1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu ôn HSG Lịch sử 9 (Phần Việt Nam chi tiết)

61 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 104,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Sự ra đời của ĐCS Pháp tạo điều kiện để gắn kết phong trào cách mạng VN với phongtrào công nhân quốc tế, đưa nhân dân VN đi theo con đường cách mạng vô sản.- Tiếp đó, một số Đảng Cộng

Trang 1

BÀI 14 VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT

I CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ HAI.

1 Nguyên nhân.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), Pháp tuy là nước thắng trận, nhưng đất nước

bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế kiệt quệ, các ngành như: công, nông, thương nghiệp đều bịtàn phá nặng nề, nợ nước ngoài tăng, các khoản đầu tư ở Nga mất trắng…Thêm vào đócuộc khủng hoảng kinh tế trong thế giới tư bản ngày càng gây khó khăn cho nền kinh tếPháp

Để bù đắp lại những thiệt hại to lớn do chiến tranh gây ra và nhằm củng cố lại địa vị kinh tếcủa Pháp trong hệ thống tư bản chủ nghĩa Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa với quy môlớn và tốc độ nhanh, trong đó có thuộc địa Đông Dương, chủ yếu ở Việt Nam

2 Mục đích

+ Khai thác nguồn tài nguyên phong phú của Việt Nam

+ Bóc lột nguồn nhân công rẻ mạt

+ Biến VN thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của Pháp Làm sao để bóc lột được nhiều nhất

và kiếm lời được nhiều nhất

3 Những điểm mới trong cuộc KTTD lần 2

- Đầu tư vốn mạnh với tốc độ nhanh, quy mô lớn vào các ngành kinh tế Việt Nam

- Chú trọng đầu tư khai thác các lĩnh vực nông nghiệp, khai thác mỏ, trước hết là mỏ than

- Phát triển thương nghiệp, trước hết là ngoại thương có sự tăng tiến hơn trước

- Phát triển giao thông vận tải nhằm phục vụ công cuộc khai thác và vận chuyển nguyên vậtliệu, lưu thông hàng hóa trong và ngoài nước

- Lập Ngân hàng Đông Dương để nắm quyền chỉ huy kinh tế Thi hành các biện pháp tăngthuế nặng nên ngân sách Đông Dương

4 Tóm tắt nội dung Chương trình KTTD lần 2 ở Việt Nam

*KINH TẾ

( Mở bài: Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp là nước thắng trận, nhưng chịu nhiều thiệt hại bởi chiến tranh Để bù đắp thiệt hại do chiến tranh gây ra và khôi phục vị thế của nước Pháp trong thế giới tư bản chủ nghĩa, Chính phủ Pháp vừa tìm cách thúc đẩy sản xuất trong nước, vừa tăng cường đầu tư khai thác các nước thuộc địa, trước hết là châu Phi và Đông Dương.

Ở Đông Dương (Việt Nam), chương trình KTTĐ 2 của Pháp do toàn quyền Đông Dương Anbe Xarô vạch ra, thực hiện trong những năm 1919-1929 Nội dung cơ bản chương trình khai thác với trọng tâm là Kinh tế như sau:)

- Pháp đầu tư với tốc độ nhanh, quy mô lớn vào các ngành kinh tế Trong vòng 6 năm (1924

- 1929) vốn đầu tư vào Đông Dương (chủ yếu là Việt Nam) lên 4 tỉ phrăng (tăng lên 6 lần sovới 20 năm trước), vào các ngành kinh tế nhiều nhất là nông nghiệp:

- Nông nghiệp: là ngành bỏ vốn nhiều nhất lên đến 400 triệu Phrăng, chủ yếu cho đồn điền,nhất là cao su Diện tích trồng cao su tăng từ 15 ngàn héc-ta năm 1918, đến 1930 tăng lên78.620 héc-ta Nhiều công ty mới ra đời như công ty Đất Đỏ, công ty Misơlanh

- Công nghiệp: Pháp tập trung khai thác mỏ, chủ yếu là mỏ than Nhiều công ty khai mỏđược thành lập như công ty than Hạ Long, Đông Triều…; đầu tư thêm vào việc khai tháckẽm, thiếc, sắt; sản xuất tơ, sợi, gỗ, diêm, đường, xay xát

- Thương nghiệp: thực dân Pháp tiến hành chính sách độc chiếm thị trường Ngoại thương

Trang 2

có bước phát triển hơn trước chiến tranh nhưng hàng chủ yếu xuất nhập sang Pháp Giaolưu nội địa được đẩy mạnh Chính sách bảo hộ mậu dịch được siết chặt, đánh thuế nặnghàng hóa các nước nhập vào Việt Nam, chủ yếu là của Trung Quốc và Nhật Bản.

- Giao thông vận tải được đầu tư và phát triển cả đường bộ, đường sắt, đường thủy nhằmphục vụ công cuộc khai thác và các mục đích quân sự Các tuyến đường sắt mới được xâydựng như tuyến Đồng Đăng - Na Sầm (1922) tuyến Vinh - Đông Hà (1927); xây dựng vàphát triển các cảng biển như Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng, Bến Thủy, Hòn Gai…

- Tài chính, Ngân hàng Đông Dương nắm quyền chỉ huy các ngành kinh tế Đông Dương,phát hành tiền giấy, cho vay lãi

- Pháp còn tăng cường thủ đoạn bóc lột nhân dân ta bằng cách đánh thuế ruộng đất, thuếthân và các thứ thuế khác Năm 1930, ngân sách do thu thuế tăng 3 lần so với năm 1912

Nhận xét (Kết bài): Pháp du nhập vào Việt Nam quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đồng

thời vẫn duy trì quan hệ sản xuất phong kiến, làm cho nền kinh tế ở Việt Nam có bước biếnđổi mới, nhưng vẫn bị kìm hãm và lệ thuộc vào kinh tế Pháp: hạn chế phát triển côngnghiệp nặng

- Việt Nam thành một thị trường độc chiếm và phụ thuộc vào Pháp

- Xã hội Việt Nam ngày càng phân hóa sâu sắc hơn Bên cạnh giai cấp cũ (địa chủ phongkiến, nông dân) xuất hiện những tầng lớp, giai cấp mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản) vớinhững lợi ích riêng và thái độ chính trị khác nhau

* Đặc điểm nổi bật nhất của nền kinh tế Việt Nam sau CTTG1:

- Là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu phụ thuộc chặt chẽ vào nền kinh tế Pháp

* CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA, GIÁO DỤC (Các thủ đoạn của Pháp)

- Về chính trị:

+ Chúng thực hiện chính sách chia để trị: Chia cả nước thành ba kì với ba chế độ khácnhau; chia rẽ các dân tộc đa số và thiểu số, giữa các tôn giáo; triệt để lợi dụng bộ máycường hào của giai cấp địa chủ phong kiến ở nông thôn để bảo vệ sự thống trị của chúng.+ Chúng thi hành một số cải cách chính trị - hành chính để đối phó với biến động ở ĐôngDương như: Lập Viện Dân biểu Trung Kì (2/1926) Viện dân biểu Bắc Kì (4/1926)

- Về văn hóa, giáo dục:

+ Chúng thi hành chính sách văn hóa nô dịch, ra sức khuyến khích các hoạt động mê tín,các tệ nạn xã hội

+ Trường học được mở hết sức nhỏ giọt, chủ yếu là các trường tiểu học, các trường trunghọc chỉ có ở thành phố Các trường đại học và cao đẳng ở hà Nội, thực chất là trườngchuyên nghiệp nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác

+ Nhà cầm quyền Pháp sử dụng báo chí để tuyên truyền và gieo rắc ảo tưởng hòa bình, hợptác với đế quốc và tay sai

* Nhận xét:

- Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, chính sách cai trị của Pháp ở VN không hề thay đổi,chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế, mọi quyền hành đều nằm trong tay sai Mụcđích của các thủ đoạn chính trị, văn hóa, giáo dục đều nhằm phục vụ cho sự thống trị củaPháp ở Đông Dương

- Chính sách cai trị hà khắc cùng bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù đã làm cho mâu thuẫn xãhội ngày càng gay gắt hơn, tác động trực tiếp đến sự bùng nổ và phát triển của một phongtrào cách mạng mới ở nước ta

- Tuy nhiên, hệ quả ngoài ý muốn của thực dân Pháp là sự phát triển của tầng lớp viên chức,học sinh, sinh viên, tiểu tư sản, nhà văn, nhà báo cùng với những trào lưu tư tưởng , khoa

Trang 3

học, kĩ thuật, văn hóa nghệ thuật phương Tây có điều kiện tràn vào Việt NAm Sự ra đờicủa các giai cấp mới góp phần tạo cơ sở xã hội cho phong trào dân tộc, dân chủ, phát triển ởnước ta trong những năm 1919 - 1930.

* Đặc điểm nổi bật nhất chính trị, văn hóa giáo dục Việt Nam sau CTTG1:

- Thực hiện chính sách nô dịch, đồi trụy để phục vụ đắc lực cho quá trình khai thác thuộc địa.

- Thực hiện chính sách mị dân nhằm lừa bịp nhân dân ta.

- Với mục đích tạo ra lực lượng tay sai phục vụ cho quá trình thống trị và khai thác , nô dịch các tầng lớp nhân dân Đông Dương.

5 Vì sao Pháp đầu tư vào nông nghiệp (chủ yếu là trồng cao su), khai thác mỏ(chủ yếu là than)?

- Vì bỏ ít vốn mà thu hồi vốn lại nhanh và lãi cao

- Ở VN nông nghiệp có điều kiện thuận lợi để phát triển: tự nhiên, nhân công

- Bóc lột theo kiểu PK

- Vì thị trường thế giới lúc bấy giờ rất cần cao su, than đá: sản xuất ôtô phát triển

- Các ngành trên không ảnh hưởng đến sự phát triển của công nghiệp chính quốc

6 Vì sao Pháp không đầu tư vào công nghiệp nặng?

- Vì bỏ vốn nhiều mà thu hồi vốn lại chậm

- Muốn phát triển công nghiệp nặng phải có công nhân kĩ thuật Muốn có công nhân kĩthuật phải mở trường đào tạo, điều này trái với chính sách văn hóa, giáo dục của thực dânPháp

- Chúng muốn làm cho nền kinh tế nước ta lạc hậu, không muốn cho kinh tế nước ta pháttriển mà phải phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp

- Bản chất của chủ nghĩa đế quốc Pháp là chủ nghĩa đế quốc cho vay lãi

7 Tác động đến nền kinh tế Việt Nam

- Về tính chất nền kinh tế: Cuộc khai thác lần thứ hai, nền kinh tế tư bản thực dân tiếp tục

được mở rộng và trùm lên nền kinh tế phong kiến Việt Nam Nền kinh tế tư bản chủ nghĩađược hình thành và phát triển Tuy nhiên, thực dân Pháp không du nhập hoàn chỉnh phươngthức tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam, mà duy trì quan hệ phong kiến, kết hợp hai phươngthức bóc lột và tư bản thu nhiều lợi nhuận Vì vậy, nền kinh tế Việt Nam vẫn mang tính chấtthực dân nửa phong kiến

- Về cơ cấu ngành kinh tế:

+ Trong quá trình đầu tư vốn và khai thác thuộc địa, thực dân Pháp cũng có đầu tư kĩ thuật,phát triển một số ngành công nghiệp, giao thông vận tải, ngân hàng, ngoại thương và giaolưu nội địa được đẩy mạnh

+ Như vậy, cơ cấu ngành kinh tế VN có sự chuyển biến ít nhiều, song chỉ phát triển ở nhữngngành có sẵn nguyên liệu, nhân lực và thị trường Ngành công nghiệp, đặc biệt là côngnghiệp nặng không được phát triển, nền kinh tế Việt Nam phổ biến vẫn trong tình trạng lạchậu, nghèo nàn, ngày càng bị cột chặt vào kinh tế chính quốc và Đông Dương vẫn là thịtrường độc chiếm của Pháp

- Về cơ cấu vùng kinh tế, thành phần kinh tế:

+ Do thực dân Pháp tập trung nguồn vốn, kĩ thuật, nhân lực vào một số vùng kinh tế, làmxuất hiện một số vùng mới như đồn điền, vùng mỏ, khu công nghiệp ở các thành thị.Từ chỗchủ yếu chỉ có thành phần kinh tế tiểu nông, xuất hiện thêm thành phần tư bản nhà nước,tiểu thương, tiểu chủ

Trang 4

=> Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam về cơ bản vẫn là một nên kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kémphát triể và phụ thuộc vào kinh tế Pháp

8 Tác động, chuyển biến về các giai cấp trong xã hội VN.

- Dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa, xã hội Việt Nam phân hóa ngày càng sâu sắc:bên cạnh những giai cấp cũ, nay xuất hiện những tầng lớp, giai cấp mới Mỗi tầng lớp, giaicấp có quyền lợi và địa vị khác nhau, nên cũng có thái độ chính trị và khả năng cách mạngkhác nhau:

