1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Phân tích tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu.

12 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 378,38 KB
File đính kèm 7. VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC.pdf.zip (357 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC Nguyễn Đình Chiểu DÀN Ý: Phân tích tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu. I. MỞ BÀI Giới thiệu về Nguyễn Đình Chiểu: Là đại biểu tiêu biểu nhất của văn học yêu nước cuối thế kỉ XIX. Trước Nguyền Đình Chiểu, có lẽ chưa có một nhà thơ nào sáng tác với một ý thức rõ rệt như ông: Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. Cái đạo của ông không là gì khác ngoài đạo yêu nước thương dân. Đó là nguồn gốc khiến thơ văn ông có sức rung cảm lớn, nguồn gốc đưa tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu đứng vào vị trí vẻ vang trong nền văn học nước nhà. Ông xứng đáng là một “ngôi sao sáng trên bầu trời văn học dân tộc” và là ngôi sao có ánh sáng khác thường, “càng nhìn càng thấy sáng” (Phạm Văn Đồng). Giới thiệu về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Bài văn tế là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc và làm nổi bật bức tượng đài sừng sững về người nông dân yêu nước. II. THÂN BÀI 1. Khái quát 1.1.Thể loại: Văn tế là một loại văn gắn với phong tục tang lễ, thường dùng để tế cúng nhằm bày tỏ sự thương tiếc đối với người đã mất. Văn tế thường có hai nội dung cơ bản là kể về cuộc đời, công đức, phẩm hạnh của người đã khuất và bày tỏ nỗi đau thương của người sống trong giờ phút âm dương vĩnh biệt. Vì vậy, âm hưởng chung của các bài văn tế là rất bi thương. Bài văn tế thường có bốn phần: Lung khởi là luận chung về lẽ sống chết, Thích thực là hồi tưởng về người chết, Ai vãn than tiếc người chết và phần kết bày tỏ lòng tiếc thương và cầu nguyện của người cúng tế. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc viết theo thể phú Đường luật và cũng có đủ bốn phần như vậy. 1.2. Hoàn cảnh ra đời: Năm 1859 giặc Pháp tràn vào sông Bến Nghé chiếm thành Gia Định, ông phải vào quê vợ ở Thanh Ba, Cần Giuộc lánh tạm. Về phía thực dân Pháp sau khi chiếm được thành Gia Định chúng bắt đầu thực hiện quá trình mở rộng cuộc tấn công ra các vùng lân cận. Cần Giuộc chẳng mấy chốc đã bị giặc Pháp tràn đến. Những người nông dân áo vải, chân lấm, tay bùn đã đứng dậy đấu tranh. Họ gia nhập nghĩa binh, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Trong số họ nhiều nghĩa sĩ đã hi sinh oanh liệt. Những tấm gương hi sinh đó đã gây nên niềm cảm kích lớn trong nhân dân. Đỗ Quang, tuần phủ Gia Định giao cho Nguyễn Đình Chiểu làm bài văn tế đọc tại buổi truy điệu hơn hai mươi nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đêm ngày 16121861. Với lòng cảm phục và tình cảm xót thương vô hạn, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. 1.3. Nội dung chính: Bài văn tế không những thể hiện được tình cảm xót thương vô hạn của tác giả và của nhân dân đối với các nghĩa sĩ cần Giuộc mà còn khắc họa lên vẻ đẹp chân thực, bi tráng mà rất đỗi hào hùng của những người nông dân yêu nước đánh Tây. 1.4. Bố cục: Bài văn tế gồm bốn phần: Lung khởi, thích thực, ai vãn và kết. + Lung khởi: Tiếng khóc ban đầu mang ý nghĩa khái quát cả bài + Thích thực: Hồi tưởng về người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc + Ai vãn: Than khóc, tiếc thương và cảm phục trước sự hi sinh của người nghĩa sĩ + Phần kết: Ca ngợi công đức của người nghĩa sĩ và nêu rõ trách nhiệm của người còn sống 2. Lung khởi: Tiếng khóc ban đầu mang ý nghĩa khái quát cả bài “Hỡi ôi”: Câu cảm thán thể hiện niềm tiếc thương chân thành, thiết tha, thương tiếc. Đây là cách mở đầu quen thuộc trong các bài văn tế (Hỡi ôi, than ôi). Tiếng than vang lên mà nghe sao đau thương đến thế. Tiếng than ấy là để dẫn vào một cảnh tang thương chết chóc là cảnh chiến tranh tàn khốc với những người đã bị tử trận trên chiến trường. Khái quát bối cảnh thời đại đầy biến động, bão táp: Tình thế vô cùng căng thẳng: + “ Súng giặc đất rền”: sự tàn phá nặng nề, giặc xâm lược bằng vũ khí tối tân + “Lòng dân trời tỏ”: Lòng dân cháy rực chí căm thù. Người nghĩa sĩ đánh giặc bằng tấm lòng yêu quê hương đất nước ⇒ Trời chứng giám + NT đối lập nhằm thể hiện khung cảnh bão táp, biến cố lơn lao của thời đại. Bàn luận về lẽ sống chết: Lời khẳng định tuy thất bại, những người nghĩa sĩ hi sinh nhưng tiếng thơm còn lưu truyền mãi. Nghệ thuật tiểu đối được sử dụng rất thành công đối rất chỉnh, rất chuẩn: Mười năm với một trận, công (vật chất) với nghĩa (tinh thần), chưa ắt còn danh nổi như phao với tuy là mất tiếng vang như mõ đã khẳng định tinh thần quyết tâm đánh giặc, khẳng định người nông dân mười năm làm ruộng không đem lại tiếng tăm gì, chỉ một trận đánh Tây gây tiếng vang, để lại tiếng thơm muôn đời. 2. Thích thực: Hồi tưởng về người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc Bắt đầu sự hồi tưởng bằng cụm từ “Nhớ linh xưa” 2.1. Nguồn gốc xuất thân Từ nông dân nghèo khổ, những dân ấp, dân lân (những người bỏ quê đến khai khẩn đất mới để kiếm sống) + “cui cút làm ăn ”: hoàn cảnh sống cô đơn, thiếu người nương tựa NT tương phản “chưa quen >< chỉ biết, vốn quen >< chưa biết. ⇒ Tác giả nhấn mạnh việc quen và chưa quen của người nông dân để tạo ra sự đối lập về tầm vóc của người anh hùng 2.2. Lòng yêu nước nồng nàn Khi TD Pháp xâm lược người nông dân cảm thấy: Ban đầu lo sợ ⇒ trông chờ tin quan ⇒ ghét ⇒ căm thù ⇒ đứng lên chống lại. ⇒ Diễn biến tâm trạng người nông dân, sự chuyển hóa phi thường trong thái độ Thái độ đối với giặc: căm ghét, căm thù đến tột độ

