Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về chính sách xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội trong 30 năm "đổi mới" chính là quá trình phát triển nhận thức ngày càng sâusắc và rõ nét hơn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI THUYẾT TRÌNH LỊCH SỬ ĐẢNG
Đề bài : Quá trình đổi mới quan điểm của Đảng về giải quyết các vấn
đề xã hội ở nước ta trong thời kì đổi mới từ 1986 đến nay
Lê Thị Hạnh Quỳnh Phạm Thu Thảo Trịnh Thị Thảo Nông Thị Thắm
Lê Thị Phương Thùy
11194463 11206988 11194873 11203521 11203889
01/2022
Lớp học phần : LLDL1102 (121)_04
Giảng viên : Lê Thị Hồng Thuận
Nhóm 5 : gồm 10 thành viên
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 3
Chương 1: Cơ sở đổi mới quan điểm của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội ở nước ta 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
Chương 2: Quá trình đổi mới quan điểm của Đảng về “Giải quyết các vấn đề xã hội ở nước ta” qua các thời kỳ từ 1986 đến nay 16
2.1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI : 16
2.2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII : 18
2.3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: (1996) 22
2.4 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX : 23
2.5 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X : 26
2.6 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: 31
2.7 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII: (2016) 36
2.8 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII 38
Chương 3 : Đánh giá 43
3.1 Thực tiễn quá trình đổi mới : 43
3.2 Hạn chế và nguyên nhân của quá trình đổi mới quan điểm của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội ở nước ta trong thời kì đổi mới từ 1986 đến nay : 45
KẾT LUẬN 51
Tài liệu tham khảo: 52
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Gần tám thập kỷ vừa qua, dân tộc ta đã vượt qua một chặng đường đấu tranh cực kỳkhó khăn, gian khổ, giành được những thắng lợi vẻ vang Từ thân phận người dân mấtnước, nhân dân ta đã anh dũng vùng lên, lần lượt đánh bại sự xâm lược của nhiều đếquốc lớn mạnh, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới kỷ nguyên độc lập dân tộcgắn liền với Chủ nghĩa Xã hội Lực lượng lãnh đạo nhân dân ta giành được nhữngthắng lợi vĩ đại đó là Đảng Cộng sản Việt Nam Trước khi Đảng ra đời, đã có rất nhiềucác vấn đề trong xã hội khiến nhân dân chịu khổ cực và uất ức nhưng không có aiđứng ra lãnh đạo giải quyết Chỉ đến năm 1924, Nguyễn Ái Quốc trở về thống nhất baĐảng lúc bấy giờ thành 1 Đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam thì những vấn đề
đó mới ngày càng trở nên cải thiện Sự ra đời của Đảng gắn liền với tên tuổi củaNguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc ViệtNam Từ lúc Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đã có đổi mới quan điểm về các vấn đề
xã hội, nhằm mục đích cho dân, vì dân
Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về chính sách xã hội và giải quyết các vấn đề
xã hội trong 30 năm "đổi mới" chính là quá trình phát triển nhận thức ngày càng sâusắc và rõ nét hơn về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xãhội mà trực tiếp là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và xây dựng chính sách xã hộidựa trên cách tiếp cận về quyền con người
Trang 4Chương 1: Cơ sở đổi mới quan điểm của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội ở nước ta
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm:
Thời kỳ đổi mới:
Từ giữa thập kỷ 80 thế kỷ XX, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuậtlần thứ hai, đổi mới đã trở thành xu thế của thời đại Liên Xô và các nước xã hội chủnghĩa đều tiến hành cải tổ, cải cách
Thời kỳ đổi mới là một chương trình cải cách kinh tế và một số mặt xã hội do ĐảngCộng sản Việt Nam khởi xướng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đánhdấu bước đầu khởi xướng và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thì đổi mới không phải là từ bỏ việcthực hiện chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ quyền lãnh đạo duynhất Đổi mới chỉ là thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
Vấn đề xã hội:
Vấn đề xã hội là tất cả những gì liên quan đến con người, các nhóm người, các cộngđồng người đến sự tồn tại, phát triển của con người trong một hoàn cảnh xã hội nhấtđịnh được nhận thức như một vấn nạn của xã hội, đụng chạm đến lợi ích của một cộngđồng Đó là sản phẩm của con người có ảnh hưởng đến một nhóm người nhất định vàchỉ có thể được khắc phục thông qua hành động xã hội
Các vấn đề xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực như: giải quyết việc làm, thu nhập, bìnhđẳng xã hội, khuyến khích làm giàu, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe, cungứng dịch vụ công, an sinh xã hội, cứu trợ xã hội, chính sách dân số và kế hoạch hóagia đình
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề xã hội:
Trang 5Trên những căn cứ lý luận và tổng kết thực tiễn, chủ nghĩa Mác - Lênin đã nêu một sốđặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà đến nay vẫn giữ nguyên giá trị Đólà:
- Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, tạo mọi điều kiện
để con người phát triển toàn diện
- Có lực lượng sản xuất phát triển, chế độ công hữu từng bước được xác lập, tổ chứcquản lý hiệu quả, năng suất lao động cao, phân phối theo lao động
Theo C.Mác, xã hội cộng sản chủ nghĩa phải được phát triển từ chủ nghĩa tư bản vàtrên cơ sở những tiền đề do chủ nghĩa tư bản tạo dựng, trong đó về kinh tế là nền đạicông nghiệp Đến giai đoạn V.I.Lênin, ông rất coi trọng việc cần thiết phải xây dựngyếu tố cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại của chủ nghĩa xã hội Ông đã từng khẳng định
“cộng sản chủ nghĩa là chính quyền Xô viết cộng với điện khí hóa cả nước”, “phải tiếpthu trật tự đường sắt Phổ cộng với kỹ thuật và cách thức tổ chức các tờ rớt của Mỹ”
“cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo
cả nông nghiệp”
Những đề xuất của chủ nghĩa Mác - Lênin về lực lượng sản xuất (LLSX) của chủnghĩa xã hội đến nay vẫn giữ nguyên giá trị Tuy nhiên, ngày nay LLSX đã phát triểnmạnh mẽ thì cơ sở vật chất kinh tế của chủ nghĩa xã hội hiện đại phải hiểu đó là nềnkinh tế tri thức, văn minh tin học, kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo, Cách mạng côngnghiệp 4.0
- Chế độ dân chủ tiến bộ, Nhà nước dân chủ mang bản chất giai cấp công nhân, với sựtham gia đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, nhà nước dân chủ, xã hội công dân là những tiêu chí củatiến bộ xã hội Nhiệm vụ của giai cấp công nhân và các đảng cộng sản là: “ bước thứnhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị,
là giành lấy dân chủ”(11) Sau khi trở thành giai cấp thống trị, giai cấp công nhân thiếtlập một chế độ dân chủ mới, toàn diện hơn, triệt để hơn, dân chủ cho đa số nhân dânlao động
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô viết, V.I.Lêninnhấn mạnh tính ưu việt của chế độ dân chủ vô sản, tính ưu việt của chính quyền Xôviết (một hình thức nhà nước xã hội chủ nghĩa) Đó là nhà nước do đông đảo quần
Trang 6chúng nhân dân lao động - những giai cấp trước kia bị chủ nghĩa tư bản áp bức, quản
