1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích nguyên tắc: mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương của người lao động

13 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 67,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập học kỳ môn Luật An sinh xã hội đạt 9 điểm.Câu 1: Phân tích nguyên tắc: Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương của người lao động.Câu 2: Anh M làm việc trong công ty Y từ năm 2000. Tháng 62018, anh M được cử đi công tác tại tỉnh T. Trên đường đi, anh M bị tai nạn giao thông, bị chấn thương sọ não, phải vào bệnh viện điều trị mất 4 tháng. Khi ra viện, anh được kết luận suy giảm 62% khả năng lao động.Do sức khỏe yếu nên anh M xin nghỉ việc và được công ty Y đồng ý. Được biết, tại thời điểm nghỉ việc, anh M 53 tuổi, có thời gian đóng BHXH được chốt sổ là 23 năm.Anhchị hãy giải quyết các quyền lợi an sinh xã hội cho anh M theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1

Câu 1 (4 điểm): Phân tích nguyên tắc: mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương của người lao động 2

1 Cơ sở của việc quy định nguyên tắc 2

2 Nội dung của nguyên tắc 3

3 Ý nghĩa của nguyên tắc 5

Câu 2 (6 điểm) 6

I QUYỀN LỢI AN SINH XÃ HỘI CỦA ANH M KHI BỊ TAI NẠN VÀ PHẢI ĐIỀU TRỊ 4 THÁNG TẠI BỆNH VIỆN 7

1 Chế độ Bảo hiểm y tế 7

2 Chế độ tai nạn lao động 8

II QUYỀN LỢI AN SINH XÃ HỘI CỦA ANH M KHI XIN NGHỈ VIỆC… 10

1 Chế độ hưu trí 10

2 Chế độ Bảo hiểm y tế 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NSDLĐ Người sử dụng lao động

TLBHLK

Mức tiền lương đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội của tháng

liền kề BQTL Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội

Câu 1 (4 điểm): Phân tích nguyên tắc: mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được

tính trên cơ sở tiền lương của người lao động

Trả lời:

Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về BHTN là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và chi phối việc xây dựng chính sách BHTN, toàn bộ hệ thống các

quy phạm pháp luật về BHTN Nguyên tắc “Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp

Trang 3

được tính trên cơ sở tiền lương của người lao động” là một trong số đó Để hiểu

rõ hơn về nguyên tắc này, ta cần làm rõ các nội dung sau:

1 Cơ sở của việc quy định nguyên tắc.

BHTN thực hiện theo cơ chế “đóng – hưởng” như cơ chế của BHXH Có

nghĩa là NLĐ muốn được hưởng TCTN khi bị mất việc làm, thì một trong những điều kiện tiên quyết là phải có đóng góp bảo hiểm Trên cơ sở mức sống, mức thu nhập bình quân thực tế của đại đa số NLĐ và mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người để quy định, lựa chọn mức thu nhập được bảo hiểm để đảm bảo cho mức thu nhập này luôn thăng bằng tương đối, đảm bảo đời sống cho NLĐ tham gia BHTN

Việc tham gia BHTN cho NLĐ là cần thiết để đảm bảo cho họ khi bị mất việc làm mà chưa tìm kiếm được việc làm mới Tuy nhiên việc tham gia BHTN không được ảnh hưởng quá nhiều đến thu nhập hiện tại của NLĐ Nếu mức đóng BHTN quá cao thì sẽ không thu hút được NLĐ tham gia, dẫn đến tình trạng NLĐ chủ động phối hợp với NSDLĐ để không đóng BHTN hoặc thỏa thuận giảm tiền lương đóng BHTN so với tiền lương thực tế nhận được Đồng thời đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa những người tham gia BHTN thì mức đóng BHTN phải được tính toán trên cơ sở tiền lương của NLĐ Người có thu nhập cao sẽ có mức đóng BHTN cao hơn và người có thu nhập thấp sẽ có mức đóng BHTN thấp hơn

Mặt khác, một trong những mục đích chính của chế độ BHTN là bù đắp một phần tiền lương của NLĐ khi họ bị thất nghiệp, tạm thời mất đi thu nhập, tức là mức trợ cấp thất nghiệp mà NLĐ được hưởng trong thời gian thất nghiệp chính

là một phần tiền lương của họ Muốn thực hiện được mục đích này thì việc đóng BHTN của NLĐ cũng phải được căn cứ vào mức lương mà họ đang được hưởng trong quan hệ lao động

