nguyên

Trang 17

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Một số công trình nghiên cứu liên quan về quản lý đối với giáo dục NCL từ thực tiễn một số nước phương Tây, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Trên thực tế, XHH các lĩnh vực KT – XH nói chung và phát triển hệ thống trường NCL ở các nước phương Tây cũng như nhiều nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã được tiến hành từ rất lâu Các nước trên thế giới đã có không ít công trình nghiên cứu chính sách, cơ chế – phương thức quản lý và cũng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), một số nhà nghiên cứu nước ngoài đã có một số công trình nghiên cứu, giới thiệu – khuyến nghị về phát triển và quản lý các cơ sở NCL trong lĩnh vực giáo dục với các đề tài như:

- Ngân hàng Thế giới (WB): “Nhà nước trong một Thế giới đang

chuyển đổi”; Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): “Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh” (Tài liệu dịch), trong

đó, có phần viết của S Chiavo-Campo và P.S.A Sundaram: “Sự tham gia của

cộng đồng nhằm nâng cao kết quả hoạt động của trường học phổ thông”;

- Tooley, James (1999): “Công nghiệp giáo dục toàn cầu, những bài

học từ giáo dục tư thục ở các nước đang phát triển” (The Global Education Industry, Lessons from Private Education in Developing Countries), Institute

of Economic Affairs, London;

- Le Grand, J & Barlett, W (1993): “Chuẩn thị trường và chính sách

xã hội” (Quasi–markets and Social Policy), Macmillan, London Công trình

nghiên cứu này chỉ ra rằng sự tồn tại của thị trường giáo dục đã là một thực tế được chấp nhận trong giáo dục Tuy nhiên, đây là một thị trường đặc biệt, về bản chất, khác với thị trường hàng hóa hoặc thị trường trong các lĩnh vực dịch

Trang 18

vụ khác Điểm khác biệt cơ bản là ở chỗ trong thị trường giáo dục, bên cạnh

cơ chế cạnh tranh và các nhà cung ứng giáo dục tư nhân, nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng giáo dục, quản lý chất lượng, bảo vệ quyền lợi người học nhằm đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục Một thị trường như vậy không phải là thị trường theo nghĩa truyền thống, thị trường giáo dục chỉ gần đúng là một thị trường Các tác giả Le Grand và Barlett gọi đó là

“chuẩn thị trường” (quasi–market)

- Đã có nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài về tác động của quản

lý công mới (QLCM) đối với việc đổi mới quản lý giáo dục Mackie và Williamson (2007) chỉ ra những tương quan giữa QLCM với những thay đổi

về quản lý suốt 15 năm trong giáo dục tiếp tục ở Xcotlan Tolofari (2005) nghiên cứu những thay đổi về cơ chế quản trị và tổ chức nhà trường dưới tác động của QLCM

Nhìn một cách tổng quát, các công trình trên đây đã đi vào nghiên cứu những vấn đề vĩ mô về đổi mới QLNN, QLCM và có phần liên quan đến QLNN đối với giáo dục NCL, đặc biệt là các vấn đề về tạo điều kiện – quan tâm lợi ích của mối quan hệ đối tác, thị trường dịch vụ giáo dục, xã hội công dân và QLNN; thể chế hóa sự tham gia của nhân dân và của các tổ chức cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của trường phổ thông nói chung, hệ thống trường phổ thông NCL nói riêng

Các nhà khoa học, học giả trong nước cũng đã có một số công trình nghiên cứu – tổng kết kinh nghiệm của nước ngoài về nhận thức, quan điểm, phát triển và quản lý hệ thống trường NCL để từ đó phân tích chính sách, khảo sát thực tiễn, khuyến nghị những giải pháp về phát triển và quản lý hệ thống trường NCL của Việt Nam như:

- Nguyễn Như Ất: “Từ tình hình phát triển các trường ngoài công lập

Liên Bang Nga, Trung Quốc và Việt Nam: thử tìm giải pháp có tính đột phá

về lĩnh vực này”;

Trang 19

- Nguyễn Hữu Châu: “Về định hướng chiến lược giáo dục đầu thế kỷ

XXI của một số nước trên thế giới”;

- GS TSKH Vũ Đình Cự (chủ biên): “Giáo dục hướng tới thế kỷ XXI”;

- GS VS Phạm Minh Hạc, PGS TS Trần Kiều, PGS TS Đặng Bá

Lãm, PGS TS Nghiêm Đình Vỳ: “Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI”;

- Nguyễn Cảnh Chất biên dịch: “Hành chính công và quản lý hiệu quả

chính phủ”

- Nguyễn Quang Kính biên dịch: “Cải cách giáo dục cho thế kỷ XXI –

Bảo đảm để dẫn đầu trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa”

1.2 Một số công trình nghiên cứu trong nước về cải cách DVC, đổi mới quản lý giáo dục NCL và QLNN đối với hệ thống trường NCL

Việt Nam có những nét đặc thù riêng về thể chế, là nước đang phát triển – tiếp cận nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và đang trong quá trình hội nhập quốc tế Từ chủ trương đổi mới, qua quá trình XHHGD và phát triển hệ thống trường NCL cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thị trường dịch vụ giáo dục; mô hình, hoạt động của trường phổ thông NCL; chính sách và một số lĩnh vực thuộc phạm vi QLNN có liên quan:

- Đề tài “Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và

trước nhu cầu hội nhập quốc tế” do PGS TS Trần Quốc Toản (2010) làm chủ

nhiệm Đây là công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước đã đi vào nghiên

cứu tương đối toàn diện những vấn đề cơ bản về mối quan hệ giữa giáo dục

và thị trường trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy: Giáo dục tạo ra được những sản phẩm hàng hóa dịch vụ đặc biệt với nhiều cấp độ và tính chất khác nhau,

do đó, tồn tại một thị trường dịch vụ giáo dục Quá trình phát triển thị trường giáo dục được gọi là thị trường hóa trong giáo dục; bản chất của quá trình này

là sử dụng các giải pháp, công cụ của thị trường, cơ chế thị trường để phát triển giáo dục