lý Luận giải về bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa, các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác - Lênin một mặt đã khẳng định nhà nước này phải mang bản chất giai cấp côngnhân, đồng thời, do bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa đòi hỏi, nhà nước xã hội chủnghĩa phải mang tính nhân dân, lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia quản lý nhànước Tuy nhiên, các ông cũng nhấn mạnh, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nhà nướcchưa thể “tự tiêu vong” hoàn toàn được vì vẫn còn các giai cấp và sự khác biệt giữacác giai cấp
- Xã hội công bằng, bảo đảm bình đẳng giữa các dân tộc :
Ngay trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu luận điểm:
“Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộckhác cũng sẽ bị xóa bỏ” V.I.Lênin đã bổ sung, phát triển những quan điểm của C.Mác
và Ph.Ăngghen khi luận bàn về quan hệ giữa người và người gắn với quan hệ giữa cácdân tộc Trong Cương lĩnh về vấn đề dân tộc, V.I.Lênin đã chỉ rõ những nội dungmang tính nguyên tắc cần thực hiện trong khi giải quyết vấn đề dân tộc trong xã hội xãhội chủ nghĩa: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết;liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại: đó là Cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác,kinh nghiệm toàn thế giới và kinh nghiệm của nước Nga dạy cho công nhân” Trên cơ
sở đó, V.I.Lênin đã nêu lên những quan điểm mới về mối quan hệ giữa các dân tộc,trong đó đặc biệt quan tâm đến “các dân tộc bị áp bức” cũng như quá trình hình thànhdân tộc xã hội chủ nghĩa - một hình thức cộng đồng tiến bộ, ưu việt hơn so với dân tộc
tư sản
Những luận điểm của V.I.Lênin bàn về dân tộc, quyền tự quyết dân tộc là những chỉdẫn rất có giá trị giúp cho các Đảng cộng sản, Đảng công nhân vận dụng trong giảiquyết vấn đề dân tộc ở các quốc gia, khu vực, kể cả trong bối cảnh hiện nay
Thực tiễn cách mạng thế giới đã và đang chứng minh sức sống, giá trị bền vững củanhững nguyên lý, những quan điểm về xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin Đây là cơ sở
lý luận để các đảng cộng sản nhận thức, vận dụng và bổ sung, phát triển phù hợp vớiđiều kiện cụ thể của nước mình Sự ra đời và những thành tựu vĩ đại của nhà nước xãhội chủ nghĩa Xô viết, của hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như các nước xãhội chủ nghĩa hiện nay đang chứng minh cho điều đó
Trang 71.1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về xã hội :
1.1.3.1 Mục tiêu về quan hệ xã hội :
Mục tiêu về các quan hệ xã hội: Phải bảo đảm dân chủ, công bằng văn minh Chế độ
xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là chế độ "dân làm chủ", "dân là chủ" nêntheo Hồ Chí Minh, với tư cách làm chủ, là chủ của đất nước, nhân dân phải làm trònnhiệm vụ của người chủ để xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó mọi người đều cóquyền làm việc; có quyền nghỉ ngơi; có quyền học tập; có quyền tự do thân thể; cóquyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình; có quyền tự do tín ngưỡng,theo hoặc không theo một tôn giáo nào; có quyển bầu cử, ứng cử Mọi công dân đềubình đẳng trước pháp luật Nhà nước đảm bảo quyền tự do dân chủ cho công dân,nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chú để xâm phạm đến lợi ích củaNhà nước, của nhân dân Những tư tưởng trên biểu hiện xã hội xã hội chủ nghĩa mànhân dân ta xây dựng là xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôn trọng con người,chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và đảm bảo cho nó được thỏa mãn đểmỗi người có điều kiện cải thiện đời sống riêng của minh, phát huy tính cách riêng và
sở trường riêng của mình trong sự hài hòa với đời sống chung, lợi ích chung của tậpthể
1.1.3.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về phát triển xã hội sau khi giành được độc lập:
(1) Xã hội chỉ có điều kiện phát triển toàn diện trong chủ nghĩa xã hội và các tiêu chí phát triển xã hội có ý nghĩa định hình giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa trong từng nấc thang phát triển đất nước
Theo Hồ Chí Minh, các chế độ bóc lột không thể đưa lại phát triển xã hội thật sự,không thể giải phóng triệt để các tiềm năng, sức mạnh của con người Ngay từ khichuẩn bị thành lập Đảng, Người đã phân tích sâu sắc rằng, các cuộc cách mạng dânchủ tư sản chỉ nhằm thay thế một chế độ bóc lột này bằng chế độ bóc lột khác hoàn bịhơn Với niềm tin mãnh liệt vào bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minhcho rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội mới giải phóng triệt để con người khỏi mọi áp bức,bất công, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; tạo điều kiện cho con ngườiphát triển toàn diện cả với tư cách cá nhân con người và cộng đồng xã hội Chủ nghĩa
Trang 8xã hội trong quan niệm của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa xã hội năng động, phát triển,hướng đến nhu cầu chính đáng của nhân dân, khác với mô hình chủ nghĩa xã hội giáođiều, xơ cứng, xa lạ với nhu cầu thiết thực của đời sống nhân dân Người lấy tiêu chíquan trọng bậc nhất của chủ nghĩa xã hội là phát triển con người, phát triển xã hội,
thông qua cách diễn đạt bình dị, gần gũi, phản ánh các nhu cầu thiết yếu về chất lượng sống mà bất cứ người dân nào cũng cảm nhận được Đó là một chế độ xã hội mà “ai
cũng no ấm, sung sướng, tự do; ai cũng thông thái và có đạo đức Đó là một xã hội tốtđẹp vẻ vang”; đó là xã hội “dân giàu nước mạnh”, “nâng cao đời sống vật chất và vănhóa của nhân dân” Người cho rằng, “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ýxem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế
độ xã hội chủ nghĩa” Vì thế, phát triển xã hội chỉ đạt được các giá trị đích thực trongchủ nghĩa xã hội Xây dựng chủ nghĩa xã hội không có mục đích nào khác là đem lại
sự phát triển xã hội toàn diện, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển
(2) Phát triển xã hội trên cơ sở nền kinh tế vững mạnh, gắn với cơ cấu kinh tế nhất định là một cơ cấu xã hội tương ứng
Đây là điểm rất quan trọng, có ý nghĩa định hướng phát triển xã hội gắn với điềukiện cụ thể của Việt Nam Do hoàn cảnh chiến tranh, dù phải dành nhiều tâm lực, trílực lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, nhưng Hồ Chí Minhvẫn luôn chú trọng xây dựng nền kinh tế quốc gia vững mạnh vừa bảo đảm sức mạnhcủa hậu phương cho tiền tuyến, vừa nâng cao đời sống của nhân dân Nhận thức rõđặc điểm “to nhất” của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một nướcnông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, kinh tế kém phát triển, Hồ Chí Minh chủ trương sớmtiến hành công nghiệp hóa trên miền Bắc nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tạo racủa cải vật chất ngày càng dồi dào, cải thiện tốt hơn đời sống nhân dân Người gọi cơ
cấu kinh tế đó là “hai chân” công nghiệp và nông nghiệp
Những chỉ dẫn nêu trên của Hồ Chí Minh vẫn nguyên giá trị cho hiện nay khi chúng taphải xử lý không ít các vấn đề xã hội nảy sinh từ nền kinh tế thị trường, đặc biệt là cácquan hệ chồng xếp giữa chủ - thợ, giữa nhà quản lý - người lao động, chứa đựng cả
mặt hợp tác để phát triển doanh nghiệp đem lại lợi ích cho cả người sử dụng lao động lẫn người lao động, và mặt đấu tranh buộc người sử dụng lao động thực hiện đúng
quy định pháp luật, bảo đảm quyền của người lao động, không ngừng mở rộng phúc
Trang 9lợi công ty Điều đó cũng đặt ra những nhận thức mới về quan hệ giai cấp trong nềnkinh tế thị trường khi chính quyền đã về tay nhân dân, Đảng Cộng sản trở thành Đảngcầm quyền, giai cấp công nhân và nhân dân lao động có nhiều công cụ để thực hiệnquyền làm chủ của mình.