Trang 1

1

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

- Nguyễn Đình Chiểu- DÀN Ý: Phân tích tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu

I MỞ BÀI

- Giới thiệu về Nguyễn Đình Chiểu: Là đại biểu tiêu biểu nhất của văn học yêu nước

cuối thế kỉ XIX Trước Nguyền Đình Chiểu, có lẽ chưa có một nhà thơ nào sáng tác với một ý thức rõ rệt như ông:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

Cái đạo của ông không là gì khác ngoài đạo yêu nước thương dân Đó là nguồn gốc khiến thơ văn ông có sức rung cảm lớn, nguồn gốc đưa tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu đứng vào vị trí vẻ vang trong nền văn học nước nhà Ông xứng đáng là một “ngôi sao sáng trên bầu trời văn học dân tộc” và là ngôi sao có ánh sáng khác thường, “càng nhìn càng thấy sáng” (Phạm Văn Đồng)

- Giới thiệu về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Bài văn tế là tiếng khóc bi tráng cho một

thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc và làm nổi bật bức tượng đài sừng sững

về người nông dân yêu nước

II THÂN BÀI

1 Khái quát

1.1.Thể loại: Văn tế là một loại văn gắn với phong tục tang lễ, thường dùng

để tế cúng nhằm bày tỏ sự thương tiếc đối với người đã mất Văn tế thường có hai nội dung

cơ bản là kể về cuộc đời, công đức, phẩm hạnh của người đã khuất và bày tỏ nỗi đau thương của người sống trong giờ phút âm dương vĩnh biệt Vì vậy, âm hưởng chung của

các bài văn tế là rất bi thương Bài văn tế thường có bốn phần: Lung khởi là luận chung về

lẽ sống chết, Thích thực là hồi tưởng về người chết, Ai vãn than tiếc người chết và phần kết

bày tỏ lòng tiếc thương và cầu nguyện của người cúng tế Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc viết theo thể phú Đường luật và cũng có đủ bốn phần như vậy

1.2 Hoàn cảnh ra đời: Năm 1859 giặc Pháp tràn vào sông Bến Nghé chiếm thành

Gia Định, ông phải vào quê vợ ở Thanh Ba, Cần Giuộc lánh tạm Về phía thực dân Pháp sau khi chiếm được thành Gia Định chúng bắt đầu thực hiện quá trình mở rộng cuộc tấn công ra các vùng lân cận Cần Giuộc chẳng mấy chốc đã bị giặc Pháp tràn đến Những người nông dân áo vải, chân lấm, tay bùn đã đứng dậy đấu tranh Họ gia nhập nghĩa binh, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn Trong số họ nhiều nghĩa sĩ đã hi sinh oanh liệt Những tấm gương hi sinh đó đã gây nên niềm cảm kích lớn trong nhân dân Đỗ Quang, tuần phủ Gia Định giao cho Nguyễn Đình Chiểu làm bài văn tế đọc tại buổi truy điệu hơn hai mươi nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đêm ngày 16-12-1861 Với lòng cảm phục và tình cảm xót

thương vô hạn, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Trang 2

2

1.3 Nội dung chính: Bài văn tế không những thể hiện được tình cảm xót thương vô

hạn của tác giả và của nhân dân đối với các nghĩa sĩ cần Giuộc mà còn khắc họa lên vẻ đẹp

chân thực, bi tráng mà rất đỗi hào hùng của những người nông dân yêu nước đánh Tây