Trang 20

- Các bài viết của TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến: “Quản lý công mới và

tác động của nó lên giáo dục Việt Nam” (Tạp chí Quản lý Giáo dục, Số 9,

tháng 2/2010), “Quản lý công mới trong bối cảnh hình thành thị trường dịch

vụ giáo dục ở Việt Nam” (Tạp chí Khoa học giáo dục, Số 65, tháng 2/2011)

thể hiện sự tiếp cận về đổi mới quản lý giáo dục theo hướng chỉ ra những đặc trưng nổi bật của thực tiễn giáo dục nước ta trong giai đoạn mới, hội nhập và phát triển, là sự hình thành và phát triển của thị trường dịch vụ giáo dục Trong tiến trình vận động của giáo dục, đặc biệt khi bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sau khi gia nhập WTO, đã xuất hiện một nhân tố mới rất quan trọng, nhưng còn ít được nghiên cứu, đó là thị trường giáo dục Sự xuất hiện của nhân tố này buộc quản lý giáo dục phải có những thay đổi căn bản Điều này cũng đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới Có một định hướng khá rõ ràng, đó là việc thay thế mô hình quản lý công truyền thống bằng mô hình QLCM vào trong QLNN cũng như trong tổ chức và hoạt động giáo dục

Bên cạnh đó, trong lĩnh vực QLNN đối với giáo dục nói chung, quản lý đối với hệ thống trường NCL nói riêng cũng đã có những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như:

- GS Phạm Phụ: “Cơ sở giáo dục trong bối cảnh nền kinh tế thị

trường”, “Những chủ đề cần cải cách và 9 kiến nghị về xã hội hóa nguồn lực trong giáo dục”;

- PGS TS Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí: “Về cải cách giáo dục

phổ thông ở Việt Nam”;

- GS TSKH Vũ Ngọc Hải: “Dịch vụ giáo dục”, “Nhận diện thách

thức, cơ hội và yêu cầu đối với giáo dục Việt Nam trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, gia nhập WTO và toàn cầu hóa”;

- Công trình nghiên cứu của nhóm chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục, các nhà khoa học – nghiên cứu về phát triển giáo dục – đào tạo do bà Nguyễn Thị Bình (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Phó Chủ tịch

Trang 21

nước) làm chủ nhiệm đề tài:“Luận cứ khoa học cho việc đề xuất chủ trương,

chính sách phát triển giáo dục phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và đầy đủ”

Nhiều nhà nghiên cứu thuộc Học viện Hành chính (trước đây là Học viện Hành chính Quốc gia), nhất là ở Viện Nghiên cứu hành chính, Khoa Quản lý nhà nước về xã hội, Khoa Khoa học hành chính, Khoa Quản lý tài chính công đã có nhiều công trình nghiên cứu, giáo trình, chuyên đề hội thảo khoa học về đổi mới cung ứng DVC, về XHHGD, QLNN về giáo dục Trong đó có những phần nghiên cứu sâu về chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển và QLNN đối với cơ sở giáo dục NCL:

- TS Nguyễn Ngọc Hiến (chủ biên), GS.TS Bùi Thế Vĩnh, PGS TS Lê Chi Mai, PGS TS Võ Kim Sơn, PGS TS Đinh Văn Mậu, PGS TS Phan Hữu Tích, PGS TS Trần Đình Ty, PGS TS Nghiêm Đình Vỳ, TS Nguyễn Văn

Thủ .: “Vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công – nhận thức,

thực trạng và giải pháp”;

- PGS TS Lê Chi Mai: “Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam”, “Chuyển

giao dịch vụ công cho các cơ sở ngoài nhà nước – vấn đề và giải pháp”

Một số nhà nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh và Học viện Quản

lý giáo dục cũng đã có một số công trình nghiên cứu – khảo sát về nhu cầu phát triển, hoạt động của trường NCL; quản lý đối với hệ thống trường NCL:

- Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đã có công trình nghiên cứu của nhóm tác giả do TS Dương Kiều Linh làm chủ nhiệm đề tài:

“Giáo dục phổ thông ngoài công lập ở Thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng

và xu hướng phát triển”;

- Đề tài nghiên cứu khoa học do NGƯT Chu Xuân Thành làm chủ

nhiệm đề tài: “Thực trạng và đề xuất cơ chế tổ chức quản lý trường phổ

thông dân lập, tư thục ở TP Hồ Chí Minh”;

Trang 22

- PGS TS Nguyễn Công Giáp, TS Đặng Thị Thanh Huyền, ThS Nông Thị Quý, ThS Lương Thị Thanh Phượng, ThS Đinh Thị Minh Châu (chủ

nhiệm đề tài): “Nghiên cứu dự báo nhu cầu học phổ thông ngoài công lập từ

nay đến 2010” (Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài khoa học – công nghệ cấp

Bộ - Mã số: B 2006 – 29 – 06);

- TS Lưu Xuân Mới (chủ nhiệm đề tài): “Công tác thanh tra giáo dục

đối với trường phổ thông ngoài công lập” (Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài

- Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Báo cáo nghiên

cứu – tổng kết về giáo dục – đào tạo và dạy nghề vùng Tây Nguyên 2000 – 2010”;

- Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ

Việt Nam, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam: “Nghiên cứu

đánh giá tổng hợp tài nguyên – môi trường, kinh tế – xã hội và đề xuất luận

cứ khoa học – công nghệ phục vụ chiến lược phát triển bền vững Tây Nguyên giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến 2030” (gọi tắt là Chương trình Tây

Nguyên 3);

- Dự thảo“Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây

Nguyên đến năm 2020” và Thông báo số 7872/VPCP-ĐP, ngày 07/11/2011:

“Ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch tổng thể vùng Tây Nguyên”

Trang 23

Trong quá trình thực hiện Chương trình Tây Nguyên 1 và Chương trình Tây Nguyên 2 trước đây cũng như trong quá trình hoạch định chính sách, các

Bộ – ngành chức năng cũng đã có một số công trình khảo sát – đánh giá thực trạng XHHGD trên địa bàn Tây Nguyên và các chính sách liên quan

Hệ thống trường phổ thông NCL cũng đã được một số nhà quản lý giáo dục, một số đơn vị chức năng của các Sở Giáo dục và Đào tạo vùng Tây Nguyên nghiên cứu, khảo sát trong quá trình quản lý – chỉ đạo, xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo của từng tỉnh

2 PHÂN TÍCH – ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN MẬT THIẾT VỚI ĐỀ TÀI, NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN SẼ TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI QUYẾT