(3) Phát triển xã hội theo nguyên lý không loại trừ, bảo đảm quyền cùng phát triển của mọi thành viên trong xã hội
Hồ Chí Minh quan niệm bất cứ người dân Việt Nam nào có đóng góp cho tiến bộ
và phát triển của quốc gia - dân tộc gắn với điều kiện lịch sử - cụ thể đều là thành viên
của quảng đại “nhân dân” rộng lớn, được Đảng và Nhà nước bảo đảm quyền phát triển Đó là các chính sách xây dựng giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, cùng các tầng lớp xã hội khác Người rất coi trọng chăm lo phát triển giai cấp công nhân vững mạnh xứng đáng với vai trò giai cấp lãnh đạo cách mạng; có đủ năng
lực làm chủ nhà máy, công xưởng, hầm mỏ; tạo nhiều của cải vật chất cho xã hội; thật
sự tiên phong về phương thức sản xuất, lối sống, nếp sống, kỷ luật lao động gắn vớixây dựng tổ chức Công đoàn Cùng với phát triển giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh
dành nhiều tình cảm và quan tâm đặc biệt với nông dân thông qua các chính sách đưa
lại quyền làm chủ ruộng đất, khuyến khích xây dựng hợp tác xã, tổ hợp tác để nôngdân hợp lực khắc phục khó khăn, phát huy sức mạnh tập thể, không ngừng mở mangphúc lợi xã hội nông thôn, xây dựng xóm làng văn minh, đẩy lùi các hủ tục Hiểu rõnhững đóng góp, hy sinh, thiệt thòi của nông dân trong kháng chiến, Người luôn nhắcnhở chính quyền các cấp không chỉ biết huy động sức dân, mà còn phải ra sức bồi
dưỡng sức dân và di huấn sau khi nước nhà thống nhất cần miễn thuế cho nông dân Xuất phát từ thực tiễn một quốc gia đa tộc người, Hồ Chí Minh quan niệm đa tộc
người là vốn quý của dân tộc ta; phải bảo đảm trên thực tế quyền bình đẳng, đoàn kết,tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các tộc người thông qua hỗ trợ của Nhà nước
và sự nỗ lực tự vươn lên của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi tộc người Điều này đốilập với tư tưởng phân biệt chủng tộc, với tư tưởng dân tộc lớn, với chính sách “chia đểtrị” của chủ nghĩa thực dân Hồ Chí Minh chủ trương tộc người có điều kiện phát triểnhơn phải tương trợ, giúp đỡ các tộc người chậm phát triển cùng vươn lên Người đặcbiệt coi trọng thúc đẩy sự phát triển nhanh, mạnh các vùng có đông đồng bào các tộc
Trang 10người thiểu số, miền núi, căn cứ địa cách mạng Sự phát triển các vùng này không chỉ
có ý nghĩa bảo đảm an ninh, quốc phòng, mà cao hơn là thực hiện quyền cùng pháttriển giữa các vùng, các tộc người
Là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, Hồ Chí Minh đề cao tinh thần tôn trọng tự do tín
ngưỡng, tôn giáo; đánh giá khách quan về giá trị văn hóa, đạo đức của các tôn giáo;bày tỏ tình cảm trân trọng đối với những người sáng lập các tôn giáo; có nhiều chủtrương, chính sách để đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương - giáo, làm cho các tôn giáođồng hành cùng dân tộc Phát triển xã hội vì thế bao hàm cả chăm lo đời sống vật chất
và tinh thần cho đồng bào các tôn giáo, làm cho đồng bào các tôn giáo gắn kết với dântộc, đồng hành cùng sự nghiệp giải phóng và phát triển dân tộc Người phê phán vàđấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện kỳ thị tôn giáo, vi phạm quyền tự dotôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân cũng như các hành vi lợi dụng tôn giáo để làmnhững điều trái với lợi ích dân tộc, gây tổn hại cho sự nghiệp cách mạng
Các tầng lớp, nhóm xã hội thiếu cơ hội phát triển, chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm Đối với phụ nữ, tầng lớp vốn chịu nhiều thua
thiệt về cơ hội phát triển do những trói buộc của tư tưởng phong kiến lạc hậu, Ngườichủ trương phải tiến hành cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ, thực hiện nam - nữ bìnhquyền, tạo môi trường thuận lợi cho phụ nữ có cơ hội tham gia công việc xã hội, họctập, phấn đấu cũng như hoàn thành thiên chức làm mẹ, làm vợ Người cho rằng, chưagiải phóng được phụ nữ thì mới chỉ giải phóng được một nửa quần chúng, chưa thểhiện bình đẳng nam nữ và nam nữ bình quyền thì mới chỉ là một nửa chủ nghĩa xã
hội Đối với trẻ em, Người xem như “búp non trên cành”, luôn động viên, khuyến
khích các em học tập, tu dưỡng để có ích cho gia đình và xã hội, bảo đảm vốn conngười cho tương lai đất nước, cần có những chính sách phát triển toàn diện các mặt
thể lực, trí lực, đạo đức và thẩm mỹ Đối với người cao tuổi, Hồ Chí Minh tôn trọng,
tin tưởng, đề cao và yêu cầu có chính sách chăm lo, động viên kịp thời, phát huy kinhnghiệm, vốn sống và trách nhiệm nêu gương cho con cháu, trước hết trong gia đình,
dòng tộc, làng xóm Đối với thương binh, liệt sỹ, người có công với nước - những
người vì độc lập dân tộc mà chịu hy sinh, mất mát trong kháng chiến - nên phải được
chăm lo đặc biệt thông qua chính sách ưu đãi xã hội Trong Di chúc, Người căn dặn
Trang 11sau ngày cách mạng thắng lợi, công việc đầu tiên đối với con người là chăm lo chothương binh và người có công với nước; xây dựng vườn hoa, bia tưởng niệm ghi nhớcông ơn các anh hùng, liệt sĩ; chăm lo nơi ăn, chốn ở, mở lớp dạy nghề để thươngbinh, bệnh binh và con cái họ có thể “tự lực cánh sinh”.