1.4 Bố cục: Bài văn tế gồm bốn phần: Lung khởi, thích thực, ai vãn và kết

+ Lung khởi: Tiếng khóc ban đầu mang ý nghĩa khái quát cả bài

+ Thích thực: Hồi tưởng về người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc

+ Ai vãn: Than khóc, tiếc thương và cảm phục trước sự hi sinh của người nghĩa sĩ

+ Phần kết: Ca ngợi công đức của người nghĩa sĩ và nêu rõ trách nhiệm của người còn sống

2 Lung khởi: Tiếng khóc ban đầu mang ý nghĩa khái quát cả bài

- “Hỡi ôi!”: Câu cảm thán thể hiện niềm tiếc thương chân thành, thiết tha, thương

tiếc Đây là cách mở đầu quen thuộc trong các bài văn tế (Hỡi ôi, than ôi) Tiếng than vang lên mà nghe sao đau thương đến thế Tiếng than ấy là để dẫn vào một cảnh tang thương chết chóc là cảnh chiến tranh tàn khốc với những người đã bị tử trận trên chiến trường

- Khái quát bối cảnh thời đại đầy biến động, bão táp: Tình thế vô cùng căng thẳng:

+ “ Súng giặc đất rền”: sự tàn phá nặng nề, giặc xâm lược bằng vũ khí tối tân

+ “Lòng dân trời tỏ”: Lòng dân cháy rực chí căm thù Người nghĩa sĩ đánh giặc bằng tấm lòng yêu quê hương đất nước ⇒ Trời chứng giám

+ NT đối lập nhằm thể hiện khung cảnh bão táp, biến cố lơn lao của thời đại

- Bàn luận về lẽ sống chết: Lời khẳng định tuy thất bại, những người nghĩa sĩ hi sinh

nhưng tiếng thơm còn lưu truyền mãi Nghệ thuật tiểu đối được sử dụng rất thành công đối rất chỉnh, rất chuẩn: Mười năm với một trận, công (vật chất) với nghĩa (tinh thần), chưa ắt còn danh nổi như phao với tuy là mất tiếng vang như mõ đã khẳng định tinh thần quyết tâm đánh giặc, khẳng định người nông dân mười năm làm ruộng không đem lại tiếng tăm

gì, chỉ một trận đánh Tây gây tiếng vang, để lại tiếng thơm muôn đời

2 Thích thực: Hồi tưởng về người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc

- Bắt đầu sự hồi tưởng bằng cụm từ “Nhớ linh xưa”

2.1 Nguồn gốc xuất thân

- Từ nông dân nghèo khổ, những dân ấp, dân lân (những người bỏ quê đến khai khẩn đất mới để kiếm sống)

+ “cui cút làm ăn ”: hoàn cảnh sống cô đơn, thiếu người nương tựa

- NT tương phản “chưa quen >< chỉ biết, vốn quen >< chưa biết

⇒ Tác giả nhấn mạnh việc quen và chưa quen của người nông dân để tạo ra sự đối lập về tầm vóc của người anh hùng

2.2 Lòng yêu nước nồng nàn

- Khi TD Pháp xâm lược người nông dân cảm thấy: Ban đầu lo sợ ⇒ trông chờ tin quan ⇒ ghét ⇒ căm thù ⇒ đứng lên chống lại

⇒ Diễn biến tâm trạng người nông dân, sự chuyển hóa phi thường trong thái độ

- Thái độ đối với giặc: căm ghét, căm thù đến tột độ

Trang 3

3

- Nhận thức về bọn xâm lược: Họ không dung tha những kẻ thù lừa dối, bịp bợm ⇒

họ chiến đấu một cách tự nguyện: “nào đợi đòi ai bắt…”

2.3 Điều kiện chiến đấu

- Vốn không phải lính diễn binh, không phải quân cơ quân vệ, không có mười tám ban võ nghệ, chín chục trận binh thư, chỉ là dân ấp dân lân mà “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”

- Quân trang, vũ khí chiến đấu rất thô sơ: một manh áo vải, ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, rơm con cúi… đã đi vào lịch sử

2.4 Tinh thần chiến đấu hi sinh của người nông dân

- Lập được những chiến công đáng tự hào: “đốt xong nhà dạy đạo”, “chém rớt đầu quan hai nọ”

- Tinh thần chiến đấu tuyệt vời, khí thế chiến đấu mạnh mẽ: “đạp rào”, “xô cửa”,

“liều mình”, “đâm ngang”, “chém ngược”…: động từ mạnh chỉ hành động mạnh mẽ với mật độ cao nhịp độ khẩn trương sôi nổi làm mã tà, ma nó hồn kinh

=> Tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân nghĩa sĩ đánh giặc cứu nước

3 Ai vãn: Than khóc, tiếc thương và cảm phục trước sự hi sinh của người nghĩa sĩ

- Niềm thương tiếc của nhà thơ dành cho những người nghĩa sĩ đã khuất được thể

hiện bằng cụm từ mở đầu “Khá thương thay!” và sau đó là thán từ “Ôi thôi thôi!”