2.1 Phân tích – đánh giá một số công trình nghiên cứu có liên quan mật thiết đến đề tài luận án

Trong các công trình nghiên cứu nêu trên, một số công trình đã đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục, quản lý đối với trường phổ thông

NCL gắn với điều kiện KT – XH địa phương và có những nét tương thích với

đề tài nghiên cứu của luận án:

2.1.1 Đề tài của Viện Nghiên cứu phát triển Tp Hồ Chí Minh do TS Dương Kiều Linh làm chủ nhiệm: “Giáo dục phổ thông ngoài công lập ở

Thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và xu hướng phát triển”

Trang 24

2.1.1.2 Nội dung nghiên cứu, những vấn đề đề tài đã giải quyết được

- Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử; những đặc điểm về tâm

lý xã hội, văn hóa – giáo dục có liên quan đến vấn đề phát triển hệ thống trường phổ thông NCL Hệ thống giáo dục NCL trong cách nhìn về lịch sử giáo dục của Thành phố Hồ Chí Minh Điều kiện cho hệ thống trường phổ thông NCL xuất hiện, hoạt động và phát triển

- Nghiên cứu những khái niệm với các hình thức, loại hình, cách hiểu khác nhau về các mô hình trong hệ thống giáo dục NCL qua từng thời kỳ

- Tìm hiểu và hệ thống hóa các văn bản về chủ trương, chính sách XHHGD và sự thay đổi nhận thức của các cơ quan QLNN về vấn đề này Bao gồm: các nghị quyết, nghị định quan trọng; các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh; những biện pháp quản lý các loại hình trường phổ thông NCL Các văn bản mang tính cơ sở lý luận và là chỗ dựa pháp lý được hệ thống, nêu lên được tính kế thừa cũng như những đòi hỏi của thực tế và sự áp dụng vào thực tiễn, những tác động tích cực và những mặt bất cập trong các văn bản đó

- Nội dung chính yếu của đề tài là mô tả thực trạng, quá trình hình thành và hoạt động của hệ thống trường phổ thông NCL; nguyên nhân, lý do

ra đời, sự vận hành và sự chấp nhận của xã hội

Đề tài cũng đã làm rõ về các loại hình trường phổ thông NCL hiện nay

ở tên gọi, thực chất hoạt động, quy mô đào tạo, mạng lưới trường lớp; điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; chất lượng và hiệu quả đào tạo, nội dung chương trình; đánh giá và sự chấp nhận của xã hội, dư luận của phụ huynh và học sinh

Đề tài đã trình bày vai trò và hiệu quả của hệ thống trường phổ thông NCL trong mối quan hệ với các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội; đã lưu ý phân tích những yếu tố nước ngoài đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến mạng lưới và cơ

Trang 25

cấu trường phổ thông NCL; đánh giá khách quan vai trò, hiệu quả của loại hình trường phổ thông NCL để có những đề xuất về định hướng phát triển và phương thức quản lý đối với hệ thống trường phổ thông NCL Trên cơ sở đánh giá vai trò, hiệu quả, tầm quan trọng của việc phát triển trường phổ thông NCL đúng định hướng để đề xuất giải quyết hai rào cản lớn:

Một là, để mở thêm nhiều trường phổ thông NCL ở bậc trung học đạt

tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng thì hầu như quỹ đất đô thị đã cạn Trong khi các

dự án xin mở trường đều tập trung vào khu vực nội thành hoặc các quận vùng ven – nơi có các khu đô thị mới;

Hai là, trường phổ thông NCL nói riêng và hệ thống giáo dục nói

chung đang vận hành trong những thay đổi quan trọng với yêu cầu ngày càng gay gắt của xã hội là nguồn lực chưa đáp ứng, cả xã hội chạy theo bằng cấp…

Trong bối cảnh đó, để trường phổ thông NCL ra đời và vận hành đảm bảo những tiêu chuẩn và quy định của ngành đã khó, nhưng khó hơn là với những tác động của cơ chế thị trường, các trường phổ thông NCL khó có thể ngay một lúc hoạt động theo một định hướng riêng trước nhiều thách thức

Tạo bản sắc và thương hiệu là điều rất cần cho sự phát triển trường phổ thông NCL nếu muốn phát triển bền vững theo kinh nghiệm của các nước phát triển Từ đó, đề tài xác định được vai trò, giá trị của từng loại hình trường dân lập, trường tư thục, trường quốc tế; trường phổ thông NCL các cấp học nào đáp ứng được nhu cầu của xã hội, được chấp nhận; so sánh chất lượng đào tạo cũng như sự chấp nhận của xã hội giữa các loại hình trường phổ thông NCL với nhau, giữa trường công lập với trường dân lập, tư thục

2.1.1.3 Những vấn đề đề tài chưa giải quyết được

- Về lý luận, đề tài chỉ mới chủ yếu xem xét các loại hình trường NCL, chưa đi sâu thiết lập bộ công cụ nghiên cứu trên cơ sở nghiên cứu lý luận QLNN nói chung, QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL nói riêng

Trang 26

- Thực tiễn giáo dục NCL có những đặc thù riêng, hệ thống trường phổ thông NCL tại Tp Hồ Chí Minh lại có nhiều khác biệt từ điều kiện phát triển của một đô thị lớn Phần phân tích thực trạng chủ yếu là xem xét xu hướng phát triển và đề ra giải pháp cho phát triển, đề tài chưa có điều kiện đi sâu vào các giải pháp về QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL gắn với đặc thù của loại hình, điều kiện thực tiễn và những đặc trưng của vùng – miền

2.1.2 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố do NGƯT Chu

Xuân Thành làm chủ nhiệm: “Thực trạng và đề xuất cơ chế tổ chức quản

lý trường phổ thông dân lập, tư thục ở TP Hồ Chí Minh”

2.1.2.1 Mục tiêu đề tài

Đánh giá thực trạng phát triển và hoạt động; tổ chức và quản lý các trường phổ thông dân lập, tư thục hiện nay để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp đổi mới về cơ chế và tổ chức quản lý trường phổ thông dân lập, tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; kiến nghị đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo về cơ chế tổ chức và quản lý trường phổ thông NCL