(4) Phát triển xã hội trên quan điểm thúc đẩy công bằng về cơ hội phát triển giữa các thành viên trong xã hội, bảo đảm hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ
Đây là luận điểm rất quan trọng chi phối đến thiết kế các chính sách kinh tế vàchính sách xã hội hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Theo Hồ Chí Minh, cơ hộiphát triển của mỗi con người trước hết là phải được sống trong hòa bình, độc lập, tự
do, an ninh và an toàn Một đất nước mất độc lập, chủ quyền thì nhân dân không thể
có tự do và do đó không có cơ hội phát triển Dân tộc độc lập, môi trường hòa bình, xãhội an toàn là cơ hội cho con người phát triển, là điều kiện cơ bản để từng thành viêntrong xã hội nỗ lực, phấn đấu vì sự phát triển chung Cơ hội phát triển có được còn
nhờ mở rộng hệ thống phúc lợi xã hội, tạo nền tảng cho con người phát triển toàn
diện, nhất là giáo dục, văn hóa, y tế, trợ giúp xã hội Những chính sách của Hồ ChíMinh về xóa mù chữ, tập hợp trí thức trong nước và trí thức người Việt Nam ở nướcngoài trở về xây dựng nền giáo dục quốc dân phục vụ sự nghiệp “trồng người” cũngnằm trong tầm nhìn chiến lược đó Cơ hội cho sự phát triển được Người đặc biệt chú ývới những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi, kém may mắn trong xã hội như trẻ em,thương binh, gia đình liệt sĩ, phụ nữ, các tộc người thiểu số
(5) Cốt lõi của phát triển xã hội là giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, phát triển con người toàn diện, tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; tạo dựng xã hội an ninh, an toàn, bảo đảm cho con người trưởng thành lành mạnh
Hồ Chí Minh cho rằng, phát triển xã hội chính là giải phóng con người thoátkhỏi mọi áp bức, bất công, có điều kiện phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực, thẩmmỹ và đạo đức Thủ tiêu các cơ sở kinh tế của chế độ bóc lột chính là giải phóng laođộng, đem lại tự do cho con người Phát triển kinh tế không có mục tiêu tự thân màcũng hướng tới cải thiện đời sống vật chất, phát triển thể chất, nâng cao nhu cầu
Trang 12hưởng thụ văn hóa của nhân dân Nền văn hóa mới, đạo đức mới được xây dựng giúpcon người hình thành nhân cách sống hài hòa với xã hội, với cộng đồng, với tự nhiên
và với chính mình Hệ thống giáo dục tiến bộ phải có khả năng khơi dậy, phát huy caonhất những năng lực, phẩm chất vốn có của con người để hoàn thiện chính mình vàđóng góp hữu ích cho xã hội Thể chế chính trị dân chủ phải tạo môi trường cho conngười có tự do, phát huy cao nhất năng lực làm chủ trong mọi phương diện của đờisống xã hội Mục tiêu phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa hay xã hội đều hướng tớithỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, đáp ứng quyền và lợi ích chính đáng,hợp pháp của người dân
Một trong những đặc điểm lớn nhất của thời đại là sự phát triển "kiểu dòng thác" chưatừng có trong lịch sử loài người đó chính là thành tựu của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ Cuộc cách mạng khoa học công nghệ được tiến hành từ giữa thế kỉ XX
đã tạo ra những lực lượng sản xuất to lớn và mới về chất, góp phần thúc đẩy nhiều quátrình hiện đại của xã hội loài người như: cấu trúc lại các nền kinh tế, thay đổi, chuyểnhướng các kết cấu hạ tầng của sản xuất, tăng cường xu thế toàn cầu hóa trên nhiều lĩnhvực quan trọng của các quốc gia, ảnh hưởng to lớn đến các thiết chế xã hội, đến vănhóa, lối sống các dân tộc…
Trang 13Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng sâu sắc ( Chế độ xã hội chủ nghĩa ởLiên Xô, Trật tự thế giới hai cực tan rã ) Chiến tranh lạnh (1947 – 1991) giữa Mỹ vàLiên xô gây ra những hậu quả tiêu cực cho toàn thế giới Liên Xô và các nước Xã hộichủ nghĩa phải tăng ngân sách quốc phòng , củng cố khả năng phòng thủ Thế giớiluôn trong tình trạng căng thẳng, con người phải chịu đựng khó khăn, ô nhiễm môitrường.
Bên cạnh đó, đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, thế giới đang đứng trước những vấn đềtoàn cầu và việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi phải có sự nỗ lực chung của toànnhân loại, ở các quốc gia với những chế độ chính trị khác nhau Đó là vấn đề bảo vệhòa bình, chống chiến tranh hạt nhân hủy diệt, đó là vấn đề bảo vệ tài nguyên thiênnhiên môi trường, phòng chống bệnh hiểm nghèo, vấn đề bùng nổ dân số, sự nghèođói
Sau hơn 70 năm tồn tại, đến cuối thập niên 80 của thế kỉ XX, toàn bộ hệ thống xã hộichủ nghĩa lâm vào khủng hoảng toàn diện và sâu sắc Đứng trước sự thử thách, nhiềunước xã hội chủ nghĩa đã tìm cách thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng bằng nhiều cáchkhác nhau Trước hết, phải kể đến công cuộc “cải cách, mở cửa” với những thành tựu
rõ rệt của Trung Quốc - một nước xã hội chủ nghĩa láng giềng và cuộc “cải tổ” ở Liên
Xô - một cường quốc xã hội chủ nghĩa đứng đầu hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giớivới những diễn biến phức tạp, đầy sóng gió Những thành tựu của Trung Quốc đã thuhút sự quan tâm chú ý của nhiều nước trong đó có Việt Nam Tiếp đó, công cuộc cải
tổ không thành công dẫn tới sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là bài họcphản diện cho Việt Nam những kinh nghiệm không thể cải tổ theo kiểu “phủ định sạchtrơn”, giải quyết không biện chứng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
1.2.2 Tình hình trong nước :
1 2.2.1 Chủ trương của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội thời kỳ trước đổi mới:
Giai đoạn 1945 – 1954: Sau Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến chống
Pháp, chính sách xã hội của Đảng được thực hiện theo tinh thần:
Trang 14Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có họchành Và với chủ trương: làm cho người nghèo thì đủ ăn, ngươi đủ ăn thì khá giàu,người khá giàu thì giàu thêm Chủ trương này đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và đạtđược những hiệu quả thiết thực.