+ Giai cấp địa chủ phong kiến tiếp tục phân hóa thành ba bộ phận địa chủ, trung đại chủ và

đại địa chủ Bộ phận đại địa chủ thường được Pháp sử dụng trong bộ máy cai trị; chúng đẩymạnh bóc lột về kinh tế và tăng cường kìm kẹp, đàn áp về chính trị đối với nông dân Một

bộ phận tiểu, trung địa chủ có ý thức chống đế quốc và tay sai, họ sẽ tham gia vào phongtrào yêu nước khi có điều kiện

+ Giai cấp nông dân chiếm đại đa số trong xã hội VN (khoảng 90%), bị bần cùng không lối

thoát Mâu thuẫn giữa nông dân với đế quốc Pháp và tay sai rất gay gắt Đây chính là độnglực to lớn của cách mạng

+ Giai cấp tiểu tư sản ra đời gồm chủ xưởng, những người buôn bán nhỏ, học sinh, sinh

viên, trí thức… tăng nhanh về số lượng, có ý thức dân tộc dân chủ, chống thực dân Pháp vàtay sai Đặc biệt bộ phận trí thức, học sinh, sinh viên có điều kiện tiếp xúc với các trào lưu

tư tưởng văn hóa tiến bộ bên ngoài, nên rất hăng hái tham gia các cuộc đấu tranh vì độc lập,

tự do của dân tộc…

+ Giai cấp tư sản hình thành sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phân hóa thành hai bộ phận

tư sản mại bản và tư sản dân tộc Tầng lớp tư sản mại bản có quyền lợi gắn với đế quốc

nên câu kết chặt chẽ về chính trị với chúng; tầng lớp tư sản dân tộc có khuynh hướng kinhdoanh độc lập nên ít nhiều có tinh thần dân tộc, dân chủ chống đế quốc và phong kiến,nhưng thái độ chính trị không kiên định, dễ thỏa hiệp

+ Giai cấp công nhân: ra đời từ cuộc khai thác lần thứ nhất của pháp và phát triển nhanh

trong cuộc khai thác lần thứ hai Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng: bị

ba tầng áp bức bóc lột (đế quốc, phong kiến, tư sản người Việt); có quan hệ tự nhiên gắn bóvới nông dân; kế thừa truyền thống yêu nước anh hùng và bất khuất của dân tộc Đây là giaicấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến toàn thắng

- Đặc biệt, giai cấp công nhân Việt Nam ngay từ khi mới ra đời đó tiếp thu ảnh hưởng củaphong trào cách mạng thế giới, nhất là của chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng tháng MườiNga

- Do đó, giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành một lực lượng chính trị độc lập, đi đầutrên mặt trận chống đế quốc phong kiến, nhanh chóng vươn lên nắm quyền lãnh đạo cáchmạng nước ta

Chính sách khai thác thuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ I của Pháp đã làm các giai cấp ởViệt Nam phân hoá nhanh chóng và sâu sắc hơn

9 Ý nghĩa sự chuyển biến giai cấp trong XH

(Có thể lấy đây làm kết bài cho phần 9 Tác động chuyển biến về xã hội)

- Sự phân hóa xã hội nhất là sự xuất hiện của giai cấp mới như : công nhân, tư sản và tiểu tưsản đã làm cho xã hội VN có đầy đủ những giai cấp của một xã hội hiện đại Đồng thời còntạo ra cơ sở xã hội cho phong trào yêu nước những năm 1919 - 1930 phát triển theo cáckhuynh hướng cứu nước mới

- Các hệ tư tưởng tư sản và vô sản truyền bá về VN được các giai cấp mới tiếp thu, sử dụnglàm vũ khí đấu tranh giải phóng dân tộc Nhờ đsom phong trào yêu nước và cách mạng

Trang 5

những năm 1919-1930 phát triển với hai khuynh hướng là khuynh hướng vô sản và tư sản.

- Do những biến đổi về kinh tế và giai cấp xã hội cùng những tác động của trào lưu cáchmạng thế giới, nhất là cách mạng tháng Mười Nga đã kết thúc đẩy phong trào dân tộc, dânchủ ở VN ngày càng phát triển

10 Các mâu thuẫn cơ bản trong xã hội VN

Do tác động về kinh tế và những biến đổi sâu sắc về xã hội trong cuộc khai thác thuộc địalần thứ hai của thực dân Pháp làm cho xã hội VN nảy sinh hai mâu thuẫn cơ bản:

- Mâu thuẫn dân tộc, giữa dân tộc VN với thực dân Pháp Đây là mâu thuẩn cơ bản nhất và

là vấn đề cần phải giải quyết nhất và đây chính là nhiệm vụ của cuộc cách mạng giải phóngdân tộc

- Mâu thuẫn giai cấp, giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến

Hai mâu thuẫn này vừa là nguồn gốc vừa là động lực làm nảy sinh và thúc đẩy mọi phongtrào yêu nước chống thực dân, phong kiến ở nước ta

- Địa chủ phong kiến, nhất là đại địa chủ dựa vào Pháp để bóc lột nông dân, làm cho đờisống nông dân vốn đã khốn khổ lại càng thêm khốn khổ

11.Vì sao giai cấp công nhân Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo cách mạng ?

- Ra đời trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất, phát triển nhanh chóng về số lượng vàchất lượng trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai (trước chiến tranh có 10 vạn, đến năm

1929 có hơn 22 vạn)

- Đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, lao động tập trung có kỉ luật, có kĩ thuật

- Ngoài những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam còn

có những đặc điểm riêng :

+ Bị áp bức bóc lột nặng nề nhất, nên có tinh thần cách mạng cao nhất

+ Có quan hệ tự nhiên gắn bó với giai cấp nông dân

+ Kế thừa truyền thống yêu nước anh hùng bất khuất của dân tộc

+ Vừa lớn lên, giai cấp công nhân Việt Nam đã tiếp thu ngay chủ nghĩa Mác – Lênin, ảnhhưởng cách mạng tháng Mười Nga và phong trào cách mạng thế giới

Do hoàn cảnh ra đời, cùng với những phẩm chất nói trên, giai cấp công nhân Việt Nam sớm

trở thành một lực lượng xã hội độc lập và tiên tiến nhất Vì vậy, giai cấp công nhân hoàn toàn có khả năng nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cách mạng

12 So sánh cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 11914) với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 – 1929) của thực dân Pháp ở VN.

Cuộc khai thác lần thứ nhất Cuộc khai thác lần thứ hai

Trang 6

cảnh

lịch sử

Sau khi thực hiện xong việc bình

định về quân sự, Pháp bắt đầu khai

- Bóc lột nguồn nhân công rẻ mạt

- Biến VN thành thị trường tiêu

thụ hàng hóa của Pháp

Giống lần 1

Nội

dung

Pháp đầu tư vào các ngành kinh tế:

- Nông nghiệp: Đẩy mạnh cướp

đoạt ruộng đất ; lập đồn điền

- Công nghiệp: chủ yếu là khai

thác mỏ, nhất là mỏ than

Ngoài ra bắt đầu hình thành cơ sở

công nghiệp tiêu dùng

- Thương nghiệp: Độc quyền xuất

- Giao thông vận tải: Chú ý phát

triển phục vụ công cuộc khai thác

- Công nghiệp: chủ yếu là khai thác than đá,sản lượng khai thác tăng gấp nhiều lần sovới trước chiến tranh Ngoài ra Pháp cònchú ý đến công nghiệp tiêu dùng, đặc biệt làcông nghiệp chế biến

- Thương nghiệp: Độc chiếm thị trườngViệt Nam,đánh thuế nặng hàng hóa nhập từNhật bản, Trung Quốc Tăng thuế đối vớihàng hóa nội địa

- Giao thông vận tải: Được đầu tư phát triển thêm, đường sắt xuyên Đông Dương đượcnối liền nhiều đoạn: Đồng Đăng – Na Sầm,Vinh – Đông Hà

Hệ

quả

Làm cho kinh tế VN bị què quặt,

ngày càng lệ thuộc vào chính

quốc

Càng làm cho kinh tế nước ta bị cột chặtvào kinh tế của nước Pháp Đông Dương trởthành thị trường độc chiếm của Pháp

Tác

động

- Phương thức sản xuất tư bản bắt

đầu nhu nhập vào VN tồn tại cùng

phương thức sản xuất phong kiến

- Xã hội VN đắt đầu sự phân hóa

Trang 7

I ẢNH HƯỞNG CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA VÀ PHONG TRÀO CÁCH MẠNG THẾ GIỚI TỚI VIỆT NAM.

1 Ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga 1917

- Cuộc cách mạng tháng Mười Nga không chỉ là cuộc cách mạng vô sản mà còn là cáchmạng giải phóng dân tộc, thắng lợi đó đã xóa bỏ ách thống trị của phong kiến và tư sảnNga, thành lập chính quyền Xô Viết của nhân dân lao động (công - nông - binh) Vì vậy, mở

ra trước mắt các dân tộc bị áp bức “thời đại giải phóng dân tộc”

- Các mạng tháng Mười Nga làm cho phong trào cách mạng ở phương Tây và phong tràogiải phóng dân tộc ở phương Đông có mối quan hệ mật thiết với nhau chì cùng chống một

kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc

- Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng sâu sắc đến Nguyễn Ái Quốc.Nhờ cách mạng tháng Mười mà NAQ đã tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy conđường cứu nước đúng đắn, con đường cách mạng theo khuynh hướng vô sản

2 Sự hình thành trật tự thế giới mới - Trật tự Véc-xai - Oa-sinh-tơn

- Tháng 6/1919, các nước đế quốc thắng trận trong CTTG I đã tổ chức hội nghị ở Véc-xai(Pháp) để phân chia lại thế giới, thiết lập một trật tự thế giới mới Thực chất, đây là sự phânchia khu vực cai trị, bóc lột của các nước đế quốc Theo đó Việt Nam tiếp tục là thuộc địacủa thực dân Pháp

- Thay mặt cho những người VN yêu nước ở Pháp, NAQ trình trước Hội nghị bản Yêu sáchđòi Chính phủ Pháp và các nước dự hội Nghị thừa nhận các quyền tự do dân chủ, quyềnbình đẳng, quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam Mặc dù bản Yêu sách đó không được chấpnhận nhưng đó là đòn tấn công trực diện đầu tiên của những người Việt Nam yêu nước đốivới các nước đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng, tạo tiếng vang lớn tại Pháp vàViệt Nam

3 Quốc tế Cộng sản ra đời và hoạt động.

- Sau thắng lợi của Cách mạng T10 Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bárộng rãi tạo điều kiện cho phong trào cách mạng ở các nước phát triển mạnh Nhiều tổ chức

và các đảng cộng sản lần lượt thành lập ở các nước trên thế giới Trước yêu cầu mới của sựnghiệp cách mạng, tháng 3/1919 Quốc tế Cộng sản thành lập ở Mát-xcơ-va

- Những văn kiện quan trọng được soạn thảo để trình trong Đại hội lần thứ hai (1920) đăng

trên báo Nhân đạo của Đảng xã hội Pháp nhất là Luận cương vấn đề dân tộc và thuộc địa

của Lênin đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức Luận cương

đã giúp NAQ xác định con đường đấu tranh đúng đắn cho nhân dân Việt Nam

- Tại Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản (1924), NAQ đã trình bày quan điểm củamình về vị trí chiến lược của cách mạng thuộc địa, về vai trò của giai cấp công dân ở cácnước thuộc địa, góp phần hình thành lý luận giải phóng dân tộc để truyền bá về Việt Nam,chuẩn bị điều kiện về chính trị tư tưởng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản VN

- Được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản và ĐCS Liên Xô, nhiều cán bộ cách mạng của VNđược học tập lý luận Mác - Lê-nin và truyền bá về VN, qua đó chuẩn bị những điều kiệncần thiết cho sự ra đời của ĐCS VN

4 Sự ra đời của ĐCS Pháp và một số ĐCS ở các nước Châu Á.

- Tháng 12/1920, tại Đại hội thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp (ĐH Tua), NAQ đã bỏ phiếugia nhập Quốc Tế Cộng sản, tham gia sáng lập ĐCS Pháp và trở thành người cộng sản VNđầu tiên Sự kiện đó đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động của NAQ từ người yêunước thành người cộng sản

Trang 8

- Sự ra đời của ĐCS Pháp tạo điều kiện để gắn kết phong trào cách mạng VN với phongtrào công nhân quốc tế, đưa nhân dân VN đi theo con đường cách mạng vô sản.

- Tiếp đó, một số Đảng Cộng sản ở châu Á được thành lập: ĐCS Indonesia (5/1920), ĐCSNhật Bản (7/2921), đặc biệt là ĐCS Trung Quốc (7/1921) đã tạo điều kiện thuận lợi chonhiều hoạt động cách mạng và việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào cách mạng VN

=> Những biến đổi của tình hình thế giới sau CTTG I đã ảnh hưởng rất lớn tới cách mạng

thuộc địa nói chung và đối với phong trào dân tộc dân chủ ở VN nói riêng, tạo điều kiện để

hình thành một khuynh hướng cách mạng mới ở VN đó là khuynh hướng vô sản Vì: Cách

mạng tháng 10 Nga là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới giành được thắng lợi;Quốc tế thứ ba là tổ chức quốc tế bảo vệ cho giai cấp vô sản thế giưới; Các Đảng Cộng sảncác nước thành lập để lãnh đạp phong trào đấu tranh của các nước theo con đường vô sản

( Bối cảnh Việt Nam lúc bấy giờ:

- Đất nước bị xâm lược => giải phóng dân tộc là yêu cầu cấp thiết.

- Cuộc khủng hoảng về đường lối => yêu cầu tìm kiếm con đường cứu nước mới

- Chuyển biến kinh tế - xã hội Việt Nam dưới tác động của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất.

- Tư tưởng dân chủ tư sản, vô sản được du nhập vào VN.)

II PHONG TRÀO DÂN TỘC, DÂN CHỦ CÔNG KHAI (1919-1925)

(Khuynh hướng dân chủ tư sản)

- Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), phong trào dân tộc dân chủ ở nước taphát triển mạnh mẽ, lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia ngày càng đông với nhiều

hình thức đấu tranh sôi nổi và phong phú

Trong giai đoạn này, giai cấp tư sản dân tộc và tiểu tư sản đã lãnh đạo phong trào chống

thực dân Pháp theo khuynh hướng dân chủ tư sản

1 Phong trào dân tộc dân chủ của giai cấp tư sản dân tộc.(1919-1925)

- Về mục tiêu: Hoạt động của giai cấp tư sản VN chỉ chủ trương cải cách chế độ mà không

chủ trương đánh đổ chế độ thực thống trị của thực dân phong kiến Cuộc đấu tranh của tưsản VN chủ yếu nhằm cải thiện điều kiện làm ăn trong khuôn khổ chế độ thuộc địa, đòi cácquyền lợi về kinh tế là chủ yếu Mũi nhọn cuộc đấu tranh cũng mới chỉ nhằm vào bộ phận

tư sản Hoa kiều hoặc một công ty tư bản Pháp, chưa dám chống lại toàn bộ ách cai trị củachủ nghĩa thực dân trên đất nước ta

- Về tính chất: Là phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản.

- Giai cấp tư sản ra đời sau CTTG I, phân hóa thành hai bộ phận tư sản mại bản và tư sảndân tộc Tầng lớp tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ vềchính trị với chúng; tầng lớp tư sản dân tộc có khuynh hướng kinh doanh độc lập nên ítnhiều có tinh thần dân tộc, dân chủ chống đế quốc và phong kiến, nhưng thái độ không kiênđịnh

- Giai cấp tư sản dân tộc nhân đà làm ăn thuận lợi sau chiến tranh muốn vươn lên giành vị

trí khá hơn trong nền kinh tế VN Năm 1919, tư sản VN mở cuộc vận động chấn hưng nội

hóa, bài trừ ngoại hóa Năm 1923, họ đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn và độc quyền xuất cảng lúa gạo ở Nam Kì của tư bản Pháp.

- Giai cấp tư sản dùng báo chí để bênh vực quyền lợi cho mình Năm 1923, một số tư sản và

đại địa chủ ở Nam Kì thành lập Đảng Lập Hiến để tập hợp lực lượng, rồi đưa ra một số

khẩu hiệu đòi tự do, dân chủ để tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng, nhằm gây áp lực vớiPháp, nhưng lại sẵn sàng thỏa hiệp với Pháp khi được chúng ban phát cho ít quyền lợi Năm

1927, thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng.

=> Nhận xét: Hoạt động của tư sản VN chủ yếu diễn ra trong khuôn khổ cả lương Đấu

tranh dân chủ công khai, khi Pháp nhượng bộ một số quyền lợi thì họ thỏa hiệp với chúng

Trang 9

nên đã bị phong trào quần chúng vượt qua Mặc dù vậy, cũng đóng góp rất lớn vào phongtrào dân tộc dân chủ Phong trào văn hoá tiến bộ đã khích lệ lòng yêu nước, đấu tranh giànhđộc lập, dân chủ của nhân dân và thanh niên, đồng thời truyền bá những trào lưu tư tưởngcách mạng mới, góp phần đưa phong trào yêu nước dân chủ ở nước ta phát triển mạnh.

2 Phong trào đấu tranh của tiểu tư sản (1919-1925)

- Về mục tiêu đấu tranh: Đòi các quyền tự do dân chủ, chống đế quốc và phong kiến, mở

đường giành độc lập dân tộc

- Về tính chất: Là phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản.

- Tầng lớp tiểu tư sản gồm chủ xưởng nhỏ, những người buôn bán nhỏ, học sinh, sinh viên,trí thức… tăng nhanh về số lượng, có ý thức dân tộc dân chủ, chống thực dân Pháp và taysai Đặc biệt bộ phận trí thức, học sinh, sinh viên rất hăng hái tham gia các cuộc đấu tranh

vì độc lập, tự do của dân tộc

- Tầng lớp tiểu tư sản trí thức đã tập hợp những tổ chức chính trị như Hội Phục Việt, Hưng

Nam, VN nghĩa đoàn, Đảng Thanh Niên…

- Họ xuất bản những tờ báo tiến bộ như “An Nam Trẻ”, “Người nhà quê”, “Chuông rè”.

Một số nhà xuất bản tiến bộ như Nam đồng thư xã, Cường học thư xã… Đã phát hànhnhiều loại sách tiến bộ

- Tháng 6/1924, tiếng bom của Phạm Hồng Thái tại Sa Diện (Quảng Châu), mở màn chothời đại đấu tranh mới của dân tộc “như cánh én báo hiệu mùa xuân”

- Hoạt động tiêu biểu của tiểu tư sản Việt nam là cuộc đấu tranh đòi cầm quyền Pháp thảPhan Bội Châu (1925) và tổ chức đám tang nhà yêu nước Phan Châu Trinh (1926)

=> Nhận xét: Phong trào giải phóng dân tộc , dân chủ của giai cấp tiểu tư sản Việt Nam

trong những năm 1919 - 1926 là cuộc đấu tranh dân chủ công khai, đã xuất hiện nhữnghình thức đấu tranh rất phong phú như: mít tinh biểu tình, bãi thị, bãi khóa, báo chí tuyêntruyền…

Đây là một phong trào yêu nước rộng lớn của tiểu Tư sản trí thức Việt Nam Phong trào dântộc, dân chủ của giai cấp tiểu tư sản VN trong những năm 1919-1925 đã chuẩn bị cho sự rađời của các tổ chức cách mạng trong những năm tiếp theo

3 Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản ở VN.

* Nguyên nhân thất bại:

- Giai cấp tư sản VN rất nhỏ yếu về kinh tế, lại chưa có một đường lối chính trị đúng đắn vàmột phương pháp khoa học

- Ngọn cờ tư tưởng tư sản tuy đối với người Việt Nam còn mới mẻ, nhưng đối với thế giới

đã lỗi thời, không đủ khả năng tập hợp lực lượng nhân dân tham gia trong các cuộc đấutranh chống đế quốc và tay sai

- Tổ chức chính trị của tư sản VN còn lỏng lẻo, thiếu cơ sở trong quần chúng, ít chú ý đếnđào tạo đảng viên và tuyên truyền trong quần chúng, thiếu phương pháp cách mạng thíchhợp nên không đủ sức chống đỡ trước sự tiến công của đế quốc Pháp

- Về nguyên nhân khách quan: Thực dân Pháp đang mạnh về quân sự, đã củng cố nền thốngtrị ở Đông Dương, so sánh lực lượng không có lợi cho cách mạng

Trang 10

- Góp phần đào tạo và rèn luyện thêm đội ngũ những nhà yêu nước cho phong trao cáchmạng Vn về sau, nhất là đội ngũ thanh niên, học sinh, sinh viên Để lại những bài học kinhnghiệm quý báu về sử dụng lực lượng, thời cơ cách mạng, hình thức đấu tranh.

III PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA CÔNG NHÂN (1919-1925)

1 Phong trào đấu tranh của công nhân (1919-1925)

- Hoàn cảnh lịch sử:

+ Sau CTTG I, giai cấp công nhân ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng Họ bị tưsản, thực dân, phong kiến áp bức bóc lột nặng nề Đời sống của công nhân vô cùng khổ cựcnên công nhân VN đã sớm đấu tranh chống áp bức

+ Ngay sau khi ra đời, công nhân VN đã sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu cách mạng vôsản, nên nhanh chóng vươn lên thành động lực của phong trào dân tộc dân chủ theo khuynhhướng cách mạng tiên tiến của thời đại

+ Các cuộc đấu tranh của công nhân và thủy thủ Pháp trên các tàu Pháp ghé vào Hải Phòng(1919), Sài Gòn (1920) và các cuộc đấu tranh của công nhân và thủy thủ Trung Quốc ở cáccảng lớn (1921), đã góp phần cổ vũ, động viên công nhân Việt Nam hăng hái đấu tranh

- Mục đích đấu tranh:

- Đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi quyền lợi về kinh tế

- Các phong trào đấu tranh:

+ Những năm đầu sau CTTG I, tuy các cuộc đấu tranh của công nhân còn lẻ tẻ và tự phát,nhưng đã cho thấy ý thức giai cấp đang phát triển, làm cơ sở cho các tổ chức và phong tràochính trị cao hơn về sau

+ Mở đầu là cuộc bãi công của công nhân và viên chức các cơ sở công thương của tư nhân

ở Bắc Kì vào năm 1922 đòi nghỉ ngày chủ nhật có trả lương

+ Năm 1924 có các cuộc bãi công của công nhân các nhà máy dệt, rượu, xay xát ở NamĐịnh, Hà Nội, Hải Dương

+ Tháng 8/ 1925, thợ máy xưởng Ba son tại cảng Sài Gòn đã bãi công không chịu sửa chữachiến hạm Misơlê của Pháp trước khi chiến hạm này chở lính sang tham gia đàn áp phongtrào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc Cuộc bãi công với yêu sách đòi tăng lương 20%.Kết quả: Cuộc bãi công thắng lợi, đánh dấu bước đầu đi vào đấu tranh có tổ chức và mụcđích chính trị rõ ràng

- Nhận xét: Phong trào có bước phát triển mới so với trước Tuy nhiên, phong trào vẫn dừnglại ở trình độ tự phát, còn phụ thuộc vào phong trào yêu nước

(+ Năm 1926 đến 1927, Nổ ra 27 cuộc đấu tranh, tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân nhà máy sợi Nam Định, đồn điền Cao

su Cam Tiêm (Đồng Nai) và Phú Riềng (Bình Phước)

+ Năm 1928 đến 1929, Phong trào vô sản hóa đã thúc đẩy phong trào công nhân tiếp tục phát triển, và sau đó là sự xuất hiện của

3 tổ chức cộng sản ở Việt Nam.

- Nhận xét: Các cuộc đấu tranh đã bắt đầu có sự liên kết thành phong trào chung, chứng tỏ trình độ giác ngộ của công nhân đã nâng lên Góp phần vào sự thắng thế của khuynh hướng vô sản trong cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng Chuẩn bị những điều kiện cho sự ra đời của ĐCS VN)

* Cuộc bãi công của công nhân ở xưởng đóng tầu Ba Son (8/1925) đánh dấu bước tiến mới vì:

(mốc quan trọng trên con đường phát triển của phong trào công nhân VN)

- 8/1925, công nhân xưởng Ba Son ở Sài Gòn đã bãi công ngăn cản tàu chiến Pháp chở línhsang đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân và thủy thủ Trung Quốc

- Nếu như các cuộc đấu tranh của công nhân trước đó chủ yếu vì mục đích kinh tế, thiếu tổchức lãnh đạo, mang tính tự phát thì cuộc bãi công của công nhân Ba Son là cuộc đấu tranhđầu tiên có tổ chức, lãnh đạo thể hiện tinh thần quốc tế vô sản, đấu tranh không chỉ nhằmmục đích kinh tế mà còn vì mục tiêu chính trị Đây là một bước chuyển quan trọng của giai

Trang 11

cấp công nhân Việt Nam, chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác Họ đã tỏ

rõ sức mạnh giai cấp và tinh thần quốc tế vô sản

- Từ cuộc bãi công Ba Son (8/1925), giai cấp công nhân Việt Nam bước vào đấu tranh tựgiác

2 Ý nghĩa của phong trào công nhân Việt Nam đối với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.

- Phong trào công nhân là cơ sở để tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và lý luận giải phóng dântộc của Nguyễn Ái Quốc Giai cấp công nhân ngày càng nhận thức rõ rệt vai trò và sứ mệnhlịch sử của giai cấp mình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc

- Sự phát triển của phong trào công nhân VN, có ảnh hưởng to lớn đến phong trào yêunước, trong đó giai cấp công nhân có vai trò trung tâm và trở thành lực lượng chính trị độclập, thu hút các lực lượng xã hội khác Qua đó, thúc đẩy phong trào yêu nước theo khuynhhướng vô sản

- Sự phát triển của phong trào công nhân nói riêng, có ảnh hưởng to lớn đến phong trào yêunước nói chung đặt ra yêu cầu phải có sự lãnh đạo của một Đảng Cộng sản Yêu cầu đó tácđộng vào các tổ chức hội Việt Nam Cách mạng Thanh Niên và Tân Việt cách mạng Đảng,dẫn đến cuộc đấu tranh nội bộ và sự phân hóa tích cực trong các tổ chức này, hình thànhnên ba tổ chức cộng sản ở VN, và cuối cùng là sự thống nhất các tổ chức đó thành ĐảngCộng Sản Việt Nam

Trang 12

BÀI 16 HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC Ở NƯỚC NGOÀI TỪ

1919 - 1925

Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19/5/1890 tại Làng Kim Liên (Nam Đàn - Nghệ An).Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước và lớn lên trên mảnh đất quê hương cótruyền thống yêu nước quận cường, đấu tranh bất khuất Người chứng kiến sự thất bại hàngloạt phong trào yêu nước và được tiếp xúc với nhiều nhà cách mạng đương thời Vì vậy, từrất sớm, NAQ sớm có lòng yêu nước

Tuy NAQ rất khâm phục tinh thần đấu tranh chống Pháp của các bậc tiền bối nhưng NAQ không tán thành con đường cứu nước của họ vì con đường cứu nước đó không phù hợp với hoàn cảnh đất nước, thậm trí đã thất bại Vì vậy, NAQ quyết trí ra đi tìm đường cứunước, nhằm tìm con đường cứu nước hữu hiệu hơn

1 NAQ ở Pháp (1917 - 1923)

Xuất phát từ lòng yêu nước và trên cơ sở rút kinh nghiệm thất bại của các thế hệ cách mạng tiền bối, NAQ đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước mới hữu hiệu hơn Nhưng khác với thế hệ thanh niên đầu thế kỉ hướng về Nhật Bản, NAQ quyết định sang phương Tây, đến

nước Pháp để tìm hiểu xem “nước Pháp và các nước khác làm thế nào, rồi sẽ trở về giúp đồng bào mình”.

- Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Ba, rời bến cảng Nhà Rồng ra nước ngoài tìm đường cứu nước

- Tháng 7/1911, Nguyễn Tất Thành từ Anh đến cảng Mác-xây (Pháp) Từ năm 1911 đến

1917, Người đã đi qua nhiều châu lục Á, Phi, Mĩ, Âu nhất là ba nước phát triển Mĩ, Anh, Pháp và làm nhiều nghề khác nhau Qua tìm hiểu và hoạt động thực tiễn, Người đã rút ra kết

luận: “ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị áp bức, bóc lột nặng nề ”

- Đầu tháng 12/1917, Người từ Luân Đôn trở lại Pari, tại đây, hoạt động đầu tiên của Người

là đấu tranh đòi cho binh lính và thợ thuyền VN sớm được hồi hương trở về với gia đình Năm 1919, Người gia nhập Đảng xã hội Pháp vì đây là tổ chức tiến bộ duy nhất ở Pháp lúc

đó và tham gia thành lập Hội những người VN yêu nước tại Pháp

- Tháng 6/1919, nhân dịp các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp Hội nghị Véc-xai, NAQ thay mặt nhóm người VN yêu nước tại Pháp, lấy tên là Nguyễn Ái

Quốc gửi đến Hội nghị Vécxai Bản yêu sách của nhân dân An Nam để tố cáo chính sách

thực dân của Pháp và đòi chính phủ Pháp và các nước tham dự hội nghị thừa nhận các quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng về quyền tự quyết của dân tộc VN Bản yêu sách không được Hội nghị chấp nhận Điều đó chứng tỏ các nước đế quốc sẽ không thực hiện những quyền tự quyết của các dân tộc như lời tuyên bố trong Chương trình 114 điểm của

Tổng thống Mĩ Uyn-xơn, đó chỉ là trò lừa bịp Nguyễn Ái Quốc đã kết luận: “muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.

- Giữa tháng 7/1920, nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin đăng trên báo Nhân đạo - cơ quan ngôn

luận của Đảng Xã hội Pháp Bản Luận cương đã giúp NAQ khẳng định con đường giành

độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam : “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng Vô sản”

- Tháng 12/1920, tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp (Đại hội Tua), NAQ bỏphiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng Sản và tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Pháp Sự

Trang 13

kiện đó đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động của Người từ chủ nghĩa yêu nước đến chủnghĩa Mác-Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản.

+ Năm 1921, NAQ cùng với một số người yêu nước của các nước trong khối thuộc địaPháp thành lập “Hội liên hiệp thuộc địa” ở Pari nhằm tập hợp những người dân thuộc địasống trên đất Pháp, nghiên cứu tình hình chính trị của thuộc địa để soi sáng cho cuộc đấutranh vì quyền lợi của nhân dân các nước thuộc địa Cơ quan ngôn luận của hội là báo

“Người cùng khổ” do chính Người làm chủ biên kiêm chủ bút

+ Những năm hoạt động ở Pháp (1921-1923), Người còn viết bài báo: Nhân đạo (ĐảngCộng sản Pháp), Đời sống công nhân (Liên đoàn lao động Pháp) và đặc biệt viết cuốn “Bản

án chế độ thực dân Pháp” (1925)

+ Tháng 6/1923, NAQ bí mật sang Liên Xô dự Đại hội Quốc tế Nông dân (10/1923) vàđược bầu vào Ban chấp hành Người ở tại Liên Xô, vừa nghiên cứu, học tập vừa viết bàicho báo “Sự thật” của ĐCS Liên Xô, tạp chí “Thư tín quốc tế” của Quốc tế Cộng sản Tại

ĐH lần thứ V của Quốc tế Cộng sản, NAQ đã trình bày quan điểm của mình về vị trí chiếnlược của cách mạng thuộc địa và mối quan hệ giữa phong trào công nhân ở các nước đếquốc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, về vai trò và sức mạnh to lớn của giaicấp nông dân ở các nước thuộc địa

- Việc tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc VN đã kết thúc hành trình tìmđường cứu nước, mở đầu giải quyết tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước đầu thế

kỉ XX

* Ý nghĩa:

- Tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản

- Tạo ra sự chuyển biến của NAQ, từ một người VN yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sảnquốc tế

- Gắn cuộc đấu tranh của nhân dân VN với phong trào đấu tranh tiến bộ của nhân dân toànthế giới

2 NAQ ở Liên Xô (1923 -1924).

- NAQ xây dựng và truyền bá lí luận giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cáchmạng vô sản:

+ Tháng 6/1923, NAQ bí mật sang Liên Xô dự Đại hội Quốc tế Nông dân (10/1923) vàđược bầu vào Ban chấp hành Người ở tại Liên Xô, vừa nghiên cứu, học tập vừa viết bàicho báo “Sự thật” của ĐCS Liên Xô, tạp chí “Thư tín quốc tế” của Quốc tế Cộng sản Tại

ĐH lần thứ V của Quốc tế Cộng sản, NAQ đã trình bày quan điểm của mình về vị trí chiếnlược của cách mạng thuộc địa và mối quan hệ giữa phong trào công nhân ở các nước đếquốc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, về vai trò và sức mạnh to lớn của giaicấp nông dân ở các nước thuộc địa

+ Thành lập cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là báo Thanhniên, ngày 21/6/1925 số báo đầu tiên được xuất bản để tuyên truyền tư tưởng cách mạngcho quần chúng

+ Đầu năm 1927, những bài giảng của Người trong các lớp đào tạo tiến bộ ở Quảng Châuđược tập hợp thành cuốn “Đường Kách Mệnh”, vạch ra những phương hướng cơ bản củacách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam

- Đào tạo cán bộ, chuẩn bị về tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam:

+ Ngày 11/11/1924, NAQ đến Quảng Châu (TQ), lựa chọn một số thanh niên trong tâm xã

để tổ chức thành nhóm Cộng Sản đoàn (2/1925)

3 NAQ ở Trung Quốc (1924 -1925).

Trang 14

+ Tháng 6/1925, NAQ thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhằm tổ chức vàlãnh đạo quần chúng đấu tranh chống Pháp, giải phóng dân tộc Hội có tổ chức chặt chẽ từ

cơ quan lãnh đạo cao nhất là Tổng bộ đến cấp cơ sở là chi bộ Đến năm 1929, Hội có 1700hội viên, có cả cơ sở Việt Kiều ở Xiêm Đây là một tổ chức cách mạng có khuynh hướngcộng sản

+ Tại Quảng Châu, NAQ mở nhiều lớp huấn luyện đào tạo cán bộ Từ năm 1925 -1927, đàotạo được 75 học viên Phần lớn số học viên sau khi học xong “bí mật về nước truyền bá líluận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân” Một số người được gửi sang học tại trườngĐại học Phương Đông (Liên Xô) hoặc trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc)

(Đọc SGK để bổ sung thêm)

4 Con đường cứu nước của NAQ – những điểm khác so với lớp người đi trước

- Các bậc tiền bối mà tiêu biểu là Phan Bội Châu đã chọn con đường cứu nước là sang Nhật,

vì ở đó từng diễn ra cuộc cải cách Minh Trị(1868) làm cho Nhật thoát khỏi số phận mộtnước thuộc địa, trở thành một nước đế quốc duy nhất ở châu Á, với hy vọng là một nướcđồng văn, đồng chủng thì ông sẽ nhận được sự giúp đỡ của Nhật để đuổi Pháp nhưng thấtbại

- Hướng đi của NAQ lại khác, Người sang phương Tây, nơi được mệnh danh là nơi có tưtưởng tự do, bình đẳng, bác ái, có khoa học kỹ thuật và nền văn minh phát triển Cách đicủa Người là đi vào tất cả các giai cấp, tầng lớp, giác ngộ họ, đoàn kết họ đứng dậy đấutranh Người đề cao học tập, nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm các cuộc cách mạng mới nhấtcủa thời đại cuối cùng, người bắt gặp Cách mạng tháng Mười Nga và Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc: con đường CMVS

- Người nhận thức rõ muốn đánh Pháp thì phải hiểu Pháp, Người sang Pháp để tìm hiểu:Nước Pháp có thực sự: “tự do, bình đẳng, bác ái” hay không? Nhân Pháp sống thế nào?

5 Vì sao Nguyễn Ái Quốc, trong quá trình tìm đường cứu nước (1911-1920) đã lựa chọn con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản?

- Do tác động của bối cảnh thời đại:

+ CNTB đã chuyển hẳn sang CNĐQ, trong lòng nó tồn tại những mâu thuẫn gay gắt

+ Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, chủ nghĩa Mác -Lênin trở thành hiện thực vàđược truyền bá khắp nơi , dẫn đến sự ra đời của các Đảng cộng sản và Quốc tế Cộng sản

=> Thời đại đó giúp cho Nguyễn Ái Quốc tìm hiểu lý luận và thực tiễn để lựa chọn conđường cứu nước đúng đắn

- Xuất phát từ yêu cầu của cách mạng Việt Nam: Phong trào cách mạng Việt Nam diễn rasôi nổi, liên tục, sử dụng nhiều vũ khí tư tưởng khác nhau (phong kiến, dân chủ tư sản)nhưng kết quả đều thất bại… Điều đó đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm ra một con đườngcứu nước mới…

- Do nhãn quan chính trị và trí tuệ của Nguyễn Ái Quốc:

+ Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy những hạn chế trong phong trào cứu nước của các vị tiềnbối Vì vậy, dù khâm phục nhưng Người không tán thành

+ Người đã tiến hành khảo sát thực tiễn và tìm hiểu lí luận ở nhiều nước, rút ra được nhữngkết luận về bạn và thù, nhìn thấy hạn chế của các cuộc Cách mạng Tư sản

-Năm 1920, sau khi đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc

và vấn đề thuộc địacủa Lênin, Người đã phát hiện ra khuynh hướng cứu nước mới, khuynhhướng vô sản

6 Công lao, vai trò của NAQ (1911-1930)

- NAQ đã xây dựng lí luận giải phóng dân tộc để tuyên truyền cho giai cấp công nhân và

Trang 15

các tầng lớp nhân dân Việt Nam Lí luận giải phóng dân tộc của Người là ngọn cờ hướngđạo cho phong trào cách mạng Việt Nam trước khi Đảng cộng sản ra đời, thúc đẩy phongtrào dân tộc phát triển theo khuynh hướng cách mạng vô sản Là sự chuẩn bị điều kiện về tưtưởng chính trị cho sự ra đời của Đảng và đặt cơ sở cho Cương lĩnh chính trị của Đảng saunày.

- NAQ đã trực tiếp đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam qua các lớp huấn luyện chính trị,Người đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ cho cách mạng Việt Nam

- Việc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là một tổ chức quá độ để tiến tớithành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, là bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chứccho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt nam về sau

Trang 16

BÀI 17 CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRƯỚC KHI ĐẢNG CỘNG SẢN

RA ĐỜI

1 Bước phát triển mới của phong trào cách mạng Việt Nam (1926 - 1927)

* Phong trào công nhân

- Về tổ chức: Từ sau khi Hội VN Cách mạng Thanh niên được thành lập (1925), tại nhiềunhà máy, xí nghiệp, Hội đã thể hiện vai trò lãnh đạo Nhờ đó, phong trào công nhân ngàycàng phát triển mạnh mẽ Công hội Nam Kì bắt liên lạc với Tổng liên đoàn lao động Pháp

để tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với phong trào công nhân

- Trong hai năm 1926-1927, liên tiếp bùng nổ nhiều cuộc bãi công của công nhân, học sinhhọc nghề Lớn nhất là cuộc bãi công của công nhân nhà máy sợi Nam Định, công nhân đồnđiền cao su Cam Tiêm, Phú Riềng

- Năm 1928, sau khi có chủ trương “vô sản hóa”, nhiều cán bộ của Hội Vn Cách mạngThanh niên đã đi vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, cùng sinh hoạt và lao động với công nhân

để tuyên truyền vận động cách mạng, nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân, làmcho phong trào công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, mang tính chất thốngnhất trong toàn quốc

- Trong hai năm 1928-1929, có khoảng 40 cuộc bãi công của công nhân nổ ra từ Bắc chíNam, nhất là ở các trung tâm kinh tế, chính trị, tiêu biểu là bãi công ở các nhà máy xi măngHải Phòng, nhà máy sợi Nam Định, nhà máy diêm Bến Thủy, nhà máy xe lửa Trường Thi,nhà máy sửa chữa ô tô A-vi-a Hà Nội, nhà máy Ba Son (Sài Gòn), đồn điền cao su PhúRiềng

- Các cuộc đấu tranh đó đều mang tính chất chính trị, khẩu hiệu đấu tranh có sự kết hợp cảkinh tế và chính trị; có sự liên kết của công nhân nhiều nhà máy, nhiều địa phương, nhiềungành kinh tế thành phong trào chung Tình hình đó chứng tỏ trình độ giác ngộ của côngnhân đã được nâng lên rõ rệt

* Phong trào nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dân yêu nước khác.

- Cùng với phong trào công nhân, các cuộc đấu tranh của nông dân, tiểu thương, tiểu chủ,học sinh diễn ra ở nhiều nơi, kết thành một làn sóng cách mạng dân tộc dân chủ khắp cảnước, trong đó có giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập

2 Tân Việt Cách mạng Đảng

- Hoàn cảnh ra đời: Một số sinh viên trường Cao Đẳng Sư phạm Đông Dương và nhóm tù

chính trị cũ ở Trung Kì đã thành lập Hội Phục Việt 7/1928 Hội đã đổi thành Tân Việt Cách

mạng Đảng

- Mục đích: Lãnh đạo quần chúng trong nước và liên lạc với các dân tộc bị áp bức trên thế

giới để đánh đổ chủ nghĩa đế quốc nhằm thiết lập một xã hội bình đẳng bác ái

- Thành phần: Những tri thức trẻ và thanh niên tiểu tư sản yêu nước

- Địa bàn hoạt động: Chủ yếu ở Trung Kì

- Hoạt động: Đảng Tân Việt hoạt động trong điều kiện Hội Việt Nam Cách mạng Thanh

niên phát triển mạnh nên các đảng viên Đảng Tân Việt chịu ảnh hưởng của Nguyễn ÁiQuốc, tác phẩm Đường Kách Mệnh được coi như kim chỉ nam của hội viên Đảng Tân Việt.Một số đảng viên trẻ gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, một số đảng viên cònlại thì ở lại tích cực chuẩn bị thành lập một chính đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin, còn một

số khác thì chủ trương thành lập Liên đoàn Quốc gia

3 Việt Nam Quốc dân Đảng (khuynh hướng theo con đường dân chủ tư sản)

Trang 17

* Sự thành lập

- Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, trào lưu dân chủ tư sản tiếp tục ảnh hưởng vào VN, đặcbiệt là tư tưởng cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc và chủ nghĩa Tam dân của Tôn TrungSơn đã tác động đến một bộ phận tư sản dân tộc và tiểu tư sản VN

- Trên cơ sở hạt nhân là nhà xuất bản Nam Đồng thư xã, ngày 25/12/1927, Nguyễn TháiHọc, Phó Đức Chính, Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm đã thành lập VN Quốc dân Đảng.Đây là tổ chức đại diện cho tư sản dân tộc VN

- Tôn chỉ mục đích: Lúc mới thành lập chưa có đường lối rõ ràng mà chỉ nêu chung chung

“trước làm dân tộc cách mạng, sau làm thế giới cách mạng” Năm 1929, trong bản Chươngtrình hành động của Đảng nêu nguyên tắc tư tưởng là “Tự do - Bình đẳng - Bác Ái”,Chương trình gồm bốn thời kì, thời kì cuối cùng là bất hợp tác với Chính phủ Pháp và triềuđình nhà Nguyễn; cổ động bãi công, đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dânquyền

- Phương pháp đấu tranh: Bằng bạo lực “Cách mạng bằng sắt và máu”, lực lượng dựa vàobinh lính người Việt trong quân đội Pháp

- Thành phần đảng viên: Gồm trí thức, học sinh, giáo viên, công chức, những người làmnghề tự do, một số thân hào ở nông thôn, một số binh lính người Việt trong quân đội Pháp,

ít chú trọng đến cơ sở trong quần chúng

- Tổ chức và địa bàn: Chưa bao giờ có tổ chức hoàn chỉnh, thiếu cơ sở xã hội; hoạt độngchủ yếu ở một số tỉnh Bắc Kì, ít cơ sở ở Trung Kì và Nam Kì

* Hoạt động

- Tháng 2/1929, tổ chức vụ ám sát tên trùm mộ phu (chuyên tuyển phu phen binh lính) Ba-danh Cuốicùng bị thực dân Pháp khủng bố, lực lượng của Đảng và quần chúng bị tổn thất nặng nề,hàng loạt đảng viên bị bắt, các cơ sở Đảng bị tan vỡ

- Trước tình thế đó, một bộ phận lãnh đạo của Đảng quyết định khởi nghĩa với tư tưởng

“nếu may ra thì thành công, nếu không may cũng thành nhân” Ngày 9/2/1930, cuộc khởinghĩa nổ ra ở Yên Bái, Phú Thọ (tìm hiểu thêm ở SGK/tr.66), sau đó là Hải Dương, Thái Bình, kể cả ở

Hà Nội nhưng trung tâm là Yên Bái Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thất bại, kéo theo sự thấtbại hoàn toàn của Việt Nam Quốc dân Đảng Sự kiện này cũng chấm dứt vai trò lịch sử củagiai cấp tư sản Việt Nam trong phong trào giải phóng dân tộc

4 Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên.

* Hoàn cảnh ra đời.

- Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nhiều thanh niên trí thức, tiểu tư sản yêu nước sangTrung Quốc hoạt động cứu nước, tuy nhiên họ chưa có phương hướng chính trị đúng đắn, vìthế họ rất cần được trang thiết bị về lý luận cách mạng

- Ngày 11/11/1924, NAQ về đến Quảng Châu (Trung Quốc), Người mở lớp huấn luyện chonhững thanh niên, học sinh, trí thức yêu nước Việt Nam có mặt tại Quảng Châu về conđường giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin

- NAQ đã lựa chọn một số thanh niên tích cực trong tổ chức Tâm tâm xã, lập ra Cộng sảnđoàn (2/1925) Tháng 6/1925, Người đã thành lập Hội VN cách mạng Thanh niên nhằm tổchức và lãnh đạo quần chúng đoàn kết đấu tranh đánh đổ đế quốc và tay sai để tự giảiphóng Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Tổng bộ, có trụ sở tại Quảng Châu

* Mục đích:

- Làm cuộc cách mạng dân tộc (đánh đổ thực dân Pháp và giành độc lập cho xứ sở ) rồi sau

đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và giành độc lập cho xứ sở ) rồi saulàm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản)”

Trang 18

Chương trình của Hội: Tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, lập các đoàn thể quần chúng;huy động lực lượng quần chúng đập tan bọn thực dân Pháp, giành lấy chính quyền khi có cơhội tốt; lập chính phủ công, nông, binh; thực hiện chính sách kinh tế mới; bãi bỏ tư bản tưnhân; đoàn kết vô sản quốc tế và lập xã hội cộng sản.

* Về tổ chức:

- Hội có năm cấp: Tổng bộ, Kì bộ (Xứ bộ), Tỉnh bộ, Huyện bộ và Chi bộ Tổng bộ là cơquan cao nhất Hội

Như vậy, mặc dù Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên chưa phải là một Đảng cộng sản,

nhưng đã là một đoàn thể cách mạng có xu hướng mác xít Đường lối chính trị, chương

trình hành động, điều lệ của Hội đã thể hiện rõ lập trương, quan điểm cách mạng của giaicấp công nhân Hội là tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam

* Hoạt động:

- Tại Quảng Châu (TQ), NAQ mở lớp huấn luyện đào tạo thanh niên thành các chiến sĩ cáchmạng Sau khi dự các lớp huấn luyện này một số tiếp tục học ở Trường đại học PhươngĐông (Liên Xô), một số khác tiếp tục học ở trường Quân sự Hoàng Phố, còn phần lớn trở

về nước xây dựng chức hội và tuyên truyền lý luận giải phóng dân tộc trong nhân dân

- Hội thành lập cơ quan ngôn luận là báo Thanh niên, số báo đầu tiên ra ngày 21/6/1925.Đầu năm 1927, tác phẩm “Đường Kách Mệnh” của Nguyễn Ái Quốc được xuất bản BáoThanh niên và tác phẩm “Đường Kách Mệnh” đã trang bị lý luận giải phóng dân tộc chocán bộ Hội

- Năm 1928, Hội tổ chức phong trào “Vô sản hóa” đưa hội viên vào các hầm mỏ, nhà máy,

xí nghiệp, đồn điền… hoạt động để phát triển hội viên , tổ chức và tuyên truyền cách mạng,nâng cao ý thức chính trị cho công nhân Nhờ đó, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽhơn và trở thành nòng cốt của phong trào dân tộc cả nước

- Năm 1929, diễn ra các cuộc đấu tranh xung quanh vấn đề thành lập Đảng Cộng sản trongHội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, dẫn đến sự ra đời của An Nam Cộng sản Đảng vàĐông Dương Cộng sản Đảng

( * Khi phong trào phát triển mạnh mẽ, yêu cầu phải có chính Đảng của giai cấp vô sản Vai trò của Hội VNCMTN không còn phù hợp nữa.

Từ đó, Hội VNCMTN phân hóa như sau:

- Một số thành viên của hội ở Nam Kì và Quảng Châu (TQ) tiến tới thành lập An Nam CSĐ (8/1929)

- Một số thành viên của hội ở Bắc Kì tiến tới thành lập Đông Dương CSĐ (6/1929)

- Đến năm 1930, cả hai tổ chức Đông Dương CSĐ và An Nam CSĐ cùng với Đông Dương CSĐ Liên Đoàn hợp nhất lại thành ĐCSVN)

* Vai trò của Hội đối với cách mạng VN

- Có vai trò truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và lý luận giải phóng dân tộc vào phong tràocách mạng Việt Nam, làm cho cách mạng giải phóng dân tộc phát triển theo con đường cáchmạng vô sản

- Thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam,tạo điều kiện chín muồi cho sự ra đời của Đảng Cộng sản VN

- Trực tiếp chuẩn bị điều kiện về chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản VNđầu năm 1930

5 Sự phát triển của phong trào dân tộc, dân chủ VN trong những năm

1928-1929 đã đặt ra cho cách mạng Việt Nam yêu cầu gì?

- Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào dân tộc dân chủ, đặc biệt là phong trào của côngnhân và nông dân theo con đường cách mạng vô sản đòi hỏi phải có một Đảng cộng sản để

tổ chức và lãnh đạo phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nông dân cùng các lực

Trang 19

lượng yêu nước cách mạng khác chống đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dântộc.

6 Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam trong năm 1929.

- Khi phong trào phát triển mạnh mẽ, yêu cầu phải có chính Đảng của giai cấp vô sản Vaitrò của Hội VNCMTN không còn phù hợp nữa

Từ đó, Hội VNCMTN phân hóa như sau:

+ Một số thành viên của hội ở Nam Kì và Quảng Châu (TQ) tiến tới thành lập An NamCSĐ (8/1929)

+ Một số thành viên của hội ở Bắc Kì tiến tới thành lập Đông Dương CSĐ (6/1929)

+ Đến năm 1930, cả hai tổ chức Đông Dương CSĐ và An Nam CSĐ cùng với ĐôngDương CSĐ Liên Đoàn hợp nhất lại thành ĐCSVN

* Thành lập Đông Dương Cộng Sản Đảng:

+ Tháng 5/1929, tại ĐH toàn quốc lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên,đoàn đại biểu Bắc Kì đề nghị thành lập Đảng cộng sản, song không được chấp nhận Họ vềnước, kêu gọi nhân dân cách mạng ủng hộ chủ trương thành lập đảng cộng sản

+ Ngày 17/6/1929, tại số nhà 312 Khâm Thiên (Hà Nội), đại biểu các cơ sở cộng sản Bắc Kìquyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng Thông qua tuyên ngôn, điều lệ, ra báoBúa liềm làm cơ quan ngôn luận

* Thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn:

+ Sự ra đời của Đông Dương (tháng 6/1929) và An Nam Cộng sản Đảng (8/1929) đã tácđộng mạnh mẽ đến Tân Việt Cách mạng Đảng Các đảng viên tiên tiến của Tân Việt Cáchmạng Đảng, từ lâu đã chịu ảnh hưởng của Hội VN Cách mạng Thanh niên, cùng tách ta đểthành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9/1929) Như vậy, đến tháng 9/1929 ở ViệtNam đã có ba tổ chức cộng sản lần lượt ra đời

- Nhận xét: Trong một thời gian ngắn, ba tổ chức Cộng sản ra đời cho thấy khuynh hướng

vô sản trở thành khuynh hướng tất yếu và khách quan

Tuy nhiên, ba tổ chức hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng đã gây ratổn hại đến phong trào, và đặt ra một vấn đề cần phải thống nhất ba tổ chức Cộng sản thànhmột Đảng

* Ý nghĩa:

- Sự xuất hiện ba tổ chức cộng sản là một xu thế khách quan của cuộc vận động giải phóng

dân tộc ở Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản Các tổ chức cộng sản đều tích cựclãnh đạo phong trào cách mạng của quần chúng, làm cho phong trào phát triển mạnh hơn,

Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam là sự chuẩn bị trực tiếp cho sự ra đời củaĐảng Cộng sản Việt Nam

7 Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản vào năm 1929 là xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam.

- Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộcđịa lần thứ hai ở Việt Nam Dưới tác động của cuộc khai thác, nền kinh tế, xã hội Việt Nam

có nhiều chuyển biến Trong xã hội Việt Nam xuất hiện những giai cấp mới, nhất là giai cấpcông nhân, đây là cơ sở xã hội để tiếp thu khuynh hướng cách mạng vô sản vào nước ta

Trang 20

- Từ năm 1921 - 1927, Nguyễn Ái Quốc tích cực truyền bá lí luận cách mạng giải phóngdân tộc về nước, mở các lớp đào tạo cán bộ cho cách mạng vvaf thành lập Hội VN Cáchmạng Thanh niên… chuẩn bị điều kiện về chính trị tư tưởng cà tổ chức cho sự ra đời củachính đảng vô sản ở Việt Nam.

- Từ 1919 - 1929, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, mang tính chính trị,

có sự liên kết nhiều ngành , nhiều địa phương thành lập công hội bí mật (1920) Năm 1929,Công hội Nam Kì bí mật liên lạc với Tổng liên đoàn lao động Pháp

- Trong những năm 1926 -1929, chủ nghĩa Mác - Lênin và lí luận giải phóng dân tộc củaNguyễn Ái Quốc được truyền bá rộng khắp, cách mạng Việt NAm phát triển mạnh mẽ,phong trào công nhân đứng ở vị trí tiên phong Phong trào công nhân phát triển ngày càngcao dẫn đến yêu cầu cần có đảng cộng sản lãnh đạo, yêu cầu đó tác động đến Hội Việt NamCách mạng Thanh Niên và Tân Việt Cách mạng đảng khiến các tổ chức này phân hóa thành

ba tổ chức cộng sản (Đông Dương cộng sản Đảng (2/1929), An Nam cộng sản Đảng(8/1929), Đông Dương Cộng sản liên đoàn (9/1929)

- Như vậy, sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở VN năm 1929 là xu thế khách quan của cáchmạng Việt Nam, tích cực hoạt động lãnh đạo quần chúng đấu tranh tuy nhiên, các tổ chức

đó hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng và làm cho phong trào cách mạng trước nguy

cơ bị chia rẽ lớn Nguyễn Ái Quốc đã chủ động triệu tập và chủ trì hội nghị hợp nhất các tổchức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam

8 Phân tích vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong những năm 1920 - 1927.

* NAQ đã xác định một con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.

- Sau khi thực dân Pháp xâm lược và thống trị, các phong trào yêu nước chống Pháp từ cuốithế kỉ XIX (phong trào cần vương, phong trào đấu tranh tự vệ của nông dân), phong tràoyêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX (phong trào Đông Du, ĐôngKinh nghĩa thục, cuộc vận động Duy tân…) đều lần lượt thất bại Nguyên nhân chủ yếu làthiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, thiếu một giai cấp tiên tiến lãnh đạo Phong trào

yêu nước và cách mạng Việt Nam “trong tình hình đen tối không có đường ra”.

- Sau khoảng 10 năm tìm đường cứu nước (1911-1920), qua quá trình khảo sát và lựa chọnđường lối cứu nước, NAQ đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và đã xác định con đườnggiải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản Việc tìm thấy con đường cách mạng vô sản

đã giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước cho nhân dân VN

* Truyền bá lí luận cách mạng, chuẩn bị điều kiện thành lập ĐCS VN.

- Trong những năm 20 của thế kỉ XX, NAQ đã xây dựng và truyền bá lý luận giải phóngdân tộc theo con đường cách mạng vô sản vào VN

- Nội dung lí luận đó được trình bày qua những bài viết cho các báo “Người cùng khổ” củaHội liên hiệp thuộc địa; “Nhân đạo” của ĐCS Pháp; “Đời sống công nhân” của Tổng Liênđoàn lao động Pháp; “Sự thật” của ĐCS Liên Xô; Tạp chí “Thư tín Quốc tế” của Quốc tếCộng sản; tuần báo “Thanh niên” của Hội VN Cách mạng Thanh niên Những tham luậncủa Người đọc tại Đại hội Quốc tế nông dân và Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, đặc biệtqua các tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Đường Kách Mệnh”

- Lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của NAQ là ánh sáng soi đường cho lớp thanh niênyêu nước Việt Nam đầu thế kỉ XX đang đi tìm chân lý, là ngọn cờ hướng đạo phong tràocách mạng Việt Nam trước khi ĐCS ra đời, là sự chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho sự rađời của Đảng, đồng thời đặt cơ sở để hình thành nên cương lĩnh chính trị của Đảng sau này

* Đào tạo cán bộ cho cách mạng và chuẩn bị về mặt tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trang 21

- Cưới năm 1924, NAQ đến Quảng Châu (TQ) Người tìm hiểu tổ chức Tâm tâm xã, chọnmột số thanh niên tích cực thành lập Cộng sản đoàn (2/1925) Tháng 6/1925, thành lập Hội

VN Cách mạng Thanh niên (HVNCMTN), ra tờ báo Thanh niên là cơ quan ngôn luận củaHội Đây là một tổ chức yêu nước có khuynh hướng cộng sản, một tổ chức quá độ để tiếnlên thành lập ĐCS, một bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đờicủa Đảng Hội có hệ thống tổ chức chặt chẽ, từ cơ quan lãnh đạo cao nhất là Tổng bộ Đếnnăm 1929, Hội có khoảng 1700 hội viên

- Mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, đào tạo một đội ngũ cán bộ Từ năm 1925 đến 1927,NAQ đã đào tạo một đội ngũ cán bộ Từ năm 1925-1927, NAQ đã đào tạo được 75 người,

đa số là thanh niên, học sinh trí thức yêu nước Họ “học làm cách mạng, học hoạt động bímật”, rồi bí mật về nước hoạt động, tuyên truyền lí luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhândân Một số sang học trường Đại học phương Đông Matxcova (Liên Xô) hoặc vào trườngQuân sự Hoàng Phố (TQ)

9 So sánh giữa Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên với Tân Việt cách mạng đảng và Việt Nam Quốc dân đảng về chủ trương, tổ chức và phương thức hành động

hoạt động Hội

Mác-Lênin vào Việt Nam, góp

phần kết hợp với phong trào

công nhân và phong trào yêu

nước tạo ra điều kiện cho Việt

Nam thành lập Đảng cộng sản

hội chủ trương “ vô sản hóa”

đưa hội viên vào các nhà máy,

Mở nhiều lớphuấn luyện chínhtrị để đào tạo cánbộ.Xuất bảnsách, báo đểtuyên truyền, cửhội viên đi họccác lớp chính trị àcác trường đạihọc ở nước ngoài(Liên Xô)

thanh niên tiểu tư sản yêu

nước, lúc đầu chưa có lập

trường giai cấp rõ rệt, nhưng

sau chịu ảnh hưởng của Hội

Việt Nam Cách mạng Thanh

niên

Nội bộ Tân Việt đã diễn ramột cuộc đấu tranh giữahai khuynh hướng tưtưởng: vô sản và tư sản

Cuối cùng, xu hướng cáchmạng theo quan điểm vôsản chiếm ưu thế Một sốĐảng viên ưu tú chuyểnsang Hội Việt Nam cáchmạng thanh niên

Tích cực hoạtđộng chuẩn bịtiến tới thành lậpmột chính đảngkiểu mới theo chủ

Mác-Lênin

Trang 22

Hoạt động theo xu hướng cách

mạng dân chủ tư sản, tiêu biểu

cho bộ phận tư sản dân tộc

Việt Nam nhằm đánh đuổi

giặc Pháp, thiết lập dân quyền

Bao gồm sinh viên,họcsinh, công chức, tư sản lớpdưới, người làm nghề tự

do, nông dân khá giả,thanh hào, địa chủ,hạ sĩquan người Việt trongquân đội Pháp

Bạo động khởinghĩa

10 (Tham khảo). Tại sao một số hội viên của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh niên lại chủ động thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam?

- Do những yêu cầu của cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân VN:

+ Từ cuối năm 1928 đến đầu năm 1929, phong trào dân tộc, dân chủ ở nước ta đặc biệt làphong trào công nông theo con đường cách mạng vô sản, đã phát triển mạnh mẽ

+ Các tổ chức yêu nước theo xu hướng vô sản hóa lúc đó như Hội VN Cách mạng Thanhniên và Tân Việt Cách mạng đảng không còn đủ sức lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạngđang ngày càng dâng cao

+ Hoàn cảnh đó, cần phải thành lập một chính đảng Cộng sản để tổ chức và lãnh đạo giaicấp công nhân, nông dân cùng các lực lượng yêu nước và cách mạng khác đấu tranh chống

đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc

- Phong trào công nhân, nông dân cùng các lực lượng yêu nước và cách mạng khác pháttriển mạnh mẽ đã tác động đến các hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, từ

đó giúp hội viên nhận thức được Hội VN Cách mạng Thanh niên không còn đủ sức lãnh đạocách mạng nữa, yêu cầu cần thiết phải thành lập một Đảng Cộng sản Vì vậy, đã đưa đếncuộc đấu tranh xung quanh vấn đề thành lập Đảng Cộng sản

- Tháng 3/1929, những hội viên tiên tiến của Hội VN Cách mạng Thanh niên ở Bắc Kì(trong đó có các đồng chí Ngô Gia Tự và Nguyễn Đức Cảnh) thành lập Chi bộ Cộng sảnđầu tiên tại số nhà 5D Hàm Long (Hà Nội), tích cực chuẩn bị tiến tới thành lập một đảngcộng sản thay cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên

- Đó là điều kiện chín muồi để đi đến thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam, là nguyên nhân

để đưa tới sự tan rã của các tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tân Việt, đưađến sự ra đời của chi bộ cộng sản đầu tiên (3/1929) và sau đó là ba tổ chức cộng sản ở ViệtNam : Đông Dương Cộng Sản Đảng (6/1929), An Nam Cộng Sản Đảng (8/1929), ĐôngDương Cộng sản Liên Đoàn (9/1929) và sau đó đã được Nguyễn Ái Quốc thống nhất thànhĐảng Cộng sản Việt Nam vào đầu tháng 1/1930 tại Cửu Long (Hương Cảng – Trung Quốc)

(Khởi nghĩa Yên Bái học ở phần II/SGK-68)

Trang 23

BÀI 18 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI

1 Sự ra đời của ĐCSVN (Vì sao phải tổ chức hội nghị thành lập Đảng)

- Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản (1929) là một xu thế tất yếu của cách mạng VN Các tổchức cộng sản trên đã nhanh chóng xây dựng cơ sở Đảng tại nhiều địa phương, trực tiếp tổchức và lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân Phong trào công nhânkết hợp chặt chẽ với phong trào đấu tranh của nông dân chống sưu thuế, với phong trào bãikhóa của học sinh, bãi thị của tiểu thương tạo một làn sóng đấu tranh cách mạng dân tộcdân chủ khắp cả nước Hoàn cảnh đó đặt ra yêu cầu phải có một chính đảng cộng sản lãnhđạo

- Tuy nhiên, ba tổ chức cộng sản nói trên lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng vớinhau Tình hình đó nếu để kéo dài sẽ có nguy cơ dẫn đến sự chia rẽ lớn Yêu cầu cấp thiếtcủa cách mạng VN lúc này là phải có một chính đảng thống nhất cả nước

- Với chức trách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, NAQ đã chủ động đứng ra triệu tập vàchủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam Hội nghị bắt đầu họp từ ngày6/1/1930, tại Cửu Long (Hương Cảng, TQ) Đại biểu của hội nghị ngoài NAQ là đại biểucủa Quốc tế Cộng sản, còn có đại biểu của hai tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sảnĐảng và An Nam Cộng sản Đảng

- Hội nghị đã nhất trí với ý kiến của NAQ là thống nhất các tổ chức cộng sản thành mộtđảng duy nhất lấy tên là ĐCSVN Hội nghị thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắntắt, Chương trình vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của ĐCSVN do NAQ soạn thảo; NAQ ra lời kêugọi nhân dịp thành lập Đảng

- Hội nghị bầu Ban chấp hành Trung ương Lâm thời Ngày 24/2/1930, theo đề nghị củaĐông Dương Cộng sản Liên Đoàn, tổ chức này được gia nhập Đảng Cộng sản VN Hộinghị thành lập Đảng có ý nghĩa như một Đại hội

2 Nội dung hội nghị (Nội dung cương lĩnh chính trị)

1 Nguyễn Ái Quốc phân tích tình hình thế giới và trong nước, phê bình những hành độngthiếu thống nhất của các tổ chức cộng sản, đề nghị các tổ chức cộng sản đoàn kết thống nhấtlại thành một đảng duy nhất Hội nghị họp từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930 tại Cửu Long(Hương Cảng - Trung Quốc)

2 Các đại biểu đã nhất trí bỏ mọi thành kiến, xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhấtcác tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản ViệtNam

3 Thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (Chính cương vắn tắt, Sách lược

vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt, Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng) doNguyễn Ái Quốc soạn thảo, Cương lĩnh của Đảng nêu là:

+ Việt Nam trước tiên làm cách mạng tư sản dân quyền (sau này gọi là cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân), sau làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai giai đoạn cách mạng đó nốitiếp nhau

+ Tính chất: Đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành “tư sản dân quyền

cách mạng (cách mạng dân tộc) và thổ địa cách mạng (cách mạng ruộng đất) để đi tới xãhội cộng sản

+ Nhiệm vụ: của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc Pháp, bọn phong kiến và tư sản phản

cách mạng

Trang 24

+ Mục tiêu: Làm cho nước VN được độc lập tự do; thành lập chính phủ công nông binh, tổ

chức quân đội công nông, tịch thu sản nghiệp lớn của đế quốc; tịch thu ruộng đất của đếquốc và bọn phản cách mạng chia cho dân cày nghèo, tiến hành cách mạng ruộng đất

+ Lực lượng cách mạng: là công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, đối với phú nông,

trung, tiểu địa chủ thì phải lợi dụng hoặc trung lập; phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức

và giai cấp vô sản thế giới

+ Lãnh đạo: cách mạng là ĐCSVN - đội tiên phong của giai cấp vô sản VN, lấy chủ nghĩa

Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng chính trị

+ Quan hệ quốc tế: cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới,

đoàn kết với các dân tộc thuộc địa và giai cấp công nhân trên thế giới

- Nhận xét:

+ Nội dung của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của ĐCSVN không chỉ đúng với chủ nghĩaMác - Lênin và thực tiễn cách mạng VN là nước thuộc địa, mà còn thể hiện sự vận dụngsáng tạo quan điểm đó vào hoàn cảnh, đáp ứng được nguyện vọng độc lập tự do của nhândân VN Đây là cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc sáng tạo, kết hợp đúng đắn vấn đềdân tộc và vấn đề giai cấp Độc lập và tự do là tư tưởng cốt lõi của cương lĩnh

+ Chính vì sự đúng đắn và sáng tạo đó, nên ngay khi mới ra đời, Đảng đã quy tụ được lựclượng và sức mạnh toàn dân tộc, nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng ViệtNam, làm dấy lên cao trào cách mạng mang quy mô cả nước nhưng có tính thống nhất cao,lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú và quyếtliệt

4 NAQ thay mặt những người tham dự hội nghị ra lời kêu gọi đồng bào và nhân dân cảnước đứng lên cùng với ĐCS để chống đế quốc, chống phong kiến

=> Sau Hội nghị thống nhất, Đông Dương Cộng sản liên đoàn xiin gia nhập Đảng Cộng sảnViệt Nam Ngày 23-3-1930, yêu cầu đó được chấp nhận, Đến đây, Đảng Cộng sản Việt Nammới là Đảng thống nhất của ba tổ chức cộng sản

3 Nguyên nhân thành công của Hội nghị.

- Giữa đại biểu các tổ chức cộng sản không có mâu thuẫn về ý thức hệ, đều có xu hướng vôsản, đều tuân theo điều lệ của Quốc tế Cộng sản

- Đáp ứng đúng yêu cầu thực tiễn của cách mạng lúc đó

- Do sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản và uy tín cao của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

4 Ý nghĩa thành lập ĐCS VN

+ Là kết quả của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp quyết liệt của nhân dân VN trong thờiđại mới, Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa CN Mác – phong trào công nhân và phongtrào yêu nước VN

+ Đảng ra đời là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng VN

+ Khẳng định cách mạng VN thuộc quyền lãnh đạo tuyệt đối là ĐCS VN; một đảng cóđường lối cách mạng khoa học và sáng tạo

+ Đảng ra đời là sự chuẩn bị tất yếu, đầu tiên có tính quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt về sau của cách mạng VN

Ngày 24/2/1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã được chấp nhận gia nhập Đảng Cộngsản Việt Nam

Hội nghị hợp nhất có ý nghĩa, giá trị như một Đại hội thành lập Đảng vì đã thông qua đượcđường lối cách mạng Việt Nam

Đó là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc ở Việt Nam, là bước ngoặt vĩ đại củagiai cấp công nhân, chấm dứt thời kì khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo và đường lối GPDT

Trang 25

5.Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu của lịch sử ?

- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời tháng 1/1930 không phải do ý muốn chủ quan của một cánhân, một nhóm người, mà là kết quả của một quá trình kết hợp, tác động, chuyển hóa lẫnnhau giữa ba yếu tố: chủ nghĩa Mac Lenin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước ởViệt Nam

- Quá trình hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam đã diễn ra trong suốt khoảng thời gian từsau chiến tranh thế giới thứ I đến đầu năm 1930 với sự kết hợp ngày càng chặt chẽ giữa 3yếu tố nói trên

- Từ năm 1919 đến 1925, chủ nghĩa Mac Lenin do Nguyễn Ái Quốc truyền bá đã bắt đầuthâm nhập vào một bộ phận tiên tiến trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước,đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta phát triển lên một bước mới

- Ngược lại, sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã tạo ra những

cơ sở xã hội và tư tưởng để chủ nghĩa Mac Lenin có thể ăn sâu, bám rễ vào mảnh đất ViệtNam

- Từ năm 1926 trở đi, với sự ra đời và những hoạt động tích cực của Hội Việt Nam Cáchmạng Thanh niên, chủ nghĩa Mác Lênin đã được truyền bá trực tiếp, sâu rộng, có hệ thốngvào Việt Nam, thúc đẩy phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ và đưa tới sự chuyển hóasâu sắc trong phong trào yêu nước vào những năm 1928 – 1929

- Sự tiến triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã làm nảy sinh nhu cầuphải có sự lãnh đạo hiệu quả hơn của một tổ chức chính trị cao hơn về chất lượng so vớiHội Việt Nam Cách mạng Thanh niên

- Trước yêu cầu khách quan đó, 3 tổ chức cộng sản đã ra đời

- Sự xuất hiện 3 tổ chức cộng sản vào cuối năm 1929 đã tạo điều kiện để chủ nghĩa MácLênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước kết hợp với nhau đến độ chín muồinhất, đưa tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (1/1930)

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự nỗ lực, hy sinh phấn đấu của giai cấpcông nhân, nhân dân lao động và của các chiến sĩ cách mạng tiền bối, trong đó công lao vĩđại nhất thuộc về lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Người dày công chuẩn bị điều kiện để thànhlập Đảng Cộng sản ở Việt Nam

6 ĐCSVN ra đời là bước ngoặt vĩ đại của cách mạng VN

- Đảng ra đời là kết quả sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào công nhân vàphong trào yêu nước của nhân dân ta vào những năm 20 của thế kỉ XX Đó là một tất yếulịch sử

- Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã trở thành một nhân tố vô cùng quan trọng tạo

ra bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, có tác động to lớn đối với thắng lợicủa cách mạng Việt Nam Là bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam

- Đảng ra đời chứng tỏ giai cấp vô sản Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cáchmạng vì:

+ Đảng ra đời đã chấm dứt thời kì khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo và đường lối của cáchmạng Việt Nam, từ nay, cách mạng Việt Nam đã thuộc quyền lãnh đạo tuyệt đối của giaicấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản Trước năm 1920, phong trào yêu nướccủa nhân dân ta diễn ra liên tục, sôi nổi và quyết liệt song đều thất bại vì khủng hoảng vềgiai cấp lãnh đạo và đường lối cách mạng Đảng ra đời đã vạch ra được đường lối cáchmạng đúng đắn là : trước làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân rồi sau tiến lên chủnghĩa xã hội

+ Đảng ra đời đã xây dựng được lực lượng mới cho cách mạng, chủ yếu là liên minh công

Trang 26

nông, lôi cuốn được đông đảo nông dân đi theo cách mạng, xây dựng được khối liên minhcông – nông, nhân tố cơ bản tạo nên thắng lợi cho cách mạng.

+ Đảng ra đời đã vạch ra được phương pháp đấu tranh đúng đắn Đó là phương pháp đấutranh bằng bạo lực của quần chúng theo quan điểm của chủ nghĩa Marx Lenin (điều mà cácnhà cách mạng tiền bối trước 1920 chưa tiếp nhận được) Nhờ đó, Đảng ta biết xây dựng và

sử dụng hai lực lượng: chính trị và vũ trang để tiến hành khởi nghĩa

- Đảng ra đời, cách mạng Việt Nam thực sự trở thành một bộ phận khăng khít của cáchmạng thế giới Trước 1920, nhiều nhà cách mạng Việt Nam ra nước ngoài tìm đường cứunước, nhưng chưa đề cập đến vấn đề đoàn kết với lực lượng cách mạng thế giới Đảng rađời đã đưa cách mạng Việt Nam gắn với cách mạng thế giới Cách mạng Việt Nam đã tranhthủ được sự đồng tình ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới Cách mạng Việt Nam cũng gópphần vào sự thắng lợi của phong trào cách mạng thế giới

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là nhân tố quyết định cho những bước phát triển nhảy vọtcủa cách mạng Việt Nam:

+ Sau 15 năm ra đời, Đảng lãnh đạo Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi

+ 9 năm sau lại làm nên chiến thắng Điện Biên (1954) chấn động toàn cầu

+ 21 năm sau (1975) đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thốngnhất Tổ quốc và lãnh đạo nhân dân ta xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tóm lại, Đảng ra đời trở thành một nhân tố quyết định nhất trong mọi nhân tố thắng lợicủa cách mạng Việt Nam

7 Vai trò của NAQ trong Hội nghị thành lập Đảng.

- Trực tiếp tổ chức và chủ trì Hội nghị thành lập ĐCSVN tại Hương Cảng (TQ) vào ngày6/1/1930

- Phê phán những hành động thiếu thống nhất của các tổ chức cộng sản trong nước trongviệc tranh giành quyền lãnh đạo , tranh giành quần chúng, tranh giành đảng viên

- Đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hợp nhất các tổ chức cộng sản để đi đến thành lập ĐCSVN

- Viết và thông qua Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt Đó chính làCương lĩnh đầu tiên của Đảng đã vạch ra những nét cơ bản về đường lối chiến lược và sáchlược cho cách mạng VN

- Đề ra kế hoạch để các tổ chức cộng sản về nước xúc tiến việc hợp nhất, rồi đi đến thànhlập ĐCSVN

8 Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Nguyễn Ái Quốc là người chọn lựa, đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam đi theocon đường cách mạng vô sản, xây dựng lý luận giải phóng dân tộc Người khẳng định cáchmạng VN phải đi theo con đường cách mạng vô sản

- Truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin về Việt Nam, chuẩn bị tư tưởng chính trị cho việc thànhlập Đảng Cộng sản Việt Nam

+ Năm 1921, NAQ lập ra Hội Liên hiệp thuộc địa ở Pari Năm 1922 viết báo Người cùngkhổ và viết nhiều bài cho các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân và đặc biệt là cuốn Bản

Trang 27

- Nguyễn Ái Quốc đã huấn luyện và đào tạo được một đội ngũ cán bộ trở thành những hạtnhân để thành lập Đảng.

- Thống nhất các tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng,Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt namvào đầu năm 1930, lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng

- Soạn thảo Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (được Hội nghị thành lậpĐảng thông qua), đã thể hiện sự đúng đắn, sáng tạo của chủ nghĩa Mac Lenin trong điềukiện cụ thể ởViệt Nam

Đây là sự nghiệp lớn lao và gian khổ, độc đáo và sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

9 Hãy phân tích tính đúng đắn và sáng tạo của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc dự thảođược thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (1/1930) gồm các văn kiện:Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, và Lời kêu gọi nhân dịpthành lập Đảng

Tính cách mạng đúng đắn và sáng tạo của Cương lĩnh đầu tiên đó được thể hiện qua nhữngnội dung sau :

+ Cương lĩnh vạch rõ tính chất của cách mạng Việt Nam là phải trải qua hai giai đoạn: cách

mạng tư sản dân quyền (về sau gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) và cách mạng

xã hội chủ nghĩa (“làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hộicộng sản”)

Như vậy, ngay từ đầu, Đảng ta đã thấu suốt con đường phát triển tất yếu của cách mạng ViệtNam là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

+ Cương lĩnh đề ra nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta: đánh đổ đế quốc

Pháp, vua quan phong kiến và tư sản phản cách mạng

+ Mục tiêu:

-Làm cho nước Việt Nam độc lập

-Dựng lên chính phủ công nông binh

-Tổ chức ra quân đội công nông

-Tịch thu sản nghiệp lớn của bọn đế quốc và ruộng đất của bọn đế quốc, bọn phản cáchmạng đem chia cho dân cày nghèo, chuẩn bị cách mạng thổ địa

Như vậy Cương lĩnh bao gồm nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống phongkiến nhưng nổi bật là chống đế quốc và tay sai phản động, giành độc lập tự do cho toàn thểdân tộc

+ Lực lượng cách mạng chủ yếu là công nông, đồng thời phải lôi kéo tiểu tư sản, trí thức,

trung nông về phe giai cấp vô sản, còn phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản Việt Nam chưa

lộ rõ bộ mặt phản động thì phải lợi dụng và làm cho họ trung lập

Như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã tranh thủ tối đa lực lượng cách mạng, cô lập tối đa lực lượng

kẻ thù Thành lập mặt trận dân tộc thống nhất dước sự lãnh đạo của đảng, trên cơ sở công-nông-trí liên minh

+ Cương lĩnh khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định

thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng

Đảng phải có trách nhiệm phục vụ đại bộ phận giai cấp công nhân, làm cho giai cấp mìnhlãnh đạo được quần chúng

Phải thu phục đại đa số dân cày, dựa vững vào dân cày

Trang 28

Đồng thời phải liên minh với các giai cấp và tầng lớp yêu nước khác, đoàn kết, tổ chức họđấu tranh chống đế quốc và phong kiến.

+ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng còn coi cách mạng nước ta là một bộ phận của cách mạng

vô sản thế giới, đứng về phía mặt trận cách mạng gồm các dân tộc thuộc địa bị áp bức vàgiai cấp công nhân thế giới

Như vậy, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là cương lĩnh cách mạng giải phóng dântộc đúng đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm tính dân tộc vàtính nhân văn với tư tưởng cốt lõi là Độc lập – Tự do cho dân tộc

Nội dung con đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là con đường cách mạng vôsản, do giai cấp công nhân lãnh đạo, lực lượng nòng cốt là công – nông, đồng thời phảiđoàn kết với tiểu tư sản, trí thức, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc và phú nông, dùng bạolực cách mạng

10 Nội dung cơ bản của LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ tháng 10/1930 của ĐCS Đông Dương.

- Tháng 10/1930, Hội nghị lần thứ nhất BCH TW lâm thời họp ở Hương Cảng (TQ) Hộinghị đã quyết định đổi tên ĐCSVN thành ĐCS Đông Dương; cử BCH TW chính thức, doTrần Phú làm Tổng Bí Thư; thông qua Luận cương chính trị do Trần Phú soạn thảo

- Nội dung Luận cương:

+ Xác định những vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng Đông Dương: Lúc đầu làcuộc cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kì tư bản chủnghĩa, tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa

+ Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến có quan hệkhăng khít với nhau

+ Động lực cách mạng là giai cấp vô sản và giai cấp nông dân

+ Phương pháp cách mạng: Vũ trang bạo động, đánh đổ chính quyền của giai cấp thống trị

và giành lấy chính quyền cho công nông

+ Lãnh đạo cách mạng là giai cấp vô sản với đội tiên phong là ĐCS, lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng

-+ Cách mạng VN phải liên lạc mật thiết với vô sản và các dân tộc thuộc địa, nhất là vô sảnPháp

11 Ưu điểm hạn chế của LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ

* Ưu điểm:

Luận cương đã đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của cách mạng VN như:

- Xác định đúng đường lối chiến lược nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng là đi từ cách mạng

tư sản dân quyền lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện nhiệm vụ đánh đổ đế quốc và phong kiến

- Động lực của cách mạng là công nhân và nông dân

- Điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng phải là một đảng cộng sản lãnh đạo

* Hạn chế:

- Chưa nêu được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương, không đưa ngọn cờ dân tộclên hàng đầu, nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất

- Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của tiểu tư sản, tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo

bộ phận trung, tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc chống đế quốc và tay sai

12 Trong tiến trình cách mạng VN từ 1919 đến năm 1945 sự kiện nào được đánh giá là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử giai cấp công nhân và cách mạng

VN Nêu ý nghĩa của sự kiện đó?

Trang 29

- Nêu sự thành lập ĐCSVN tạo ra bước ngoặt vĩ đại (Mục 6)

- Chiếc lược cách mạng: (Tính chất) Đường lối chiến lược của cách mạng Việt

Nam là tiến hành “tư sản dân quyền cách mạng (cách mạng dân tộc) và thổ địacách mạng (cách mạng ruộng đất) để đi tới xã hội chủ nghĩa

- Lực lượng lãnh đạo: giai cấp vô sản với đội tiên phong là ĐCS, lấy chủ nghĩaMác - Lênin làm nền tảng tư tưởng

- Mối quan hệ giữa cách mạng VN với cách mạng thế giới: là một bộ phậnkhăng khít với cách mạng thế giới

Nhiệm

vụ

- Chống đế quốc, chốngphong kiến

- Đánh đổ phong kiến, đánh đổ đế quốc

- Công nhân và nông dân

Nhận xét - Giải quyết đúng đắn về

vấn đề dân tộc và giaicấp, thể hiện sự sáng tạocủa CMVN, và độc lập tự

do là tư tưởng cốt lõi

- Tiếp thu những vấn đề cơ bản của Cương lĩnh,song vẫn còn nhiều hạn chế: nặng về đấu tranhgiai cấp, đặt nhiệm vụ chống phong kiến lên trênnhiệm vụ chống đế quốc, chưa tập hợp đông đảocác lực lượng khác tham gia cách mạng Nhữnghạn chế này được tiếp tục chỉnh sửa trong quátrình chỉ đạo cách mạng

14 (Tham khảo) Quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

- Được bắt đầu từ năm 1920 khi Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác Lenin, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên và kết thúc vào đầu tháng 1/1930 khi Đảng ra đời.Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Marx Lenin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Vì thế, khi phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam phát triển mạnh, có ý thức chính trị rõ rệt thì đòi hỏi phải có một tổ chức đảng cách mạng tiên phong để lãnh đạo phong trào.

* Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng.

Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác Lenin

Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp ở Tours (12/1920), Người đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III, và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Người đã tích cực hoạt động để truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin về nước, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng ta.

Cách sách báo đó được bí mật đưa về nước gây ảnh hưởng rất to lớn.

Ở Liên Xô.

Trang 30

Từ giữa năm 1923, Người hoạt động trong QTCS, tham gia nhiều hội nghị quốc tế quan trọng.

Người tìm hiểu chế độ Xô viết, nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức đảng kiểu mới của Lênin, tiếp tục tuyên truyền các quan điểm của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa.

Đặc biệt, bản báo cáo của Người tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần V đã phác họa ra những nét cơ bản của phương hướng chiến lược trong cách mạng giải phóng dân tộc.

Ở Trung Quốc.

Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về đến Trung Quốc.

Tháng 6/1925, Người sáng lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên có hạt nhân là tổ chức Cộng sản đoàn.

Đó là tổ chức tiền thân của Đảng, chuẩn bị điều kiện cho việc thành lập Đảng ta sau này.

Người sáng lập báo Thanh niên, tiếp tục viết nhiều tài liệu, bài giảng để huấn luyện cán bộ Các tài liệu này được tập hợp lại in thành cuốn Đường Kách mệnh, là kim chỉ nam cho những người cách mạng Việt Nam lúc đó.

Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chủ nghĩa Marx Lenin đã tiếp tục được truyền bá vào trong nước.

Phong trào cách mạng nước ta phát triển sôi nổi, một đội ngũ những người cách mạng kiểu mới, do Nguyễn Ái Quốc đào tạo, đã trưởng thành.

Hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã gây tiếng vang to lớn, ảnh hưởng tới cả các tổ chức yêu nước khác, (tổ chức Tân Việt đã chuyển dần hoạt động của mình theo khuynh hướng cộng sản) Những điều kiện để thành lập chính đảng vô sản ở VN đã dần dần hình thành.

* Cuộc đấu tranh trực tiếp để đưa đến thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.

Hoạt động tích cực của Nguyễn Ái Quốc và những người cách mạng Việt Nam đã đưa đến những điều kiện chín muồi để thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.

-Từ 1919 – 1925, công nhân đã bãi công để đưa những yêu cầu và những quyền lợi cụ thể của mình đến giới chủ, nhưng còn rời rạc.

-Từ 1926 – 1929, các cuộc bãi công đã vượt ra ngoài phạm vi một xưởng, một địa phương, một ngành và

đã có sự liên kết thành phong trào chung.

-Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân, phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân khác cũng diễn ra mạnh mẽ.

-Chủ nghĩa Marx Lenin được tuyên truyền ngày càng mạnh vào Việt Nam, phong trào công nhân đã đủ sức tiếp thu lí luận của chủ nghĩa Marx Lenin, ý thức tự giác ngày càng rõ rệt.

-Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập và phát triển tổ chức trên cả 3 kì Tân Việt Cách mạng Đảng hoạt động chủ yếu ở Trung Kì.

-Đầu năm 1929, hàng chục cuộc đấu tranh của công nhân đã nổ ra từ Bắc đến Nam.Các phong trào yêu nước khác cũng phát triển, kết thành một làn sóng cách mạng dân tộc dân chủ ngày càng lan rộng.

-Trước tình hình đó, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ngày càng bộc lộ rõ hạn chế, không thể làm tròn vai trò tiên phong và lãnh đạo phong trào được nữa.

-17/6/1929, đại biểu các tổ chức cộng sản ở miền Bắc quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ của Đảng, ra báo Búa liềm làm cơ quan ngôn luận.

-Tháng 8/1929, Tổng bộ và Kì bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kì quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng.

-Tháng 9/1929, những người cộng sản trong Tân Việt tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Sự ra đời của các tổ chức cộng sản nói trên đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của phong trào công nhân nước ta trên con đường tiến tới tự giác.

Tuy nhiên, sự hoạt động riêng rẽ của các tổ chức này đã gây nên những tác động không tốt đến phong trào Với cương vị là phái viên của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (6/1/1930- 8/2/1930, tại Cửu Long (Hương Cảng – Trung Quốc) thành một đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo…; định kế hoạch thực hiện việc thống nhất tổ chức cộng sản ở trong nước và một Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng.

Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng vì

đã thông qua được đường lối của cách mạng Việt Nam.

Ngày đăng: 24/03/2022, 22:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w