2.1.2.2 Nội dung nghiên cứu, những vấn đề đề tài đã giải quyết được

- Về lý luận, đề tài đã làm rõ và hệ thống hóa các chủ trương, chính sách, yêu cầu phát triển hệ thống trường phổ thông dân lập, tư thục; làm sáng

tỏ sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước để thực hiện XHHGD

- Phân tích – đánh giá thực trạng phát triển và hoạt động của hệ thống trường phổ thông dân lập, tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Từ

đó, chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế về cơ chế, tổ chức quản lý của trường phổ thông NCL

- Về giái pháp, đề tài đã tập trung hướng nghiên cứu chủ yếu là các giải pháp quản lý của cơ sở giáo dục phổ thông NCL; trên cơ sở nghiên cứu về cơ chế tổ chức quản lý trường phổ thông và các văn bản hiện hành để đề xuất đổi mới cơ chế tổ chức và quản lý của trường phổ thông dân lập, tư thục

Trang 27

2.1.2.3 Những vấn đề đề tài chưa giải quyết được

- Chưa đi sâu nghiên cứu lý luận QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL, nhất là những vấn đề về sự cần thiết QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL; cơ chế, phương thức QLNN gắn với những vấn đề về thị trường dịch vụ giáo dục ; công tác kiểm tra – giám sát của Nhà nước; vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội và cộng đồng

- Đề tài cũng chỉ mới quan tâm khảo sát thực tiễn ở góc độ quản lý vi

mô, đó là lĩnh vực tổ chức quản lý nhà trường phổ thông NCL (thuộc về lĩnh vực quản lý của đơn vị sự nghiệp, chưa phải là QLNN đối với hệ thống giáo dục) Chưa xem xét việc phát triển và thực trạng hoạt động QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL

- Đề tài đã đề ra các giải pháp nhưng chỉ mới tập trung chủ yếu về cơ cấu tổ chức và lĩnh vực quản lý của nhà trường (quản lý đơn vị sự nghiệp), chưa đề cập đến những giải pháp về QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL gắn với đặc trưng của loại hình và điều kiện thực tiễn KT – XH địa phương

2.1.3 Công trình nghiên cứu do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm

đề tài: “Luận cứ khoa học cho việc đề xuất chủ trương, chính sách phát

triển giáo dục phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và đầy đủ”

Đây là một công trình nghiên cứu tập thể do bà Nguyễn Thị Bình (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Phó Chủ tịch nước) làm chủ nhiệm, được sự tài trợ của Quỹ Hòa bình Thế gới, tập hợp trí tuệ và thành quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, các chuyên gia quản lý giáo dục; với nhiều tiểu

đề tài nghiên cứu về chủ trương, chính sách phát triển giáo dục, bao gồm cả lĩnh vực phát triển và quản lý giáo dục NCL; giáo dục trong cơ chế thị trường trước yêu cầu đổi mới và thực hiện CNH, HĐH đất nước trong thời kỳ mở

cửa và hội nhập quốc tế

Trang 28

- Phân tích, đánh giá thực trạng; nhận diện cơ hội và thách thức Từ đó,

đề xuất những vấn đề liên quan đến chủ trương cải cách giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục phù hợp với cơ chế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế

và nhất là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

2.1.3.2 Nội dung nghiên cứu, những vấn đề đề tài đã giải quyết được

- Nghiên cứu lý luận về các khái niệm và những vấn đề có tính quy luật đối với giáo dục, về sự phát triển của giáo dục thế giới trong thế kỷ XX, dự báo xu thế phát triển giáo dục thế giới trong thế kỷ XXI

- Khảo sát, phân tích và phát hiện một số vấn đề từ thực trạng phát triển giáo dục, xác định yêu cầu đối với giáo dục nhằm phục vụ phát triển KT –

XH trong giai đoạn mới theo yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế

+ Nghiên cứu thực trạng giáo dục Mầm non, giáo dục Phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục Đại học; chỉ ra những mặt được, những mặt chưa được; phân tích nguyên nhân cơ bản của những bất cập trong lĩnh vực phát triển và QLNN đối với giáo dục Việt Nam, nhất là những vấn đề về phát triển và QLNN đối với giáo dục NCL

+ Phân tích cơ hội, thách thức, yêu cầu đang đặt ra đối với giáo dục; thuận lợi, khó khăn đối với phát triển giáo dục Trong đó, đề tài nghiên cứu đã dành khá nhiều nội dung để phân tích về: Cơ chế thị trường – Vai trò của Nhà nước và tư nhân, QLNN đối với giáo dục NCL (Mầm non, Phổ thông, Đại học Trong đó, phần viết về QLNN đối với Đại học tư thục là chủ yếu)

Trang 29

- Nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm quốc tế về phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa

- Bàn luận và đề xuất định hướng, chính sách phát triển giáo dục; yêu cầu và cơ chế quản lý giáo dục phù hợp cơ chế thị trường định hướng XHCN Trong đó, về giáo dục phổ thông, đề tài đã đề ra yêu cầu đổi mới tư duy với quan niệm về phát triển: “Thống nhất trong đa dạng”, công khai và minh bạch phải là yêu cầu quan trọng trong hoạch định chính sách và hoạt động QLNN

Đề tài cũng đã quan tâm xác định trách nhiệm QLNN của trung ương, các ngành, địa phương các cấp đối với giáo dục theo nguyên tắc quản lý ngành kết hợp với quản lý lãnh thổ – địa phương; nhấn mạnh yêu cầu phải tuân theo quy luật thị trường (quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị) – kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp dưới mọi hình thức; khai thác, huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực cho phát triển giáo dục; gắn kết đầu tư phát triển hệ thống giáo dục với phát triển KT –

XH Đề ra các giải pháp chiến lược cho giáo dục Việt Nam trong thời kỳ mới

2.1.3.3 Những vấn đề đề tài chưa giải quyết được

- Đề tài nghiên cứu khá rộng, bao quát nhiều lĩnh vực của giáo dục và của các ngành học, bậc học Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là chủ trương, chính sách phát triển hệ thống giáo dục Việt Nam nên chưa có điều kiện đi sâu những vấn đề lý luận QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL gắn với phân cấp quản lý và điều kiện thực tiễn về KT – XH của các vùng – miền

- Việc nghiên cứu, khảo sát – đánh giá thực trạng, phát hiện vấn đề còn thiên về lĩnh vực giáo dục Đại học NCL là chủ yếu, phần nghiên cứu thực tiễn QLNN đối với giáo dục phổ thông NCL còn ít

- Về giái pháp, đề tài nghiên cứu tập trung đề ra các giải pháp chiến lược – có tính chất vĩ mô ở tầm quốc gia đối với nền giáo dục Việt Nam; chưa

đi sâu vào những vấn đề QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL, nhất

là những vấn đề về vai trò Nhà nước và các cấp QLNN địa phương, yêu cầu

Trang 30

QLNN, năng lực QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL và những vấn đề về thể chế, chính sách, cơ chế và phương thức QLNN đối với giáo dục phổ thông NCL gắn với điều kiện thực tiễn của địa phương có những đặc thù

về KT – XH như vùng Tây Nguyên

2.1.4 TS Lưu Xuân Mới (chủ nhiệm đề tài): “Công tác thanh tra

giáo dục đối với trường phổ thông ngoài công lập” (Báo cáo kết quả nghiên

cứu đề tài khoa học – công nghệ cấp Bộ - Mã số: B 2001 – 53 – 04)

2.1.4.1 Mục tiêu đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực trạng, đề xuất những giải pháp thanh tra giáo dục đối với các trường phổ thông NCL phù hợp, có tính khả thi và có giá trị phổ biến vào thực tiễn QLNN đối với các loại hình trường này nhằm góp phần tích cực vào việc tổ chức, quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục của hệ thống trường phổ thông NCL

2.1.4.2 Nội dung nghiên cứu, những vấn đề đề tài đã giải quyết được

- Làm rõ đặc trưng của các loại hình, xu hướng phát triển hệ thống trường phổ thông NCL;

- Cơ sở khoa học của thanh tra giáo dục đối với các trường phổ thông NCL: cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn;

- Nghiên cứu thực trạng, phân tích một số mâu thuẫn cơ bản, một số vấn đề bức xúc về tổ chức và quản lý các loại hình trường phổ thông NCL;

- Đề xuất được một số giải pháp thanh tra giáo dục đối với hệ thống trường phổ thông NCL như: đổi mới quan niệm và cách tiến hành thanh tra, kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực thanh tra giáo dục phù hợp với thực tiễn XHHGD; tăng cường chỉ đạo và nâng cao nhận thức cho các cấp lãnh đạo – quản lý, thanh tra viên, cán bộ quản lý trường học về vị trí, vai trò của công tác thanh tra giáo dục đối với các trường phổ thông NCL

Trang 31

2.1.4.3 Những vấn đề đề tài chưa giải quyết được

Đề tài chỉ mới đi vào nghiên cứu một lĩnh vực tương đối hẹp trong các chức năng QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL, đó là lĩnh vực thanh tra, kiểm tra – kiểm soát của cơ quan QLNN chuyên ngành Mặt khác, các giải pháp đề ra chỉ mới tập trung vào việc tăng cường chỉ đạo, nâng cao nhận thức, năng lực và kiện toàn bộ máy để thực hiện tốt hơn công tác thanh tra đối với các trường phổ thông NCL

Đề tài chưa quan tâm phân tích các yếu tố thị trường, sự phát triển xã hội công dân và những yêu cầu cơ bản của đổi mới quản lý giáo dục để chỉ ra được phương thức phù hợp, những giải pháp đổi mới công tác kiểm tra – kiểm soát nhà nước gắn với phát huy vai trò của cộng đồng và các tổ chức xã hội tham gia giám sát hoạt động của trường NCL trong tiến trình XHHGD

Nhìn chung, từ tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan mật thiết đến đề tài nghiên cứu của luận án, ở những góc độ và mức độ khác nhau, các đề tài nghiên cứu nêu trên đã làm rõ được: chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về XHHGD; yêu cầu và xu hướng đa dạng hóa loại hình trường, tăng cường thu hút các nguồn lực trong xã hội tham gia phát triển hệ thống giáo dục phổ thông; tình hình phát triển hệ thống trường phổ thông NCL ở một số địa bàn, vai trò và vị trí của hệ thống trường phổ thông NCL; làm rõ yếu tố thị trường dịch vụ giáo dục NCL và chỉ ra một số bất cập trong cơ chế quản lý giáo dục hiện nay; chỉ ra những tồn tại và khiếm khuyết, những bức bách của công tác QLNN Ở các cấp độ khác nhau, các đề tài cũng

đã nêu được một số hạn chế trong phát triển và hoạt động của hệ thống trường phổ thông NCL; đề ra một số giải pháp cho phát triển, điều chỉnh chính sách, tăng cường công tác tổ chức và quản lý trường phổ thông NCL (chủ yếu là quản lý của đơn vị sự nghiệp giáo dục)

Tuy nhiên, trong các đề tài nghiên cứu đi trước vẫn chưa có công trình chuyên sâu nghiên cứu một cách toàn diện hơn về lĩnh vực lý luận QLNN đối

Trang 32

với hệ thống trường phổ thông NCL; chưa đi sâu nghiên cứu thực trạng QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL trong điều kiện đặc thù KT –

XH các tỉnh vùng Tây Nguyên; chưa đề ra được những giải pháp QLNN một cách đồng bộ và khả thi nhằm đảm bảo công bằng xã hội gắn với thực hiện chính sách dân tộc, thực hiện các mục tiêu về phổ cập giáo dục trong quá trình phát triển và QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL phù hợp với địa bàn có nhiều đặc thù như Tây Nguyên

2.2 Những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu – giải quyết

Trong hệ thống cơ sở giáo dục, trường phổ thông NCL là một loại hình thuộc lĩnh vực dịch vụ công cộng cơ bản mà Nhà nước phải có trách nhiệm cung ứng và quản lý Mặt khác, QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL vẫn là một lĩnh vực quản lý có những đặc thù vì hoạt động của trường phổ thông NCL chủ yếu chịu sự quản lý của các cơ quan QLNN ở địa phương; chịu nhiều ảnh hưởng từ những đặc thù KT – XH địa phương và những tác động của cơ chế thị trường

Với một vùng lãnh thổ có vị trí chiến lược khá quan trọng và cũng đang tiềm ẩn một số vấn đề chính trị – xã hội tương đối nhạy cảm như Tây Nguyên, đòi hỏi lĩnh vực hoạt động QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL cần được xem xét thấu đáo và toàn diện

Chính vì vậy, trên cơ sở chọn lọc và kế thừa kết quả của một số đề tài nghiên cứu đi trước, đề tài luận án này sẽ tập trung nghiên cứu – giải quyết các vấn đề chủ yếu như sau:

2.2.1 Nghiên cứu lý luận về QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL

- Từ các cách tiếp cận khác nhau để đi đến khái niệm về trường phổ thông NCL và chỉ ra những đặc trưng của loại hình Làm rõ những vấn đề về

lý luận QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL

Trang 33

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận QLNN nói chung, QLNN đối với giáo dục trong xu thế đổi mới cung ứng và quản lý DVC trước những tác động của yếu tố thị trường dịch vụ giáo dục để chỉ ra được sự cần thiết QLNN, cơ sở pháp lý, nội dung và yêu cầu QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL theo quan niệm hành chính công mới, yêu cầu quản trị hiệu quả và sự tiếp cận yêu cầu phát triễn xã hội dân sự – xã hội công dân

- Nghiên cứu thực tiễn quản lý đối với giáo dục NCL của các nước trên thế giới để đúc rút những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL

2.2.2 Khảo sát – đánh giá thực trạng QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL trên địa bàn Tây Nguyên

Thông qua khảo sát, phân tích tình hình phát triển và hoạt động của hệ thống trường phổ thông NCL trên địa bàn Tây Nguyên để đánh giá đúng thực trạng QLNN, chỉ ra nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan của những hạn chế – bất cập trong hoạt động QLNN đối với hệ thống này Trong

đó, chú ý phát hiện những vấn đề về nhận thức và năng lực QLNN; về thể chế, chính sách, cơ chế và phương thức QLNN; về thủ tục cấp phép và việc kiểm soát của Nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông NCL

2.2.3 Nghiên cứu và đề xuất định hướng phát triển, các nhóm giái pháp nâng cao hiệu lực và hiệu quả QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL của các tỉnh vùng Tây Nguyên

Trên cơ sở xác định định hướng phát triển hệ thống trường phổ thông NCL vùng Tây Nguyên, yêu cầu QLNN đối với hệ thống này trong giai đoạn mới, đề tài luận án sẽ tập trung nghiên cứu – đề xuất các nhóm giải pháp QLNN có tính chất đồng bộ và khả thi để thiết thực góp phần nâng cao hiệu lực – hiệu quả QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn 2011 – 2020 và những năm tiếp theo

Trang 34

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP 1.1 TRƯỜNG PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP

Giáo dục Việt Nam từ đầu thời kỳ đổi mới đã có chính sách XHHGD,

đa dạng hóa loại hình trường lớp Trên cơ sở đó, từ những năm đầu thập kỷ

1990, một số trường NCL, bao gồm trường dân lập, trường bán công được thành lập Sau năm 2001, còn có thêm loại hình trường tư thục Hiện nay, Nhà nước đã có chủ trương không duy trì loại hình trường bán công

1.1.1 Một số cách tiếp cận về trường phổ thông NCL

1.1.1.1 Tiếp cận hệ thống

a) Tiếp cận theo bậc học: Trường phổ thông NCL là cơ sở giáo dục chính quy thuộc các bậc học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân

Trên thế giới, có 2 cách hiểu chủ yếu về hệ thống giáo dục phổ thông:

Một số nước quan niệm giáo dục phổ thông (K – 12: Kindergarten –

class 12) là từ bậc học mầm non (mẫu giáo) đến bậc trung học (đến lớp 12)

Trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, giáo dục phổ thông chỉ bao gồm 2 bậc: tiểu học và trung học, riêng bậc trung học được chia làm 2 cấp: THCS và THPT

Các bậc học phổ thông Việt Nam tương ứng với bậc 1, bậc 2 và bậc 3

trong Hệ thống phân loại theo chuẩn quốc tế ISCED (International Standart

Classification of Education) do UNESCO ban hành (hoàn thiện năm 1997)

Trường phổ thông là cơ sở giáo dục chính quy, bao gồm: trường tiểu học, trường trung học sơ sở, trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học (từ lớp 1 đến lớp 9 – thường được gọi là trường phổ thông cơ sở; từ lớp 1 đến lớp 12, hoặc từ lớp 6 đến lớp 12)

Trang 35

Sơ đồ 1.1: Cơ sở giáo dục phổ thông trong Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

(Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo 2009)

Giáo dục phổ thông là một trong những lĩnh vực dịch vụ công cộng cơ bản, Nhà nước phải có trách nhiệm cung ứng và quản lý nhằm đảm bảo lợi ích

xã hội theo các mục tiêu phổ cập giáo dục, nâng cao dân trí và tạo nguồn đào tạo nhân lực cho các địa phương và đất nước

Trường phổ thông thực hiện chương trình, mục tiêu giáo dục các bậc

học phổ thông Mục tiêu của giáo dục phổ thông Việt Nam là: “giúp học sinh

phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [50]

b) Tiếp cận theo loại hình

Với tư duy mới về cung ứng DVC, hệ thống cung cấp dịch vụ giáo dục cho xã hội có các chủ thể cung cấp dịch vụ giáo dục khác nhau

Trang 36

Căn cứ hình thức sở hữu và vốn đầu tư: Tùy thuộc vào thể chế kinh tế của quốc gia mà các hình thức sở hữu khác nhau ra đời Đa số chia làm sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân và do đó có hai loại hình trường phổ biến ở

nhiều nước: trường công và trường tư (Public school, private school) Với

cách tiếp cận này, tên gọi trường NCL ở nhiều nước và ở Việt Nam tuy có khác nhau, nhưng thực chất cũng chỉ là một cách phân loại trường

Nhiều nước gọi là trường tư nhằm phân biệt với trường công; hoặc có nước gọi là trường độc lập, nghĩa là trường không phụ thuộc vào ngân sách nhà nước dành cho giáo dục

Đối với Việt Nam, với quan niệm cải cách DVC, trong quá trình XHHGD, không chỉ có Nhà nước mà các chủ thể ngoài nhà nước (cộng đồng, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, cá nhân hoặc nhóm cá nhân) được Nhà nước cho phép thành lập trường, đầu tư và hoạt động giáo dục Từ đó hình thành các loại hình trong hệ thống trường NCL

- Từ 1990 đến năm 2005, hệ thống các trường với các tiêu chí trên được chia thành: Trường công lập (do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng

cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên), trường NCL với các loại hình bán công, dân lập, tư thục (sau khi có Luật Giáo dục – 1998) [4, Điều 4]:

+ Trường bán công: “là trường do Nhà nước thành lập trên cơ sở tổ

chức nhà nước phối hợp với các tổ chức không phải tổ chức nhà nước, thuộc mọi thành phần kinh tế hoặc với các cá nhân cùng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất theo một trong hai phương thức sau: thành lập mới, chuyển toàn bộ hoặc một phần cơ sở vật chất từ trường công lập sang bán công.”

+ Trường dân lập:“là trường do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề

nghiệp, tổ chức kinh tế xin phép thành lập, tự đầu tư bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước và huy động các nhà giáo, nhà khoa học, nhà đầu tư cùng đóng góp công sức, kinh phí và cơ sở vật chất để xây dựng trường.”

Trang 37

+ Trường tư thục:“là trường do cá nhân hay một nhóm cá nhân xin

phép thành lập và tự đầu tư.”

- Đến năm 2005 có sự điều chỉnh, loại hình bán công không còn được duy trì, hệ thống trường NCL chỉ bao gồm trường dân lập, trường tư thục

Đối với giáo dục phổ thông Việt Nam, từ năm 2009, thực hiện Thông

tư số: 11/2009/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạovà các điều lệ trường học hiện hành, các trường trong các bậc học phổ thông Việt Nam chỉ còn được tổ chức theo 02 loại hình: công lập, tư thục [8, Điều 4], [9, Điều 5], [50]

1.1.1.2 Tiếp cận thị trường dịch vụ và yêu cầu XHH

a) Trường NCL được hình thành, phát triển trên cơ sở Việt Nam tiếp cận kinh tế thị trường, sự đổi mới của Nhà nước về cung ứng DVC và thực hiện tiến trình XHHGD

Với sự thay đổi về thể chế kinh tế, kinh tế thị trường nói chung và kinh

tế thị trường theo định hướng XHCN nói riêng thừa nhận nhiều thành phần kinh tế Trên cơ sở đó, Việt Nam có nhiều chủ thể cung cấp dịch vụ cũng như sản xuất, kinh doanh hàng hóa

Thay đổi tư duy về hoạt động cung cấp dịch vụ: Nhà nước chuyển từ hoạt động mang tính độc quyền, sang hoạt động QLNN hướng tới khai thác khả năng của nhiều thành phần kinh tế; có chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các đơn vị sự nghiệp cung ứng DVC

Ở nước ta, vấn đề thị trường dịch vụ giáo dục còn ít được nghiên cứu

Mới đây, đề tài cấp Nhà nước “Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh

tế thị trường và trước nhu cầu hội nhập quốc tế” do PGS TS Trần Quốc

Toản (2010) làm chủ nhiệm, là một trong những công trình khoa học nghiên

cứu – giải đáp một cách toàn diện những vấn đề cơ bản về mối quan hệ giữa

giáo dục và thị trường trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn

Trang 38

b) Trong tiến trình đổi mới cung ứng DVC trong lĩnh vực giáo dục, trường NCL là một nhân tố quan trọng, chủ lực trong việc hình thành thị trường dịch vụ giáo dục – một loại hình dịch vụ đặc biệt; không chỉ mang lại lợi ích cho người học mà cả gia đình, cộng đồng và cả xã hội Do vậy, cần tăng cường trách nhiệm Nhà nước vì giáo dục vẫn là lợi ích công

Thông qua hoạt động của trường NCL dưới sự quản lý của Nhà nước, chủ thể thành lập trường NCL cung ứng dịch vụ có thu tiền dưới hình thức học phí Ở các cấp độ khác nhau, phần lớn các chủ thể đầu tư thành lập trường phổ thông NCL vừa hướng đến mục tiêu lợi nhuận vừa phải đảm bảo yêu cầu

về chất lượng dịch vụ giáo dục theo quy định của Nhà nước Trên thực tế hiện nay, với các chính sách ưu đãi – khuyến khích của Nhà nước, đầu tư thành lập trường NCL là một lĩnh vực đầu tư tương đối hấp dẫn

c) Trường NCL tồn tại và phát triển trong thị trường dịch vụ, chịu tác động – chi phối bởi các quy luật của cơ chế thị trường Thị trường sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh theo đúng nghĩa nhất, tạo cơ hội cho người học được lựa chọn trường phù hợp nhu cầu và điều kiện của mình

Với các cơ sở nêu trên, có thể kết luận sự ra đời các chủ thể cung cấp dịch vụ giáo dục NCL là tất yếu Mặt khác, với sự tồn tại đồng thời nhiều chủ thể cung cấp dịch vụ giáo dục mang tính cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường thì vai trò và trách nhiệm quản lý của Nhà nước là đặc biệt quan trọng 1.1.2 Đặc điểm, khái niệm trường phổ thông NCL

1.1.2.1 Một số đặc điểm của trường phổ thông NCL trong mối tương quan so sánh với trường công lập

a) Về hình thức sở hữu, vốn đầu tư

- Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên Trường phổ thông công lập hoạt động nhằm phục vụ lợi ích cộng đồng và xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận

Trang 39

- Trường phổ thông NCL được Nhà nước cho phép thành lập; do cộng đồng, tổ chức ngoài nhà nước hoặc cá nhân tự đảm bảo kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước Chủ thể đầu tư thành lập trường phổ thông NCL (phần lớn là theo cơ chế hoạt động vì lợi nhuận) thông qua việc cung ứng dịch vụ giáo dục, ở các cấp độ khác nhau đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận với tính chất là hoạt động đầu tư

b) Về tổ chức, đội ngũ giáo viên

- Ngoài việc bảo đảm các yêu cầu về cơ cấu tổ chức quy định trong các

điều lệ nhà trường phổ thông, trường phổ thông NCL còn có Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Đại hội đồng thành viên góp vốn [10, Điều 7]

+ Hội đồng quản trị là tổ chức quản lý và là tổ chức đại diện duy nhất cho quyền sở hữu của trường (nếu có từ hai thành viên góp vốn trở lên) Trường phổ thông NCL chỉ do một cá nhân hoặc tổ chức (gọi chung là Nhà đầu tư) đầu tư toàn bộ kinh phí thì không có Hội đồng quản trị

+ Ban Kiểm soát do Hội đồng quản trị thành lập, trong đó có đại diện những người góp vốn, giáo viên và nhân viên, đại diện cha mẹ học sinh Ban Kiểm soát có các quyền và nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các hoạt động của nhà trường, Hội đồng quản trị, Ban Giám hiệu và các tổ chức trong trường

- Về đội ngũ giáo viên, Nhà nước quy định tỷ lệ giáo viên cơ hữu của trường phổ thông NCL so với tổng số giáo viên theo quy định đối với từng cấp học: Trường tiểu học NCL phải có 100% giáo viên cơ hữu, trường NCL cấp THCS và cấp THPT phải có ít nhất 40% giáo viên cơ hữu [10, Điều 16]

c) Về cơ chế hoạt động

Trường NCL có thể hoạt động theo cơ chế lợi nhuận hoặc cơ chế phi lợi nhuận Theo cơ chế lợi nhuận thì lợi nhuận có thể chia cho các cá nhân và phải chịu thuế

Theo nhận định của GS Phạm Phụ, ngày nay hệ thống trường NCL của nhiều nước phân biệt tương đối rõ giữa các cơ chế hoạt động “lợi nhuận”,

Trang 40

“phi lợi nhuận”; không thiên về cách gọi “công”, “tư” theo quyền sở hữu nữa

mà gọi theo cơ chế vận hành và việc phân biệt giữa “vì lợi nhuận” hay “không

vì lợi nhuận” còn quan trọng hơn là phân biệt giữa “công” và “tư”

- Loại hình “vì lợi nhuận” (for – profit): Trường vì lợi nhuận thường

hoạt động theo cơ chế của một công ty, mục đích là đem lại lợi nhuận cao nhất cho các cổ đông, toàn bộ ngân sách của trường dựa vào học phí và một

số nguồn thu khác từ hoạt động dịch vụ phục vụ học sinh trong nhà trường

- Loại hình “không vì lợi nhuận” (not for – profit): (1) Không chia lợi nhuận cho một ai; (2) Không có chủ sở hữu, có thể nói tài sản ở đây là thuộc

sở hữu cộng đồng, nguồn vốn chủ yếu là từ cho tặng, học phí và (3) Thường

được quản trị bởi một Hội đồng đại diện cho những nhóm có lợi ích liên quan

Ngoài 2 loại hình chủ yếu nêu trên, ở một số nước khác còn có thêm

các loại hình “nửa vì lợi nhuận” (semi for – profit) hay có “mức lợi nhuận thích hợp” (approriate profit) như ở nhiều nước của châu Á; loại hình “trường công – tư phối hợp” (Semi public, PPP: Public – Private Partnership) Ngày nay, trên thế giới còn có “trường có liên quan đến nhà nước” (State – related)

như ở Hoa Kỳ, nhà nước thường cung cấp khoảng 50% kinh phí, cũng có thể

gọi là “bán công” – trường có tài trợ công nhưng “vận hành tư” [49]

Từ khảo sát và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, Ngân hàng Thế giới (WB) vẫn khuyến khích các nước thành lập các trường công – tư phối hợp

1.1.2.2 Khái niệm trường phổ thông NCL

Từ các cách tiếp cận và một số đặc điểm nêu trên, có thể trình bày khái

niệm về trường phổ thông NCL ở Việt Nam như sau: “Trường phổ thông

NCL là cơ sở giáo dục chính quy trong hệ thống giáo dục phổ thông, thuộc loại hình tư thục; do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc cộng đồng dân cư đầu tư xây dựng, tự bảo đảm kinh phí hoạt động; được Nhà nước cho phép thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật và theo sự phân cấp quản lý của Nhà nước”

Ngày đăng: 28/01/2014, 23:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1:    Hiện tượng tán sắc ánh sáng trắng khi đi qua lăng kính, - Quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập vùng tây nguyên
Hình 1.1 Hiện tượng tán sắc ánh sáng trắng khi đi qua lăng kính, (Trang 71)
Sơ đồ 1.2:  Sơ đồ biểu thị các thành tố cơ bản trong môi trường hoạt động - Quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập vùng tây nguyên
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ biểu thị các thành tố cơ bản trong môi trường hoạt động (Trang 72)
BẢNG 2.1    SỐ LIỆU VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRƯỜNG NCL           BẬC TRUNG HỌC CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN 2000 – 2010 - Quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập vùng tây nguyên
BẢNG 2.1 SỐ LIỆU VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRƯỜNG NCL BẬC TRUNG HỌC CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN 2000 – 2010 (Trang 99)
BẢNG 2.2:     MÔ HÌNH TRƯỜNG PHỔ THÔNG BÁN CÔNG - Quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập vùng tây nguyên
BẢNG 2.2 MÔ HÌNH TRƯỜNG PHỔ THÔNG BÁN CÔNG (Trang 102)
BẢNG 2.3:   TỔNG HỢP Ý KIẾN VỀ CÔNG TÁC QUY HOẠCH, - Quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập vùng tây nguyên
BẢNG 2.3 TỔNG HỢP Ý KIẾN VỀ CÔNG TÁC QUY HOẠCH, (Trang 109)
BẢNG 2.4:     TỔNG HỢP Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ – NHẬN XÉT - Quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập vùng tây nguyên
BẢNG 2.4 TỔNG HỢP Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ – NHẬN XÉT (Trang 113)
BẢNG 2.6:      TỔNG HỢP Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ VỀ CƠ CHẾ - Quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập vùng tây nguyên
BẢNG 2.6 TỔNG HỢP Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ VỀ CƠ CHẾ (Trang 117)
BẢNG 2.7:    TỔNG HỢP Ý KIẾN VỀ LOẠI HÌNH TRƯỜNG - Quản lý nhà nước đối với hệ thống trường phổ thông ngoài công lập vùng tây nguyên
BẢNG 2.7 TỔNG HỢP Ý KIẾN VỀ LOẠI HÌNH TRƯỜNG (Trang 119)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w