Các vấn đề xã hội trong giai đoạn này giải quyết trong điều kiện xây dựng Nhà nướcdân chủ nhân dân Chính phủ có chủ trương và hướng dẫn để các tầng lớp nhân dânchủ động và tự tổ chức giải quyết các vấn đề xã hội của chính mình; chính sách tănggia sản xuất (tự túc, tự cấp), chủ trương tiết kiệm, khuyến khích mọi tầng lớp nhândân, mọi thành phần xã hội phát triển kinh tế Thực hiện chính sách điều hoà lợi íchgiữa chủ và thợ
Giai đoạn 1954 – 1975: Các vấn đề xã hội được giải quyết theo mô hình xây dựng
chủ nghĩa xã hội theo đường lối cũ, trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh Chế độphân phối về thực chất là theo chủ nghĩa bình quân Nhà nước và tập thể đáp ứng nhucầu thiết yếu của xã hội, bằng chế độ bao cấp và dựa vào viện trợ của nước ngoài
Giai đoạn 1975 – 1985: Các vấn đề xã hội được giải quyết theo cơ chế kế hoạch hoá
tập trung quan liêu, bao cấp, trong hoàn cảnh đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế –
xã hội nghiêm trọng, nguồn viện trợ giảm dần, đất nước bị bao vây, cô lập và cấmvận
1.2.2.2 Đánh giá việc thực hiện đường lối :
Chính sách xã hội trong 9 năm “kháng chiến, kiến quốc”, tiếp đó là thời kỳ thực hiện
cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp (1954 – 1985), tuy có nhiềuhạn chế nhưng đã bao hàm được sự ổn định của xã hội, đồng thời đạt được thành tựuphát triển đáng tự hào trên một số lĩnh vực: Văn hóa, giáo dục, y tế, lối sống, đạo đức
kỷ cương và an ninh xã hội, hoàn thành nghĩa vu hậu phương lớn đổi mới tiền tuyếnlớn
Những thành tựu đó nói lên bản chất tốt đẹp của chế độ mới – chế độ xã hội chủnghĩa sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, giải quyết mâu thuẫn xã hội trong điều kiệnchiến tranh kéo dài, kinh tế chậm phát triển
Trang 151.2.2.3 Hạn chế và nguyên nhân :
Trong xã hội đã hình thành tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể trong cáchgiải quyết, các vấn đề xã hội; chế độ phân phối trên thực tế là bình quân – cào bằng,không khuyên khích được những đơn vị và cá nhân làm tốt, làm giỏi: đã hình thànhnên một xã hội đóng, ổn định nhưng kém năng động chậm phát triển về mọi mặt.Nguyên nhân cơ bản của hạn chế trển là do chúng ta đặt chưa đúng tầm chính sách xãhội trong quan hệ với các chính sách thuộc các lĩnh vực khác, đồng thời lại áp dụng vàduy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan lieu bao cấp
=> Đứng trước xu hướng thế giới, yêu cầu khắc phục sai lầm, vượt qua khủng hoảng, Đảng và nhà nước phải tiến hành đổi mới.
Chương 2: Quá trình đổi mới quan điểm của Đảng về “Giải quyết các vấn đề xã hội ở nước ta” qua các thời kỳ từ 1986 đến nay
2.1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI :
Đại hội VI của Đảng (12/1986) khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnhđạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học, giương cao ngọn cờ chủ nghĩaMác - Lênin, tiến bước theo con đường do Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra, động viêntoàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu hết sức mình vì độc lập, tự do và chủ nghĩa
xã hội Tại đây, lần đầu tiên nêu lên khái niệm “Chính sách xã hội” Đây là sự đổi mới
về tư duy về giải quyết các vấn đề xã hội được đặt trong tổng thể đường lối phát triểncủa Đất nước, đặc biệt là giải quyết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách
xã hội Đại hội cho rằng trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiệnchính sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt độngkinh tế Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế ởchỗ đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và lấy việc phục vụ conngười làm mục đích cao nhất Coi nhẹ chính sách xã hội cũng là coi nhẹ yếu tố conngười trong xây dựng chủ nghĩa xã hội trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và
Trang 16bảo vệ Tổ quốc Và có thể coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện cácchính sách xã hội, đồng thời thực hiện tốt các chính sách xã hội là động lực thúc đẩyphát triển kinh tế
Công tác bảo trợ xã hội đối với toàn dân phải được tiến hành theo phươngchâm "Nhà nước và nhân dân cùng làm"; trước mắt, sắp xếp lại và phát triển các côngtrình sự nghiệp bảo trợ xã hội, vận dụng đúng đắn các chính sách phù hợp với từngvùng và tình hình kinh tế - xã hội của đất nước
Bảo đảm việc làm cho người lao động, trước hết ở thành thị và cho thanh niên,
là nhiệm vụ kinh tế - xã hội hàng đầu trong những năm tới Tạo thêm việc làm, sửdụng tốt lực lượng lao động xã hội, kế hoạch hoá phát triển dân số là những yêu cầukinh tế-xã hội cực kỳ quan trọng Nhiệm vụ đặt ra là giảm cho được tỷ lệ tăng dân số,giải quyết công việc làm với mức cố gắng lớn nhất, thực hiện phân bố lại lao động,gắn lao động với khai thác đất đai, phát triển ngành, nghề, vận động định canh, định
cư, tinh giản biên chế hành chính nhà nước, nhằm phát triển sản xuất, tăng năng suấtlao động, nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Nhà nước cố gắng tạo thêm việc làm và
có chính sách để người lao động tự tạo ra việc làm chính đáng Tiến hành phân công
và phân bố hợp lý lao động trên từng vùng và trong cả nước Ban hành và thực hiệnLuật lao động Phấn đấu hạ tỷ lệ phát triển dân số đến năm 1990 xuống 1,7% Phảithực hiện đồng bộ các biện pháp như: đầu tư xây dựng các cơ sở dịch vụ y tế xã, cáctrung tâm hướng dẫn sinh đẻ ở huyện, đồng thời sửa đổi và ban hành các chính sách
có liên quan nhằm bảo đảm được kế hoạch phát triển dân số Phải gây thành ý thức xãhội rộng khắp về thực hiện kế hoạch hoá gia đình; đảng viên và đoàn viên thanh niênphải gương mẫu đi đầu thực hiện
Thực hiện công bằng xã hội phù hợp với điều kiện thực tế; đảm bảo an toàn xã
hội, nhanh chóng khôi phục trật tự, kỷ cương trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.Thực hiện sống và làm việc theo pháp luật Nghiêm trị các phần tử làm ăn phi pháp.Đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàndiện nhân cách xã hội của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có văn hóa, có kỹ thuật,
có kỹ thuật, có kỷ luật và giàu tính sáng tạo, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêucầu phân công lao động xã hội
Trang 17Mở rộng mạng lưới và nâng cao chất lượng công tác y tế và thể dục thể thao,
nhất là ở cơ sở, đáp ứng tốt hơn nhu cầu bảo vệ sức khỏe của nhân dân Nhiệm vụ hếtsức quan trọng của tất cả các ngành, các cấp là bảo đảm được mức cần thiết và ổnđịnh của nhân dân về lương thực và thực phẩm Khắc phục tình trạng ở một số nơibình quân chung về lương thực thì cao, nhưng vẫn còn một bộ phận dân cư thiếu ăn,làm cho tình hình xã hội thiếu ổn định Thuốc chữa bệnh đang là một vấn đề xã hộigay gắt Năm năm tới, phải tăng quỹ thuốc thông thường, thuốc kháng sinh, thuốcchống dịch, thanh toán dần các bệnh sốt rét, bạch hầu, bại liệt, ho gà, sởi Mạng lưới
y tế cơ sở, nơi hằng ngày trực tiếp chăm sóc sức khỏe của người lao động phải đượccủng cố và chấn chỉnh.Khôi phục và tăng thêm số giường bệnh, chủ yếu cho tuyến cơ
sở và một số nơi đang quá thiếu ở thành phố, thị trấn, khu công nghiệp; tu bổ và thayđổi dần trang bị cho các bệnh viện lớn Mỗi xã có vườn dược liệu gắn liền với trạm y
tế để phục vụ tại chỗ Dành một diện tích cần thiết để trồng dược liệu tập trung phục