2 Nội dung của nguyên tắc.

Trang 4

Nội dung của nguyên tắc mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ

sở tiền lương của NLĐ xác định mức đóng BHTN không phải là mức đóng cố định do pháp luật đặt ra cho tất cả những người tham gia BHTN mà mức đóng này được xác định trên cơ sở tiền lương của NLĐ (xác định tỷ lệ % so với tiền lương làm căn cứ đóng BHTN của NLĐ) Hiện nay, nội dung cơ bản của nguyên tắc này được pháp luật về BHTN quy định khá đầy đủ, cụ thể như sau:

Thứ nhất, NLĐ đóng bằng 1% tiền lương tháng Theo quy định tại khoản 1

Điều 90 Bộ luật Lao động 2012 thì “Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng

lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác” Tiền lương làm căn cứ đóng BHTN được quy định cụ

thể tại Điều 58 Luật Việc làm 2013:

- Trường hợp NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHTN là tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội Trường hợp tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHTN cao hơn hai mươi tháng lương cơ sở thì mức tiền lương tháng đóng BHTN bằng hai mươi tháng lương cơ sở tại thời điểm đóng BHTN

- Trường hợp NLĐ đóng BHTN theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tiền lương tháng đóng BHTN là tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội Trường hợp tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHTN cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu vùng thì mức tiền lương tháng đóng BHTN bằng hai mươi tháng lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động tại thời điểm đóng BHTN

Thứ hai, NSDLĐ đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những NLĐ đang tham gia BHTN Nguồn đóng BHTN theo mức 1% này được hướng dẫn

tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 28/ 2015/ NĐ-CP như sau:

Trang 5

- Trường hợp NSDLĐ là cơ quan, đơn vị, tổ chức được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên thì ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ nguồn đóng BHTN và được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hàng năm của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

- Trường hợp NSDLĐ là cơ quan, đơn vị, tổ chức được ngân sách nhà nước bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên thì ngân sách nhà nước bảo đảm nguồn đóng BHTN cho số người hưởng lương từ ngân sách nhà nước và được bố trí trong dự toản chi thường xuyên hằng năm của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Phần BHTN phải đóng còn lại, người sử dụng lao động tự bảo đảm theo hai trường hợp dưới đây

- NSDLĐ là doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thì khoản đóng BHTN được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong kỷ

- NSDLĐ là cơ quan, đơn vị, tổ chức khác thì khoản đóng BHTN được sử dụng từ nguồn kinh phí hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật

Thứ ba, Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của những NLĐ đang tham gia BHTN và do ngân sách trung ương đảm bảo từ nguồn chỉ đảm bảo xã hội đã được Quốc hội quyết định Ngân sách nhà nước

hỗ trợ Quỹ BHTN theo nguyên tắc bảo đảm duy trì số dư quỹ hằng năm bằng 02 lần tổng các khoản chi các chế độ BHTN và chi phí quản lý BHTN của năm trước liền kề nhưng mức hỗ trợ tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của những NLĐ đang tham gia BHTN Khoản 2 Điều 7 Nghị định 28/ 2015/NĐ - CP quy định chi tiết về phương thức chuyên kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước vào Quỹ BHTN

Trang 6

3 Ý nghĩa của nguyên tắc.

Nguyên tắc mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương của NLĐ là một trong những nguyên tắc cơ bản của BHTN Cho nên, ngoài những ý nghĩa chung là bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, là cơ sở để xây dựng và thực hiện các quy phạm khác của pháp luật thì nguyên tắc này còn mang ý nghĩa riêng của nó như:

- Nguyên tắc này trước hết làm căn cứ để hưởng bảo hiểm một cách công bằng trong xã hội

- Giúp nhà nước dễ dàng quản lý, cũng như dễ dàng thực thi các chính sách BHTN trên thực tế

- Góp phần đảm bảo chế độ của quỹ một cách ổn định

Như vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu nội dung của nguyên tắc này không chỉ

có ý nghĩa quan trong đối với các cơ quan và các cán bộ làm công tác pháp luật

mà nó còn rất cần thiết đối với những người tham gia BHTN bởi nguyên tắc này còn có ý nghĩa quan trọng khi kết hợp với nguyên tắc mức hưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHTN vì mức hưởng BHTN giữa những người thất nghiệp sẽ có sự khác nhau, làm thay đổi không quá lớn giữa mức sống trước khi thất nghiệp và mức sống khi bị thất nghiệp Đây chính là cơ

sở để NLĐ có thể hưởng các quyền của mình khi tham gia BHTN

Câu 2 (6 điểm): Anh M làm việc trong công ty Y từ năm 2000 Tháng 6/2018,

anh M được cử đi công tác tại tỉnh T Trên đường đi, anh M bị tai nạn giao thông, bị chấn thương sọ não, phải vào bệnh viện điều trị mất 4 tháng Khi ra viện, anh được kết luận suy giảm 62% khả năng lao động

Do sức khỏe yếu nên anh M xin nghỉ việc và được công ty Y đồng ý Được biết, tại thời điểm xin nghỉ việc, anh M 53 tuổi, có thời gian đóng BHXH được chốt

sổ là 23 năm

Trang 7

Anh/chị hãy giải quyết các quyền lợi an sinh xã hội cho anh M theo quy định của pháp luật hiện hành?

Trả lời:

Xét tình huống đã cho, ta có những thông tin sau:

- Anh M làm việc trong công ty Y từ năm 2000  Đến lúc chấm dứt hợp đồng lao động, anh M đã làm việc cho công ty Y theo hợp đồng lao động được

18 năm 10 tháng, nên chắc chắn hợp đồng lao động là hợp đồng không xác định

thời hạn Như vậy, anh A thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy

định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Luật BHXH 2014

- Tai nạn của anh M được xét là tai nạn lao động và đủ điều kiện hưởng chế

độ tai nạn lao động theo quy định tại Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động

2015 (Luật ATVSLĐ 2015), cụ thể là:

+ Anh M bị tai nạn ngoài nơi làm việc khi đang thực hiện công việc theo yêu cầu của NSDLĐ (anh M được cử đi công tác tại tỉnh T và bị tai nạn giao thông,

bị chấn thương sọ não)

+ Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn (Khi ra viện, anh

M được kết luận suy giảm 62% khả năng lao động)

+ Do đề bài không nêu rõ, nên ta mặc nhiên cho rằng anh M không thuộc trường hợp không được hưởng chế độ do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi trả quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật ATVSLĐ 2015

- Tại thời điểm xin nghỉ việc, anh M 53 tuổi, có thời gian đóng BHXH được chốt sổ là 23 năm

- Do đề bài không nêu rõ chi tiết, nên ta mặc định, Anh M không làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, không làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực

hệ số 0,7 trở lên, không bị khuyết tật, không bị bệnh nan y, không ra nước ngoài định cư

Trang 8

I QUYỀN LỢI AN SINH XÃ HỘI CỦA ANH M KHI BỊ TAI NẠN VÀ

PHẢI ĐIỀU TRỊ 4 THÁNG TẠI BỆNH VIỆN.

Xét sự kiện vào tháng 6/2018, anh M được cử đi công tác tại tỉnh T Trên đường đi, anh M bị tai nạn giao thông, bị chấn thương sọ não, phải vào bệnh viện điều trị mất 4 tháng Khi ra viện, anh được kết luận suy giảm 62% khả năng lao động Như đã phân tích ở trên, tai nạn này của anh M được xét là tai nạn lao động Theo đó, khi bị tai nạn lao động anh M được hưởng những quyền lợi an sinh xã hội sau:

1 Chế độ Bảo hiểm y tế.

- Đối tượng tham gia BHYT: Theo phân tích ở đầu bài, anh M thuộc đối

tượng làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn Do đó theo điểm a khoản 1 Điều 12 Văn bản hợp nhất 01/2014/VBHN-VPQH Luật BHYT anh M là đối tượng tham gia BHYT theo nhóm do NLĐ và NSDLĐ đóng

- Điều kiện hưởng: Để anh M được hưởng BHYT đòi hỏi 2 điều kiện: Có

đóng BHYT và Có thẻ BHYT (Thẻ BHYT được cấp cho người tham gia BHYT

để làm căn cứ để hưởng các quyền lợi BHYT; Mỗi người được cấp 1 thẻ; Thẻ BHYT không có giá trị sử dụng khi hết hạn, sửa chữa, tẩy xóa hoặc người có tên không tiếp tục tham gia BHYT)

- Phạm vi hưởng: Căn cứ Điều 21 Văn bản hợp nhất 01/2014/VBHN-VPQH

Luật BHYT thì anh M được quỹ bảo hiểm y tế chi trả các chi phí khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng trong phạm vi được hưởng theo quy định của pháp luật

- Mức hưởng: Do anh M bị tai nạn giao thông, bị chấn thương sọ não cho

nên chắc chắn anh M sẽ phải được đưa đi cấp cứu Theo đó, trường hợp của được xác định là đúng tuyến khám bệnh, chữa bệnh BHYT theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Thông tư 40/2015/TT-BYT Như vậy, mức hưởng BHYT của anh M trong trường hợp này cụ thể như sau:

Trang 9

+ Căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 22 Văn bản hợp nhất 01/2014/VBHN-VPQH Luật BHYT, anh M vào bệnh viện điều trị tai nạn lao động 4 tháng thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh

+ Còn 20% chi phí y tế của anh M thuộc trách nhiệm thanh toán của NSDLĐ (Công ty Y) do anh M bị tai nạn lao động căn cứ tại điểm a khoản 2 Điều 38 Luật ATVSLĐ 2015 quy định về Trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ bị

TNLĐ, BNN: “Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không

nằm trong danh mục do BHYT chi trả đối với người lao động tham gia BHYT”.

2 Chế độ tai nạn lao động.

- Giám định mức độ suy giảm khả năng lao động: Anh M được giám định

mức suy giảm khả năng lao động sau khi thương tật đã được điều trị ổn định Các chi phí liên quan đều do BHXH chi trả

- Trợ cấp hàng tháng: Do anh M bị suy giảm khả năng lao động 62% nên sẽ

được hưởng trợ cấp hàng tháng Trợ cấp này gồm 2 khoản trợ cấp cộng dồn, bao gồm:

+ Trợ cấp theo mức suy giảm khả năng lao động: Theo điểm a khoản 2

Điều 49 Luật ATVSLĐ 2015 thì “Suy giảm 31% khả năng lao động thì được

hưởng bằng 30% MLCS, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% MLCS” Theo đó, mức trợ cấp của anh M được hưởng như sau:

30% MLCS + (62% - 31%) x 2% MLCS = 92% MLCS

+ Trợ cấp theo số năm đóng BHXH: Theo điểm b khoản 2 Điều 49 Luật

ATVSLĐ 2015 thì “Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, hằng

tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được tính thêm 0,3% mức tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị tai nạn lao động

Trang 10

hoặc được xác định mắc bệnh nghề nghiệp” Theo đó, mức trợ cấp của anh M

được hưởng như sau:

0,5% TLBHLK + (23-1) x 0,3% TLBHLK = 7,1% TLBHLK

- Trợ cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình: Nếu ngoài

bị chấn thương sọ não, mà anh M còn bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì anh M sẽ được cấp tiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật và theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng bảo đảm yêu cầu, điều kiện chuyên môn, kỹ thuật1

- Chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật:

+ Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe: Theo điểm a khoản 2 Điều

54 Luật ATVSLĐ 2015 quy định về thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức

khỏe thì NLĐ được nghỉ “Tối đa 10 ngày đối với trường hợp bị tai nạn lao

động, bệnh nghề nghiệp có mức suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên”.

Theo đó, anh M được nghỉ tối đa 10 ngày

+ Mức trợ cấp cho 01 ngày: bằng 30% MLCS2

Theo đó, anh M được hưởng trợ cấp số tiền là: 30% x 1.300.000 đồng3 = 390.000 VNĐ một ngày

II QUYỀN LỢI AN SINH XÃ HỘI CỦA ANH M KHI XIN NGHỈ

VIỆC.

1 Chế độ hưu trí.

- Điều kiện nghỉ hưu :

+ Anh M khi nghỉ việc có thời gian đóng BHXH chốt sổ là 23 năm

Trang 11

+ Vào năm 20184 - thời điểm anh M nghỉ việc, anh M 53 tuổi và suy giảm 62% khả năng lao động

 Anh M đủ điều kiện nghỉ hưu theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Luật BHXH 2014

- Mức lương hưu hằng tháng :

Theo dữ kiện đề bài ta có, anh M nghỉ hưu năm 2018 khi đủ 53 tuổi có thời gian đóng BHXH được chốt sổ là 23 năm và bị suy giảm 62% khả năng lao động Theo đó, mức hưởng lương hưu của anh M được tính như sau:

+ 16 năm đầu tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm

xã hội5

+ Từ năm thứ 17 đến năm thứ 23 là 7 năm, tính thêm: 7 x 2% = 14%6

+ Mức giảm do nghỉ hưu trước tuổi của anh M là: (60 – 53) x 2% = 14%7

 Mức lương hưu hàng tháng anh M được hưởng là:

45% + 14% - 14% = 45% BQTL

2 Chế độ Bảo hiểm y tế.

- Đối tượng tham gia: Như đã trình bày ở trên, anh M đang hưởng lương

hưu, đồng thời anh cũng đang hưởng trợ cấp BHXH hằng tháng do bị tai nạn lao động cho nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Văn bản hợp nhất 01/2014/VBHN-VPQH Luật BHYT thì anh M thuộc đối tượng tham gia BHYT theo nhóm do tổ chức BHXH đóng

nữ đủ 46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên”  Năm 2018 nam

đủ 53 tuổi, có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu.

Ngày đăng: 24/03/2022, 22:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w