- Đánh giá về sự hi sinh của những người nghĩa sĩ nông dân:

+ Họ không chịu đựng được cảnh bọn giặc quăng vùa hương, xô bàn độc Họ thà chết về với tổ phụ để giữ tinh thần chiến đấu còn hơn phải chấp nhận đầu hàng Tây, ở với bọn man di

+ Tương quan với giặc ta yếu, địch mạnh bởi vậy mà họ đã ngã xuống Họ hi sinh vì tấc đất ngọn rau, của nước nhà, vì bát cơm manh áo ở đời Họ xả thân mà da ngựa bọc thây

mà nào đợi gươm hùm treo mộ Được nói đến một cách hình ảnh với niềm tiếc thương chân thành

- Sự đau đớn tiếc thương được biểu hiện:

+ Hình ảnh gia đình tang tóc, cô đơn, chia lìa, gợi không khí đau thương, buồn bã thể hiện qua hình ảnh mẹ già, vợ trẻ

+ Sự hi sinh của những người nông dân nghĩa sĩ để lại xót thương đau đớn cho tác giả, nhân dân Nam Bộ, nhân dân cả nước và lan tỏa ra cả thiên nhiên tạo vật “Đoái sông Cần Giuộc…”

⇒ Tiếng khóc lớn, tiếng khóc mang tầm vóc lịch sử

⇒ Bút pháp trữ tình, nhịp câu trầm lắng, gợi không khí lạnh lẽo, hiu hắt sau cái chết của nghĩa quân

4 Phần kết: Ca ngợi công đức của người nghĩa sĩ và nêu rõ trách nhiệm của người còn sống

Trang 4

4

- Sang đoạn kết từ “Ôi” xuất hiện bày tỏ lòng xót thương và lời cầu nguyện của

người đứng tế Giọng điệu bi ai trùng xuống đến thống thiết đau buồn

- Tác giả khẳng định: “Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ: Danh tiếng nghìn năm còn lưu mãi, nêu cao tinh thần chiến đấu, xả thân vì nghĩa lớn của nghĩa quân

- Đây là cái tang chung của mọi người, của cả thời đại, là khúc bi tráng về người anh hùng thất thế

- Trách nhiệm của người còn sống: một chữ ấm

- Tiếp tục khóc: Nước mắt anh hùng…

⇒ khẳng định sự bất tử của những người nghĩa sĩ

III KẾT LUẬN

- Khái quát những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công về nội dung của tác phẩm

- Trình bày suy nghĩ bản thân

LUYỆN ĐỀ

Đề bài 1: Phân tích hình tượng người nghĩa sĩ nông dân trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu

I MỞ BÀI

“Sự đời thà khuất đôi tròng thịt Lòng đạo xin tròn một tấm gương”

Đó là hai câu thơ của nhà thơ mù có cuộc đời đầy bất hạnh, nhưng kiên cường vượt qua số phận để lại cho đời sau một tấm gương về nhân cách sống trong sáng đến tuyệt vời Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là nhà thơ, nhà giáo, thầy thuốc, người công dân, người chiến sĩ yêu nước và dù trong tư cách nào ông cũng làm tròn bổn phận và thiên chức của mình Ông là đại biểu tiêu biểu nhất của văn học yêu nước Việt Nam cuối thế kỉ XIX Thơ văn của ông thấm nhuần lý tưởng đạo đức cao đẹp với những con người sống cao đẹp nhân hậu, thủy chung, biết giữ gìn nhân cách ngay thẳng cao cả, dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chiến thắng những thế lực bạo tàn để cứu nhân độ thế Cố thủ tướng Phạm Văn

Đồng đã nhận xét về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu như sau “Trên trời có những

vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì càng thấy sáng” “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" là tác phẩm tiêu biểu

trong sự nghiệp sáng tác của ông Bài văn là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài sừng sững, hùng tráng về những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước

II THÂN BÀI

Trang 5

5

1 Khái quát

1.1.Thể loại: Văn tế là một loại văn gắn với phong tục tang lễ, thường dùng để tế

cúng nhằm bày tỏ sự thương tiếc đối với người đã mất Văn tế thường có hai nội dung cơ bản là kể về cuộc đời, công đức, phẩm hạnh của người đã khuất và bày tỏ nỗi đau thương của người sống trong giờ phút âm dương vĩnh biệt Vì vậy, âm hưởng chung của các bài

văn tế là rất bi thương Bài văn tế thường có bốn phần: Lung khởi là luận chung về lẽ sống chết, Thích thực là hồi tưởng về người chết, Ai vãn than tiếc người chết và phần Kết bày tỏ

lòng tiếc thương và cầu nguyện của người cúng tế Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc viết theo thể phú Đường luật và cũng có đủ bốn phần như vậy

1.2 Hoàn cảnh ra đời: Năm 1859 giặc Pháp tràn vào sông Bến Nghé chiếm thành

Gia Định, ông phải vào quê vợ ở Thanh Ba, Cần Giuộc lánh tạm Về phía thực dân Pháp sau khi chiếm được thành Gia Định chúng bắt đầu thực hiện quá trình mở rộng cuộc tấn công ra các vùng lân cận Cần Giuộc chẳng mấy chốc đã bị giặc Pháp tràn đến Những người nông dân áo vải, chân lấm, tay bùn đã đứng dậy đấu tranh Họ gia nhập nghĩa binh, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn Trong số họ nhiều nghĩa sĩ đã hi sinh oanh liệt Những tấm gương hi sinh đó đã gây nên niềm cảm kích lớn trong nhân dân Đỗ Quang, tuần phủ Gia Định giao cho Nguyễn Đình Chiểu làm bài văn tế đọc tại buổi truy điệu hơn hai mươi nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đêm ngày 16-12-1861 Với lòng cảm phục và tình cảm xót

thương vô hạn, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

2 Hình tượng người nghĩa sĩ nông dân

Hình tượng người nghĩa sĩ nông dân trước đó đã ít nhiều xuất hiện trong văn chương như trong “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi… nhưng phải đến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu thì lần đầu tiên người nghĩa sĩ nông dân đi vào trong tác phẩm văn học với đầy đủ từ dáng vóc, tính cách,

suy nghĩ, cảm xúc và hành động chân thực đến thế

2.1 Xuất thân

Những người nghĩa sĩ đánh giặc ấy, họ sinh ra đâu phải là chàng Gióng Phù Đổng,

Lê Lợi, Quang Trung Họ vốn chỉ là những con người quanh năm khoác trên mình màu

áo nâu của đất, bình dị và lam lũ, chỉ có con trâu là đầu cơ nghiệp Cuộc sống của họ là từ sáng đến tối bán mặt cho đất, bán lưng cho trời quen với việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc

cấy và chật vật với những lo toan nghèo khó Chỉ với một câu văn “Nhớ linh xưa: Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó”, cụ Đồ Chiểu đã vẽ nên vòng đời luẩn quẩn không lối thoát

của người dân Việt Người "dân ấp dân lân" Nam Bộ, cui cút, vật lộn làm ăn để cuối cùng vẫn là nghèo khó Là nông dân của một đất nước nghèo nàn, lạc hậu nên cả đời họ chỉ biết con trâu thửa ruộng mà chưa bao giờ ra khỏi lũy tre làng “chỉ biết con trâu ở trong làng bộ” Cho nên, họ đâu quen những việc “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ", chưa quen chuyện “cung ngựa", "trường nhung" Nhìn chung, trước khi giặc ngoại xâm đến họ vốn chỉ là những người nông dân vô cùng thuần phác sống âm thầm, bình lặng

Trang 6

6

2.2 Là người nông dân yêu nước, căm thù giặc

Nhưng âm thanh của tiếng súng đã phá tan cuộc sống bình thường của họ Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ ra bối cảnh thời đại với nhiều biến cố, bão táp Câu “Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ” câu tứ tự hai vế tuy ngắn gọn nhưng khái quát được hoàn cảnh, tình thế của đất nước lúc bấy giờ “Súng giặc đất rền” chỉ sự tàn phá nặng nề, giặc xâm lược và gây bao tội ác bằng vũ khí tối tân, hiện đại Tình cảnh ấy cũng từng được Nguyễn Đình Chiểu thể hiện trong bài “Chạy giặc”:

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây Một bàn cờ thế phút sa tay

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất ổ bầy chim dáo dác bay Bến Nghé cửa tiền tan bọt nước Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”

Hoàn cảnh ấy đã thử thách và bộc lộ tấm lòng của con người đối với đất nước Khi quê hương ruột thịt bị xâm chiếm và giày xéo, người nông dân yêu nước đã có sự chuyển

biến lớn về nhận thức và tình cảm Họ đã nghe ngóng phong thanh “tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng” và biết tin giặc đến Không chỉ nghe, họ còn ngửi thấy cả mùi hôi tanh của chúng“Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm” và khi chứng kiến tội ác của bọn giặc,

biết rõ đất nước bị rơi vào tay giặc, họ căm ghét bọn giặc xâm lược “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ” Đây là phép so sánh rất độc đáo, thể hiện sự căm ghét bọn giặc xâm lược một cách tự nhiên, phù hợp tâm lí và suy nghĩ của người nông dân Lòng căm thù giặc của

họ còn được thể hiện rõ hơn khi “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp”, “Ngày xem ống khói chạy đen sì” mà “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ” Lòng căm thù giặc của người nông dân Nam Bộ cuối thế kỉ XIX như thế không khác nào lòng căm thù giặc ngút trời mà Trần

Quốc Tuấn thể hiện trong Hịch tướng sĩ “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột

đau như cắt, nước mắt đầm đìa, muốn xẻ thịt, lột da, moi găn, uống máu quân thù” Sự nhức nhối đến tận cùng, sự căm thù đến tột độ phải đến hai câu sau mới lên đến đỉnh cao:

Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó

Tuy vậy, ban đầu họ vẫn đặt niềm tin và trông chờ vào triều đình, trông chờ tin quan “như trời hạn trông mưa” Nhưng trước bối cảnh nguy kịch mà triều đình lại bạc nhược nên họ nhận ra không thể chờ đợi được nữa Họ không thể để bọn giặc xâm lăng cướp đi máu thịt của mình, phá vỡ sự bình yên của quê hương Họ nhận thức rõ ràng về nền độc lập và danh dự của tổ quốc, họ thấy rõ tội ác của kẻ thù và họ cũng nhận thấy trách nhiệm của bản thân với đất nước Cho nên, họ chủ động đánh giặc, không đợi ai đòi, ai bắt

mà tự nguyện chiến đấu: “Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình, chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ” Lòng căm thù giặc, uất hận

trước những tội ác của chúng gây ra đã biến những người nông dân hiền lành, vốn chỉ biết

Trang 7

7

cui cút làm ăn trở thành những người nghĩa sĩ nông dân dám xả thân vì đất nước Họ không

nề hà chuyện sống chết, đem thân mình chiến đấu chống lại kẻ thù, sẵn sàng hy sinh vì quê hương và để làm sáng tỏ chân lí của thời đại: Chết vinh còn hơn sống nhục

2.3 Điều kiện chiến đấu và tinh thần chiến đấu

- Điều kiện chiến đấu: Trong quá trình chiến đấu, những người nghĩa sĩ nông dân

gặp nhiều khó khăn, thử thách Cuộc đối đầu giữa họ với kẻ thù là cuộc đối đầu không cân sức Họ vốn không phải quân cơ, quân vệ theo dòng, chưa từng biết đến mười tám ban võ nghệ, chín chục trận binh thư Trước trận đánh Tây họ không được trang bị binh pháp, chưa một ngày được rèn luyện võ nghệ Họ chỉ là những người nông dân vì mến nghĩa mà làm quân chiêu mộ nên trang bị cũng hết sức thô sơ Trang phục cũng như vũ khí chiến đấu chỉ là những vật dụng trong sinh hoạt và lao động hàng ngày: “Ngoài cật có một manh áo vải”, “trong tay cầm một ngọn tầm vông”, “hỏa mai đánh bằng rơm con cúi”,… Chiếc áo

họ mặc ra trận là manh áo vải của người nông dân, vũ khí của họ là gậy tre, đánh hỏa mai bằng rơm bện lại Ngược lại, địch rất mạnh, được rèn luyện vô cùng tinh nhuệ, được trang

bị vũ khí tối tân với “đạn nhỏ, đạn to” “tàu sắt tàu đồng súng nổ”

- Tinh thần chiến đấu: Tuy nhiên, tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc đã khiến

những con người nhỏ bé tầm thường vụt lớn lên thành những chàng Gióng khổng lồ trong

cổ tích Khi Tổ quốc lầm than, họ không ngần ngại chung vai góp sức và tinh thần chiến đấu của họ rất cao Trong những cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa trước đây, người nông dân khi phải ra đi làm lính thú để bảo vệ cương thổ của nhà vua được miêu tả với tâm trạng:

“Thùng thùng trống đánh ngũ liên Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa”

Nhưng người nghĩa sĩ nông dân trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu lại hoàn toàn khác Họ tự giác, tự nguyện và tự khắc phục khó khăn để chiến đấu và điều đó đã thể hiện vẻ đẹp cao cả nhất của người nông dân - nghĩa sĩ Cần Giuộc

Dù tương quan lực lượng hai bên đã thấy rõ, nhưng người nghĩa sĩ nông dân vẫn không hề sợ hãi Họ bất chấp sự hiểm nguy, bất chấp sự chênh lệch, sự đối lập của hoàn cảnh chiến đấu, vẫn quyết chiến và quyết thắng Họ lấy tinh thần xả thân vì nghĩa để bù đắp lại sự thiếu hụt, chênh lệch của mình với kẻ thù:

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lười dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ

Chi nhọc quan quản going trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ”

Bằng việc sử dụng liên tiếp các động từ mạnh như “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”, “đâm ngang chém ngược”, “hè trước ó sau”, nhịp điệu nhanh, gấp gáp tác giả đã vẽ

Trang 8

8

lên khung cảnh chiến trường ác liệt, đồng thời cũng làm nổi bật vẻ đẹp của người nông dân nghĩa sĩ: hiên ngang, kiên cường, dũng cảm, bất khuất Với tinh thần chiến đấu cao như vậy nên họ đã lập được những chiến công như chém rớt đầu quan hai, đốt xong nhà dạy

đạo và làm cho bọn giặc phải khiếp sợ… Chân dung hình tượng người nghĩa sĩ nông dân ở

đây hiện lên vừa mộc mạc, giản dị nhưng đồng thời cũng vô cùng anh dũng kiên cường Và bằng sự ngoan cường, lòng yêu nước nồng nàn, họ đã làm nên được những điều phi thường, làm vang dậy bản anh hùng ca về lòng yêu nước

2.5 Sự hi sinh đầy bi tráng của những người nghĩa sĩ nông dân

- Sự hi sinh của người nghĩa sĩ nông dân: Những người nghĩa sĩ nông dân Cần

Giuộc sẵn sàng chiến đấu, hi sinh cho từng tấc đất ngọn rau của tổ quốc, cho bát cơm manh

áo ở đời Họ xả thân vì đất nước quê hương để giữ câu địch khái, thà chết đi theo tổ phụ

mà giữ được chữ vinh còn hơn phải chịu cảnh đầu hàng Tây nhục nhã Họ chỉ có một tên gọi chung là nghĩa sĩ Cần Giuộc, còn mỗi người nghĩa sĩ đó đều vô danh Họ đã sống những cuộc đời của quần chúng vô danh và chết cái chết của quần chúng vô danh, họ không đợi hi sinh để được gươm hùm treo mộ Ở chốn sa trường những mong may mắn để

họ không bị rơi vào cảnh da ngựa bọc thây nhưng vì tương quan giữa ta và địch quá chênh lệch nên nhiều nghĩa sĩ đã hi sinh, đã “phận bạc trôi theo dòng nước đổ” và “tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm”

- Sự hi sinh ấy trước hết gợi bao nhiêu sự thương tiếc:

+ Sự thật bi thương, phũ phàng ấy phô bày ra trước mắt thật xót đau biết mấy Năm xưa trong kiệt tác Truyện Kiều, đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đã đúc kết:

Thiện căn ở tại lòng ta Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Lâm Ngũ Đường nhà văn Trung Quốc cũng khẳng định “Văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ” “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu có lẽ được kết tinh bằng cái tài, nhưng hơn cả nó được tạo thành từ những dòng huyết lệ thể hiện cái tâm trong sáng của Đồ Chiểu

+ Niềm thương tiếc của nhà thơ dành cho những người nghĩa sĩ đã khuất được thể hiện qua các thán từ xuất hiện liên tiếp như cụm từ mở đầu “Khá thương thay!” và thán từ

“Ôi thôi thôi!” ở phần Ai vãn, thán từ “Ôi!” ở đoạn kết Giọng điệu bi ai trùng xuống đến

thống thiết đau buồn thể hiện lòng xót thương vô hạn Tác phẩm là một tiếng khóc đầy ai oán, tiếng khóc đến quặn lòng, tiếng khóc để tiễn biệt những người con Cần Giuộc mãi mãi nằm lại trên mảnh đất quê hương

+ Họ ngã xuống nơi chiến trường khói lửa để lại giữa trần gian những mẹ già, vợ yếu, con thơ Tiếng khóc của người mẹ già, nỗi đau đớn của người vợ trẻ được nói đến vô cùng xúc động:

Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ

Trang 9

9

Với người mẹ con dù lớn đến đâu cũng là con trẻ, mẹ có trẻ mấy mà mất con cũng thành mẹ già, những người vợ mất chồng thì dù khỏe mấy cũng là vợ yếu vì họ đã mất đi nơi nương tựa Vì vậy, hình ảnh người mẹ già ngồi khóc trẻ, như ngọn đèn khuya leo lét trong lều và hình ảnh người vợ chạy tìm chồng trong con bóng xế dật dờ trước ngõ là những hình ảnh đầy bi thương, tội nghiệp

+ Tác phẩm không chỉ thể hiện sự thương xót, bi thương của tác giả, của người thân

mà còn là nỗi thương tiếc của nhân dân Cần Giuộc từ già đến trẻ Sự bi thương ấy lan tỏa

cả ra đất trời, cây cỏ, thiên nhiên Cần Giuộc và trở thành tiếng khóc của cả non sông, dân tộc:

"Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ"

- Sự hi sinh của những người nghĩa sĩ nông dân cũng rất hào hùng, cao cả:

Người nông dân mười năm làm ruộng không đem lại tiếng tăm gì, chỉ một trận đánh Tây mà gây tiếng vang, để lại tiếng thơm muôn đời

Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ

Họ hi sinh nhưng trả được nợ nước non, khiến cho kẻ thù hiểu ra đạo lí rằng hành động xâm lược của chúng sẽ không được dung thứ Họ đã sống anh dũng và hi sinh rất vẻ vang và trở thành tấm gương sáng, để lại danh thơm khắp chốn, được nhân dân lập đình miếu để thờ, đền ơn họ bằng một chữ ấm :

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; Thác

mà ưng đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó

Họ để lại bài học quý báu là thà chết vinh còn hơn sống nhục Và câu văn cuối cùng

đã thể hiện sự tiếc thương, cảm phục và khẳng định những nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc đã

trở thành bất tử: “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ” Câu văn dù có bi thương,

xót xa nhưng không phải là bi lụy, yếu đuối, trái lại gợi sự hào hùng, cao cả Bởi vậy, hình tượng người nghĩa sĩ nông dân mang vẻ đẹp đầy bi tráng Đúng như thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định, những nghĩa sĩ nông dân là “những anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang” Họ trở thành bức tượng đài sừng sững tạc vào không gian lẫn thời gian để nói với muôn đời về lòng yêu nước

III KẾT LUẬN

Bài văn tế được viết theo thể phú Đường luật có vần, có độc vận Từ ngữ biểu cảm trực tiếp, gọi tên các trạng thái đa dạng như buồn thương, sầu tủi khi thì tự hào Hệ thống các từ láy gợi hình gợi cảm được dùng linh hoạt: Cui cút, leo lét, não nùng, dật dờ Ngôn

Trang 10

10

ngữ bình dị, đậm màu sắc thôn dã của vùng đất Nam Bộ kết hợp tài tình những điển tích điển cố, ước lệ tượng trưng như: Tiếng phong hạc, mùi tinh chiên, mối xa thư, chém rắn đuổi hươu… Nghệ thuật tiểu đối đặc trưng của thể loại văn tế được thể hiện rõ nét qua các câu văn cùng với kết cấu ngôn ngữ phủ định trùng điệp: “Nào đợi/ chẳng thèm/ nào phải/ chẳng qua/chẳng đợi/không chờ ”, nghệ thuật tương phản hai cấp độ được sử dụng thành công là “Hỏa mai gươm đeo / Chi nhọc quan quản chẳng sợ thằng Tây / Kẻ đâm ngang bọn hè trước súng nổ.” Giọng điệu linh hoạt lúc thì hùng oai, sục sôi khi diễn tả cái hiên ngang, lúc thì bi ai, thống thiết khi nói về sự mất mát, đau buồn Cảm xúc chủ đạo của bài văn tế là cảm xúc bi tráng Tất cả hợp thành một âm hưởng chiến trận hào hùng của một thiên anh hùng ca tuyệt diệu

Bài văn tế như một bức tượng đài bằng ngôn từ, tạc khắc nên bức tượng đài bi tráng, bất tử về người nghĩa sĩ nông dân yêu nước, căm thù giặc Bức tượng đài ấy là dấu mốc thể hiện cả một bi kịch lớn của dân tộc - bi kịch mất nước, và báo hiệu một thời kì lịch sử đen tối của dân tộc ta là gần một trăm năm Pháp thuộc Nhưng cũng thật hào hùng, bởi trong cái bi kịch lớn ấy, vẫn ngời sáng tinh thần bất khuất và lí tưởng cao đẹp của nhân dân Nam

Bộ nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung

Đề bài số 2: Nhận xét về bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu có

ý kiến cho rằng:"Bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là bức tượng đài bi tráng về hình tượng người nông dân nghĩa sĩ tuy thất thế nhưng vẫn hiên ngang", có ý kiến khác cho rằng:"Bài văn tế là tiếng khóc bi tráng cho một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng

vĩ đại của dân tộc",

Bằng hiểu biết của mình về bài văn anh/chị hãy làm sáng tỏ

I MỞ BÀI

- Vài nét về tác giả, tác phẩm

- Dẫn dắt vào hai nhận định

II THÂN BÀI

1 Giải thích

1.1 Ý kiến 1:"Bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là bức tượng đài bi tráng về hình tượng người nông dân nghĩa sĩ tuy thất thế nhưng vẫn hiên ngang"

- Bi là buồn, là bi thương, là gợi cái buồn đau, mất mát, đau thương

- tráng: gợi sự hào hùng, hùng tráng

- Bi tráng: Nói đến cái buồn đau, mất mát, bi thương nhưng không gợi ra sự buy lụy, yếu đuối mà trái lại gợi sự hào hùng, hùng tráng

- thất thế: chỉ sự thất bại, hi sinh, mất mát

- hiên ngang: phẩm chất của người anh hùng kiên cường, bất khuất

Ngày đăng: 24/03/2022, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w