vụ nhu cầu cả nước Đẩy mạnh phong trào tập luyện thể dục, thể thao trong mọi lứatuổi, nhất là trong thanh niên, học sinh
Thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình cán bộ,
chiến sĩ chiến đấu ngoài mặt trận, gia đình có công với cách mạng, công nhân, viênchức về hưu; xây dựng và thực hiện từng bước chính sách bảo trợ xã hội xã hội chủnghĩa đối với toàn dân theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm
Đối với công nhân, viên chức, có chế độ tiền lương hợp lý, phúc lợi xã hội cầnthiết để đảm bảo đời sống vật chất và văn hóa cho người lao động và gia đình
Đối với nông dân, giải quyết tốt quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ đóng gópcho đất nước Soát lại các chính sách có liên quan đến nông dân, bãi bỏ những chínhsách không đúng
Đối với trí thức, điều quan trọng nhất là đánh giá đúng năng lực và tạo điềukiện cho các khả năng sáng tạo được sử dụng đúng và phát triển
Thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng Tăng cường đầu tư và có chínhsách cụ thể về mặt kinh tế - xã hội để phát huy khả năng của miền núi về xây dựngkinh tế, văn hóa và chăm lo đời sống của đồng bào các dân tộc Cùng với đó là tạođiều kiện thuận lợi để người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài xây dựng khối cộng
Trang 18đồng vừa hòa nhập vào xã hội sở tại, vừa liên hệ mật thiết, gắn bó với quê hương, gópphần ngày càng nhiều vào công cuộc xây dựng đất nước
Như vậy, chủ trương của Đại hội VI về lĩnh vực xã hội, tập trung vào các vấnđề: lao động và việc làm; ổn định và nâng cao đời sống nhân dân; thực hiện kế hoạchhoá gia đình, chăm lo người có công với cách mạng, phòng chống các tệ nạn xã hội Trong đó, tư duy mới của Đảng thể hiện thông qua các chủ trương: giải quyết chínhsách xã hội là nhiệm vụ gắn bó hữu cơ với đổi mới kinh tế; vấn đề lao động, việc làmđược giải quyết gắn với phát triển nhiều thành phần kinh tế; nâng cao đời sống củanhân dân gắn với thực hiện ba chương trình kinh tế lớn
2.2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII :
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại
Thủ đô Hà Nội từ ngày 24 đến ngày 27/6/1991 với nội dung chủ trương là Đổi mới toàn diện, đồng bộ, đưa đất nước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa.
+ Có bước đột phá mới trong nhận thức về khái niệm CNH hiện đại hóa
+ Rút ra năm kinh nghiệm trong tiến hành công cuộc đổi mới:
(1) Phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới
(2) Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức và cáchlàm phù hợp
(3) Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đi đôi với tăng cường vai trò quản lýcủa Nhà nước về kinh tế - xã hội
(4) Phát huy ngày càng sâu rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
(5) Quan tâm dự báo tình hình, kết hợp phát hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đềmới nảy sinh, tăng cường tổng kết thực tiễn và không ngừng hoàn chỉnh lý luận vềcon đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
- Phương hướng mục tiêu nhiệm vụ : Đại hội VII đề ra Kế hoạch 5 năm 1991-1995
và quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội của Kế hoạch là:
+ Đẩy lùi và kiểm soát lạm phát
+ Ổn định phát triển và nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội
Trang 19+ Bước đầu ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động.
+ Bắt đầu có tích lũy từ nội.
Tại đại hội VII, mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu pháttriển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người Coiphát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốtchính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế
Thứ nhất là đổi mới chính sách tiền lương và thu nhập, khuyến khích mọi
người tăng thu nhập và làm giàu dựa vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế; bảo hộcác nguồn thu nhập hợp pháp; điều tiết hợp lý thu nhập giữa các bộ phận dân cư, cácngành và các vùng Đấu tranh ngăn chặn thu nhập phi pháp Cải cách cơ bản chínhsách tiền lương và tiền công theo các nguyên tắc: tiền lương và tiền công phải dựa trên
số lượng và chất lượng lao động, bảo đảm tái sản xuất sức lao động; tiền tệ hóa tiềnlương, xóa bỏ chế độ bao cấp ngoài lương dưới hình thức hiện vật; thực hiện mốitương quan hợp lý về tiền lương và thu nhập của các bộ phận lao động xã hội Từ năm
1992, cải cách chính sách tiền lương với bước đi hợp lý gắn với tinh giản bộ máy, biênchế và tìm thêm việc làm cho số lao động dôi ra Đối với chiến sĩ lực lượng vũ trang,thực hiện tốt chế độ cung cấp đủ tiêu chuẩn hiện vật theo định lượng Có chế độ phụcấp giúp sĩ quan và quân nhân xuất ngũ có thêm điều kiện tạo lập cuộc sống mới
Thứ hai, đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội theo hướng: mọi người lao động
và đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều góp vào quỹ bảo hiểm xã hội Từng
bước tách quỹ bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức nhà nước khỏi ngân sách
và hình thành quỹ bảo hiểm xã hội chung cho người lao động thuộc mọi thành phầnkinh tế Quan tâm, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công vớicách mạng vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn dân, sớmban hành chế độ toàn dân đóng góp vào quỹ đền ơn, trả nghĩa để chăm lo đời sốngthương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng
Hình thành các tổ chức của người tàn tật và vì người tàn tật, các hội từ thiện, tổ chứcviệc giúp đỡ người già cô đơn và trẻ mồ côi, những người cơ nhỡ, bất hạnh trong cuộc
Trang 20sống Nhà nước dành một phần quỹ dự phòng của ngân sách để chủ động cứu giúpnhững người gặp tai nạn do thiên tai
Thứ ba, bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể lực của nhân dân phải trở thành hoạt động tự giác của mỗi người, với sự quan tâm của Nhà nước và của toàn xã hội Phát
triển các hoạt động y tế bằng khả năng của Nhà nước và của nhân dân theo hướng dựphòng là chính; kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc Sắp xếp lại hệthống y tế, củng cố y tế cơ sở, đặc biệt là ở miền núi Xây dựng kế hoạch bảo vệ sứckhỏe theo vùng lãnh thổ Từng bước khắc phục về cơ bản các bệnh nhiễm trùng và kýsinh trùng, khống chế bệnh sốt rét, hạn chế đến mức thấp nhất bệnh bướu cổ, ngănngừa và chống bệnh SIDA Bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em, thực hiện tốt dự phòngtích cực ngay trong thời kỳ thai nhi Bảo đảm nhu cầu về thuốc chữa bệnh Mở rộngcông nghiệp trang thiết bị y tế, tích cực chuẩn bị xây dựng công nghiệp hoá dược vàkháng sinh, phát triển nuôi trồng cây, con làm thuốc Phát triển bảo hiểm khám chữabệnh, tăng ngân sách cho hoạt động khám chữa bệnh Phát triển khoa học y dược học,xây dựng các mũi nhọn y dược học, y tế Việt Nam, chú trọng đào tạo cán bộ, tiếpnhận tiến bộ khoa học thế giới ứng dụng thích hợp vào nước ta trên cơ sở đông - tây ykết hợp
Công tác thể dục, thể thao cần coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trongcác trường học; tổ chức hướng dẫn và vận động đông đảo nhân dân tham gia rèn luyệnthân thể hằng ngày; nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng vận động viên,nâng cao thành tích một số môn thể thao Cải tiến tổ chức, quản lý các hoạt động thểdục, thể thao theo hướng kết hợp chặt chẽ các tổ chức nhà nước và các tổ chức xã hội.Tạo các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất và khoa học, kỹ thuật để phát triển nhanhmột số môn thể thao Việt Nam có truyền thống và có triển vọng
Thứ tư là chính sách giải quyết dân số và việc làm được coi là một mục tiêu rất quan trọng trong kế hoạch 5 năm tới Giảm tốc độ tăng dân số là một quốc sách, phải
trở thành cuộc vận động rộng lớn, mạnh mẽ và sâu sắc trong toàn dân Tăng kinh phí,phương tiện, cán bộ, đồng thời thực hiện đồng bộ các biện pháp giáo dục, hành chính
để đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch Củng cố các tổ chức chuyên tráchcông tác dân số và kế hoạch hoá gia đình Phương hướng quan trọng nhất để giải
Trang 21quyết việc làm là thực hiện tốt Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, coi trọng cả pháttriển sản xuất và dịch vụ Kết hợp giữa giải quyết việc làm tại chỗ với phân bố lại laođộng theo vùng lãnh thổ, xây dựng các khu kinh tế mới, hình thành các cụm kinh tế -kỹ thuật - dịch vụ nhỏ ở nông thôn, ở các thị trấn, thị tứ, đồng thời mở rộng xuất khẩulao động Đa dạng hóa việc làm và thu nhập để thu hút lao động của mọi thành phầnkinh tế Giải quyết việc làm là trách nhiệm của mọi ngành, mọi cấp, mọi đơn vị thuộcmọi thành phần kinh tế, của từng gia đình, từng người, với sự đầu tư của Nhà nước,các đơn vị kinh tế và nhân dân Có chương trình đồng bộ giải quyết việc làm Sớmban hành Luật lao động và các quy chế cụ thể để bảo đảm quyền lợi, trách nhiệm vànghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động
Thứ năm là về giáo dục, nhiệm vụ của 5 năm tới là tiếp tục đổi mới, ổn định,
phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Coi trọng chất lượng giáo dụcchính trị, đạo đức cho học sinh và sinh viên; hiện đại hoá một bước nội dung, phươngpháp giáo dục; dân chủ hoá nhà trường và quản lý giáo dục; đa dạng hóa loại hình đàotạo và loại hình trường lớp; từng bước hình thành những trường bán công, dân lập, tưthục (dạy nghề), phát triển loại trường vừa học vừa làm Mở rộng đào tạo nghề; bồidưỡng nhiều người giỏi về khoa học, công nghệ, kinh doanh, về quản lý kinh tế, xãhội và nhiều công nhân lành nghề; nâng cao trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật chongười lao động
Củng cố, ổn định trường lớp hiện có của giáo dục mầm non Tập trung thực hiệnchương trình phổ cập giáo dục cấp I và chống mù chữ; phát triển cấp II, cấp III phùhợp với yêu cầu và khả năng của từng địa phương Củng cố và phát triển trường phổthông cho trẻ em có tật Sắp xếp lại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp và dạy nghề Mở rộng một cách hợp lý quy mô đào tạo đại học, mở rộng vànâng cao chất lượng đào tạo sau đại học Tiếp tục cải tiến chế độ tuyển sinh và chế độhọc bổng Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, thực nghiệm giáo dục, thể chế hoá cơ cấucủa hệ thống giáo dục quốc dân Tăng đầu tư cho miền núi và vùng dân tộc thiểu số,
mở rộng các trường nội trú, quy hoạch đào tạo cán bộ và trí thức người dân tộc Trongnhững năm tới, cần tổng kết cuộc cải cách giáo dục vừa qua, chuẩn bị tiến hành cuộccải cách giáo dục mới theo hướng đào tạo một đội ngũ lao động có trí tuệ thích ứngvới nền kinh tế hàng hoá
Trang 22Những điểm mới của đại hội VII với đại hội VI: Trước hết là đã nêu ra đượcnhững đổi mới về chính sách tiền lương và thu nhập, cùng với đó là chính sách bảohiểm y tế đảm bảo lợi ích cho người lao động
2.3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: (1996)
- Khuyết điểm và yếu kém:
Tình hình xã hội còn nhiều vấn đề tiêu cực và nhiều vấn đề phải giải quyết Nạn thamnhũng, buôn lậu, lãng phí của công chưa ngăn chặn được Tiêu cực trong bộ máy nhànước, Đảng và đoàn thể, trong các doanh nghiệp nhà nước, nhất là trên các lĩnh vựcnhà đất, xây dựng cơ bản, hợp tác đầu tư, thuế, xuất nhập khẩu nghiêm trọng kéodài Việc làm đang là vấn đề gay gắt Sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng thành thị
và nông thôn và giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh
- Nhiệm vụ và mục tiêu:
Chính sách giải quyết một số vấn đề xã hội theo quan điểm: tăng trưởng kinh tế gắnliền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình pháttriển: khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo Thu hẹp dầnkhoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầnglớp dân cư, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, “đền
ơn đáp nghĩa”, “nhân hậu thủy chung”
Phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo Đảng chủ trương phát triểnmạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục vàđào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡngnhân tài Coi trọng cả quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo
2.4 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX :
Đại hội IX đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch của 5 năm (1996-2000) : Vănhóa, xã hội có những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện; chủtrương các chính sách xã hội phải hướng vào phát triển và làm lành mạnh hoá
xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triểnsản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ
xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp
Trang 23 Yếu kém, khuyết điểm: Một số vấn đề văn hóa - xã hội bức xúc chậm được
Thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội.
Khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp.
Đề ra, “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010” nhằm: Đưanước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ,kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước
ta trên trường quốc tế được nâng cao
Thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội,thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăngnăng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khíchnhân dân làm giàu hợp pháp
Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản Bằng nhiều giải pháp, tạo
ra nhiều việc làm mới, tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng, nhất là trong nôngnghiệp và nông thôn Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề, các cơ sở sảnxuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động Chăm lo cải thiện điều kiện làmviệc, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệpcho người lao động Khôi phục và phát triển các làng nghề, đẩy mạnh phong trào lậpnghiệp của thanh niên và đào tạo lao động có nghề Tổ chức, quản lý chặt chẽ hoạtđộng xuất khẩu lao động và bảo vệ quyền lợi người lao động ở nước ngoài Khẩntrương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội Sớm xây dựng và thựchiện chính sách bảo hiểm đối với người lao động thất nghiệp
Trang 24Cải cách cơ bản chế độ tiền lương cán bộ, công chức theo hướng tiền tệ hoáđầy đủ tiền lương; điều chỉnh tiền lương tương ứng với nhịp độ tăng thu nhập trong xãhội; hệ thống thang bậc lương bảo đảm tương quan hợp lý, khuyến khích người có tài,người làm việc giỏi Khắc phục tình trạng bất hợp lý về trợ cấp của người nghỉ hưu,thương binh, bệnh binh và những người có hoàn cảnh khó khăn Các doanh nghiệpđược tự chủ trong việc trả lương và tiền thưởng trên cơ sở năng suất lao động và hiệuquả của doanh nghiệp Nhà nước và xã hội tôn trọng thu nhập hợp pháp của ngườikinh doanh.
Thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo thông qua những biện pháp cụ
thể, sát với tình hình từng địa phương, sớm đạt mục tiêu không còn hộ đói, giảm mạnhcác hộ nghèo Tiếp tục tăng tổng nguồn vốn xóa đói, giảm nghèo, mở rộng các hìnhthức tín dụng trợ giúp người nghèo sản xuất, kinh doanh Có chính sách trợ giá nôngsản, phát triển việc làm và nghề phụ nhằm tăng thu nhập của các hộ nông dân Thựchiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cuộc sống mọi thành viên cộng đồng, baogồm bảo hiểm xã hội đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế, cứu trợ xãhội những người gặp rủi ro, bất hạnh
Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia các hoạtđộng đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, nhữngngười có công với nước, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh và cha mẹ, vợ conliệt sĩ, người được hưởng chính sách xã hội
Đẩy mạnh việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ở nông thôn nhưtrường học, trạm y tế, điện, nước sạch, chợ và đường giao thông Đầu tư nhiều hơncho những xã đặc biệt khó khăn Có chính sách thiết thực khuyến khích cán bộ khoahọc, kỹ thuật đến công tác tại các vùng sâu, vùng xa
Chính sách dân số nhằm chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân sốphù hợp với những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nâng cao chất lượng các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hoá gia đình; giải quyết tốt mối quan hệgiữa phân bố dân cư hợp lý với quản lý dân số và phát triển nguồn nhân lực
Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhằmgiảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi Củng cố
Trang 25và hoàn thiện mạng lưới y tế, đặc biệt là ở cơ sở Xây dựng một số trung tâm y tếchuyên sâu Đẩy mạnh sản xuất dược phẩm, bảo đảm các loại thuốc thiết yếu đến mọiđịa bàn dân cư Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe; đổi mới cơ chế
và chính sách viện phí; có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo, tiếntới bảo hiểm y tế toàn dân Nhà nước ban hành chính sách quốc gia về y học cổtruyền Kết hợp chặt chẽ y học hiện đại với y học cổ truyền từ khâu đào tạo đến khâukhám bệnh và điều trị
Chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em tập trung vào thực hiện quyền trẻ em, tạođiều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, phát triển hàihoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức; trẻ em mồ côi, bị khuyết tật, sống tronghoàn cảnh đặc biệt khó khăn có cơ hội học tập và vui chơi
Phát động phong trào toàn dân tập luyện thể dục, thể thao, nâng cao sức khoẻ
và tầm vóc người Việt Nam; phổ biến rộng rãi kiến thức về tự bảo vệ sức khoẻ Tăngđầu tư của Nhà nước cho lĩnh vực thể thao thành tích cao
Tăng cường lãnh đạo và quản lý phong trào toàn dân đấu tranh phòng chống tộiphạm, giữ gìn trật tự và kỷ cương xã hội, ngăn chặn và bài trừ các tệ nạn xã hội, nhất
là nạn mại dâm, ma tuý; ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS Xây dựng lốisống văn minh, lành mạnh
Các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá, đề cao tráchnhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự thamgia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội
Giáo dục: Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung,
phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện
"chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá" Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dânbằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện "giáo dụccho mọi người", "cả nước trở thành một xã hội học tập" Củng cố thành tựu xóa mùchữ và phổ cập giáo dục tiểu học, phấn đấu để ngày càng có nhiều trường tiểu học đủđiều kiện học hai buổi mỗi ngày tại trường, được học ngoại ngữ và tin học Thực hiệncông bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội học tập, tiếptục phát triển các trường phổ thông nội trú dành cho con em dân tộc thiểu số, chú
Trang 26trọng quyền được học tập của nhân dân ở trên hai nghìn xã nghèo nhất Thực hiện chủtrương xã hội hoá giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việcxây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục.Trong những năm trước mắt, giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc: sửa đổichương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực của sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá; cải tiến chế độ thi cử, khắc phục khuynh hướng "thương mại hoá"giáo dục, ngăn chặn những tiêu cực trong giáo dục; quản lý chặt chẽ việc cấp vănbằng, công nhận học hàm, học vị; chấn chỉnh công tác quản lý hệ thống trường học cảcông lập và ngoài công lập.
2.5 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X :
Đại hội X của Đảng họp vào lúc toàn Đảng, toàn dân ta kết thúc 5 năm thựchiện Nghị quyết Đại hội IX và đã trải qua 20 năm đổi mới Kết hợp các mục tiêu kinh
tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thựchiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển,thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi vànghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho pháttriển kinh tế - xã hội Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc
Khuyến khích mọi người làm giàu theo luật pháp, thực hiện có hiệu quả cácchính sách xoá đói giảm nghèo Tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận bình đẳng các nguồnlực phát triển, hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên thoát đói nghèo vữngchắc ở các vùng nghèo và các bộ phận dân cư nghèo Khắc phục tư tưởng bao cấp, ỷlại
Xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ côngcộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo dục và đào tạo, tạo việc làm,chăm sóc sức khoẻ, văn hoá - thông tin, thể dục thể thao…
Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Đa dạng hoá các loại hình cứutrợ xã hội, tạo việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, hướng tới xuất khẩu lao độngtrình độ cao Tiếp tục đổi mới chính sách tiền lương, chính sách phân phối thu nhập
Trang 27Phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả, bảo đảm mọi người dân đượcchăm sóc và bảo vệ sức khoẻ Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư để nâng cấp các cơ sở y
tế, y tế dự phòng, xây dựng và hoàn thiện chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế chongười hưởng chính sách xã hội và người nghèo trong khám, chữa bệnh Phát triển cácdịch vụ y tế công nghệ cao và ngoài công lập
Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế Có chiến lược, quyhoạch và cơ chế, chính sách hợp lý để phát triển hệ thống sản xuất, lưu thông, phânphối thuốc chữa bệnh; phát triển mạnh các ngành công nghiệp dược, thiết bị y tế đápứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền
Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc con người ViệtNam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi Tăng cường thể lực của thanhniên Phát triển mạnh thể dục thể thao, kết hợp tốt thể thao phong trào và thể thaothành tích cao, dân tộc và hiện đại Có chính sách và cơ chế phù hợp để phát hiện, bồidưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước ta đạt vị trí cao của khu vực, từngbước tiếp cận với châu lục và thế giới ở những bộ môn Việt Nam có ưu thế…
Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản Thúc đẩy phong trào toàn xã hộichăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môitrường an toàn, lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ và đạo đức; giảmnhanh tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng Phòng chống HIV/AIDS bằng các biện pháp mạnh
mẽ, kiên trì và có hiệu quả
Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Giảm tốc độ tăngdân số Tiếp tục duy trì kế hoạch giảm sinh và giữ mức sinh thay thế, bảo đảm quy mô
và cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số Phát huy những giá trị truyềnthống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc,thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quantrọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huyvăn hoá truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc