1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT TÁC DỤNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BỔ SUNG CHẾ PHẨM AXIT HỮU CƠ VÀ PROBIOTICS THAY THẾ KHÁNG SINH NHẰM MỤC ĐÍCH KÍCH THÍCH TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÒNG NGỪA TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON SAU CAI SỮA

70 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 341,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I: MỞ ĐẦU (11)
    • 1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ (11)
    • 1.2. MỤC ĐÍCH-YÊU CẦU (12)
      • 1.2.1. Mục đích (12)
      • 1.2.2. Yêu cầu (12)
  • PHẦN II: CƠ SỞ KHOA HỌC (13)
    • 2.1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ HEO CAI SỮA (13)
      • 2.1.1. Sinh lý tiêu hóa và hấp thu của heo con (13)
      • 2.1.2. Độ pH của đường tiêu hóa (14)
    • 2.2. HỆ VI SINH VẬT ĐƯỜNG RUỘT (14)
      • 2.2.1. Thành phần hệ vi sinh vật đường ruột (15)
      • 2.2.2. Mối liên hệ giữa vi sinh vật đường ruột và sức khỏe động vật (15)
    • 2.3. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY TIÊU CHẢY (16)
      • 2.3.1. Tiêu chảy do cảm nhiễm vi sinh vật (16)
        • 2.3.1.1. Tiêu chảy do E.coli (16)
        • 2.3.1.2. Tiêu chảy do các vi sinh vật khác (17)
      • 2.3.2. Tiêu chảy không do vi sinh vật (17)
        • 2.3.2.1. Do ngoại cảnh, nuôi dưỡng, chăm sóc (17)
        • 2.3.2.2. Do sinh lý heo con (18)
        • 2.3.2.3. Do heo mẹ (18)
      • 2.4.1. Sự axit hóa đường ruột (18)
      • 2.4.2. Hiệu quả sử dụng axit hữu cơ (21)
    • 2.5. PROBIOTICS (22)
      • 2.5.1. Tổng quan về Probiotics (22)
      • 2.5.2. Cơ chế tác động của probiotics (22)
    • 2.6. GIỚI THIỆU VỀ CÁC CHẾ PHẨM SỬ DỤNG TRONG THÍ NGHIỆM (23)
      • 2.6.1. Kháng sinh (23)
      • 2.6.2. Axit hữu cơ (24)
      • 2.6.3. Probiotics (24)
  • PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM (26)
    • 3.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM (26)
      • 3.1.1. Thời gian thí nghiệm (26)
      • 3.1.2. Địa điểm (26)
    • 3.2. GIỚI THIỆU VỀ XÍ NGHIỆP CHĂN NUÔI HEO CHỢ GẠO (26)
      • 3.2.1. Vị trí địa lý (26)
      • 3.2.2. Cơ cấu tổ chức (26)
      • 3.2.3. Chức năng của trại (27)
      • 3.2.4. Cơ cấu đàn (27)
      • 3.2.5. Bố trí chuồng trại (27)
      • 3.2.6. Con giống (28)
      • 3.2.7. Thức ăn và nước uống (28)
      • 3.2.8. Nuôi dưỡng và chăm sóc (28)
      • 3.2.9. Vệ sinh sát trùng (29)
      • 3.2.10. Quy trình tiêm phòng của trại (30)
    • 3.3. PH ƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM (31)
      • 3.3.1. Đối tượng thí nghiệm (31)
      • 3.3.2. Bố trí thí nghiệm (31)
      • 3.3.3. Điều kiện thí nghiệm (32)
    • 3.4. CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI (35)
      • 3.4.1. Tăng trọng (35)
      • 3.4.2. Chỉ số tiêu tốn thức ăn (35)
      • 3.4.3. Tỉ lệ nuôi sống (35)
      • 3.4.4. Tỉ lệ ngày con tiêu chảy (35)
    • 3.5. XỬ LÝ SỐ LIỆU (35)
  • PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (36)
    • 4.1. TĂNG TRỌNG BÌNH QUÂN (36)
    • 4.2. KHẢ NĂNG TIÊU THỤ THỨC ĂN (40)
    • 4.3. HỆ SỐ BIẾN CHUYỂN THỨC ĂN (42)
    • 4.4. TỶ LỆ TIÊU CHẢY (44)
    • 4.5. TỶ LỆ NUÔI SỐNG (46)
    • 4.6. TỔNG KẾT CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI QUA CÁC TUẦN THÍ NGHIỆM (47)
    • 4.7. HIỆU QUẢ KINH TẾ (48)
  • PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (49)
    • 5.1. KẾT LUẬN (49)
    • 5.2. ĐỀ NGHỊ (50)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (51)
  • PHỤ LỤC (52)

Nội dung

Kháng sinh sử dụng trong thức ăn gia súc và những tồn dư của nó trong sản phẩm chăn nuôi sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh của con người khi con người sử dụng các sản phẩm nêu trên... Thành

CƠ SỞ KHOA HỌC

TỔNG QUAN CHUNG VỀ HEO CAI SỮA

2.1.1 Sinh lý tiêu hóa và hấp thu của heo con

heo con mới sinh có bộ máy tiêu hóa phát triển chưa hoàn chỉnh về cấu tạo và chức năng Khi còn trong bào thai, nguồn dinh dưỡng do máu mẹ cung cấp qua tĩnh mạch rốn là chủ yếu; khi rời khỏi bụng mẹ, hệ tiêu hóa bắt đầu hoạt động để đáp ứng nhu cầu sinh trưởng và phát triển của chúng, vì vậy heo con rất mẫn cảm với bệnh tật và dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh.

Theo Nguyễn Như Pho (1998), ở heo sơ sinh khả năng tiết axit clohydric rất ít, chỉ đủ biến đổi pepsinogen thành pepsin và lượng HCl tự do quá nhỏ để tăng độ toan của dạ dày Sự tiết các enzym tiêu hóa ở dạ dày và ruột non kém, chỉ đủ để tiêu hóa các loại thức ăn đơn giản như sữa; enzym sacharase chỉ hoạt động mạnh sau hai tuần, còn maltase chỉ được tiết đủ sau bốn tuần.

Trong giai đoạn heo con theo mẹ, quá trình lên men của sữa tạo ra axit lactic giúp khống chế sự phát triển của các vi khuẩn có hại Khi heo con cai sữa, nguồn sữa mẹ bị cắt giảm làm lượng axit lactic giảm đi và tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn có hại phát triển mạnh, gây rối loạn tiêu hóa.

Khả năng hấp thu thức ăn của heo con cai sữa bị giảm do bào mòn biểu mô đường ruột khi ăn thức ăn cứng Màng nhày ruột non có những thay đổi khi heo cai sữa ở 3-4 tuần tuổi: nhung mao ruột ngắn lại khoảng 75% trong vòng 24 giờ sau cai sữa, và trạng thái này kéo dài đến ngày thứ năm sau cai sữa (Hampson and Kidder) Do đó, ít nhất năm tuần mới có thể khôi phục hệ nhung mao đường ruột; việc giảm chiều dài nhung mao và hình thái chưa trưởng thành của tế bào ruột giải thích sự dễ mắc tiêu chảy ở heo con sau cai sữa Để thích nghi với những thay đổi này, hệ tiêu hóa của heo con phải trải qua sự phát triển nhanh về kích thước, dung tích và hoạt động sinh lý, nhằm tiêu hóa được nhiều loại thức ăn và thích nghi với môi trường sống.

2.1.2 Độ pH của đường tiêu hóa

Theo Nguyễn Bạch Trà (1998) trong thời gian đầu (trước 1 tháng tuổi) dịch vị của heo con hầu như không có HCl tự do Lượng HCl do dạ dày tiết ra ít và lại nhanh chóng kết hợp với dịch nhày, đây là hiện tượng “thiếu HCl” trong dịch vị gây nên hiện tượng tiêu chảy sau cai sữa Heo càng lớn thì lượng dịch vị tiết ra càng nhiều, HCl càng tăng nhanh ở giai đoạn 25-30 ngày tuổi và tính chất diệt khuẩn của nó rõ nhất ở 40-50 ngày tuổi

Ngay khi thức ăn được đưa vào dạ dày của heo, pH dạ dày lập tức tăng từ khoảng 2 lên 3–5, khiến hoạt động của phần lớn enzyme tiêu hóa bị ức chế Sự tăng pH liên quan đến tuổi heo sau cai sữa, trạng thái và thành phần của thức ăn (đặc hay lỏng) cũng như các yếu tố dinh dưỡng khác Khi pH dạ dày không thích hợp cho hoạt động của enzyme tiêu hóa protein, các protein sẽ vượt qua dạ dày vào ruột, gây hiện tượng dị ứng kháng nguyên và làm bào mòn niêm mạc ruột Đồng thời, độ pH ở đường ruột tăng cao cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của vi sinh vật có hại.

Bảng 2.1 pH ở những giai đoạn khác nhau của ống tiêu hóa heo con sau cai sữa

Vị trí 0 ngày 3 ngày 6 ngày 9 ngày

(Makkink, 1994; trích dẫn tài liệu hội thảo của công ty Biomin, 2004)

HỆ VI SINH VẬT ĐƯỜNG RUỘT

Ở heo con mới sinh, hệ vi sinh vật đường ruột còn thiếu hoặc rất ít Nhờ bú mẹ và việc liếm láp thức ăn trên nền chuồng, vi sinh vật từ bên ngoài xâm nhập vào đường tiêu hóa Tại đây, những vi sinh vật không thích nghi với môi trường tiêu hóa sẽ bị tiêu diệt và thải ra ngoài; một số ít vi sinh vật thích nghi sẽ sinh sản và phát triển thành hệ vi sinh vật đường ruột.

2.2.1 Thành phần hệ vi sinh vật đường ruột

Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1997), Niconxkij (1983), hệ vi sinh vật đường ruột động vật rất phong phú và được chia thành hai loại:

Vi sinh vật có khả năng thích nghi tùy theo thức ăn, môi trường đường tiêu hóa và sức đề kháng của cơ thể, từ nấm men và nấm mốc đến Proteus, Salmonella, Klebsiella, E coli, Clostridium và Shigella Các tác nhân này cho thấy sự linh hoạt trong điều kiện sống, và phần lớn chúng thích nghi với môi trường có pH từ trung tính đến kiềm, cho phép tồn tại và phát triển ở nhiều nguồn thức ăn và trong hệ tiêu hóa của con người.

Vi sinh vật bắt buộc là các vi khuẩn có lợi có khả năng thích nghi với môi trường dạ dày - ruột của động vật và trở thành cư dân vĩnh viễn của hệ tiêu hóa Những vi khuẩn này gồm Streptococcus lactis, S faecium, Lactobacillus acidophilus, L bulgaricus, Bacillus subtilis và Bifidobacterium, đóng vai trò quan trọng trong cân bằng hệ vi sinh đường ruột, hỗ trợ tiêu hóa và tăng cường sức khỏe đường ruột cho vật chủ.

Sacharomyces cerevisiae, S.boulardii, Aspergillus niger, A.oryzae…

2.2.2 Mối liên hệ giữa vi sinh vật đường ruột và sức khỏe động vật

Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977), các vi sinh vật trong dạ dày và ruột tham gia phân giải chất dinh dưỡng, hỗ trợ quá trình hấp thu dinh dưỡng cho cơ thể Vi khuẩn lactic phân giải tinh bột và đường thành axit lactic, có tác dụng kiềm chế vi khuẩn gây thối và một số vi khuẩn khác, đồng thời tạo ra axit axetic Bên cạnh đó, các vi khuẩn còn tổng hợp enzyme amylase để phân giải tinh bột và protease để phân giải protein Ngoài ra, một số vi khuẩn, như Bacillus subtilis, còn tổng hợp được vitamin nhóm B, đóng vai trò bổ sung dinh dưỡng cho cơ thể.

B Ngược lại, các vi sinh vật gây thối rữa lại là nguồn gây bệnh đường ruột (chẳng hạn

E.coli) khi sức khỏe gia súc sút giảm do dinh dưỡng kém hoặc do tác động của môi trường

Theo tài liệu của Victory (2001), trong đường ruột gia súc có khoảng 100 loài vi khuẩn hợp lại thành hai nhóm chủ yếu: nhóm vi khuẩn có lợi và nhóm vi khuẩn có hại Nhóm vi khuẩn có lợi chủ yếu gồm các vi khuẩn giúp tiêu hóa thức ăn, cân bằng hệ vi sinh và tăng cường sức khỏe đường ruột, từ đó cải thiện hiệu quả tiêu hóa và năng suất của vật nuôi.

Vi khuẩn có lợi như Bifidobacterium, Eubacterium và Lactobacillus đóng vai trò thiết yếu trong hệ tiêu hoá của gia súc Ngược lại, nhóm vi khuẩn có hại gồm Clostridium và Escherichia coli có thể chiếm ưu thế khi gia súc bị bệnh hoặc bị nhiễm từ môi trường Trong điều kiện nuôi nhốt, hệ thống đường ruột của gia súc trở nên yếu và lợi thế của vi khuẩn có lợi giảm sút Do đó, tăng sinh và duy trì vi khuẩn có lợi là rất quan trọng, vì chúng có khả năng ức chế vi khuẩn có hại, từ đó nâng cao năng suất và sức khỏe động vật.

CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY TIÊU CHẢY

Tiêu chảy là tình trạng đi ngoài với số lần và lượng phân mỗi ngày lớn hơn mức bình thường, đồng thời nước trong phân tăng lên so với mức bình thường Hiện tượng này cho thấy phân được bài tiết nhiều và ẩm hơn bình thường, khiến cơ thể dễ mất nước và điện giải Theo Nguyễn Kim Chí (1999), tiêu chảy được định nghĩa dựa trên sự gia tăng cả tần suất đi ngoài và khối lượng phân kèm theo độ ẩm của phân cao.

Bệnh tiêu chảy ở heo con có nhiều nguyên nhân khác nhau và được chia thành hai nhóm chính: tiêu chảy do cảm nhiễm vi sinh vật và tiêu chảy không do vi sinh vật Trong nhóm tiêu chảy do vi sinh vật, các tác nhân như vi khuẩn, virus và ký sinh trùng gây tiêu chảy, làm giảm tăng trưởng và sức khỏe của heo con Ở nhóm tiêu chảy không do vi sinh vật, nguyên nhân thường liên quan đến dinh dưỡng, stress, rối loạn tiêu hóa hoặc yếu tố môi trường, đòi hỏi các biện pháp quản lý khác nhau như cải thiện chất lượng thức ăn, vệ sinh chuồng trại và chăm sóc đàn.

2.3.1 Tiêu chảy do cảm nhiễm vi sinh vật

Theo Bergeland (1980) có khoảng 50% trường hợp tiêu chảy ở heo con nuôi theo mẹ là do E coli Trong khi đó, theo Nguyễn Khả Ngữ và Lê Văn Tạo (1996), tại đồng bằng sông Cửu Long, 58,7% trường hợp tiêu chảy ở heo con là do E coli.

Cơ chế gây tiêu chảy

Theo Nielson và ctv (1886) cơ chế gây bệnh tiêu chảy gồm có 4 giai đoạn:

1 Nhiễm vi khuẩn gây bệnh

2 Nhân lên trong đường ruột

E coli thường sống trong đường ruột của động vật nhưng chỉ trở nên độc lực và gây bệnh khi sức đề kháng của vật chủ giảm do stress hoặc chăm sóc nuôi dưỡng kém Trong tình trạng này, E coli là tác nhân gây bệnh tái phát nhưng vẫn đóng vai trò chủ yếu trong cơ chế bệnh lý đường ruột và các biến chứng liên quan Việc nâng cao sức khỏe, giảm stress và đảm bảo chế độ dinh dưỡng cân đối cho vật nuôi giúp ngăn ngừa sự phát triển của E coli gây bệnh và hạn chế các ca nhiễm tái phát.

Bệnh có thể xuất hiện trong vòng 12-48 giờ sau khi sinh Vi khuẩn E.coli thường gây ra bệnh tiêu chảy ở ba thời điểm:

Tiêu chảy ở heo con từ 0-4 ngày tuổi được nhận biết qua phân màu vàng kem hoặc xanh nhạt, rất nhiều nước Heo con lười bú và suy nhược nhanh, lông dựng đứng, đuôi cụp xuống, cơ thể gày còm và nằm chồng chất lên nhau.

Tiêu chảy ở heo con từ 5 ngày tuổi đến 3-4 tuần tuổi thể hiện bằng phân nhão màu trắng hoặc xám, kèm theo heo con gầy ốm và lông dựng đứng; tình trạng này có thể đi kèm sốt hoặc không sốt Nguyên nhân bao gồm không tiêu hóa hết thức ăn, thiếu sắt hoặc chăm sóc kém dễ dẫn đến cảm nhiễm vi sinh vật.

Tiêu chảy sau cai sữa là hậu quả của việc thay đổi thức ăn đột ngột trong giai đoạn cai sữa, khiến hệ tiêu hóa của trẻ bị quá tải và khó dung nạp thức ăn mới Quá trình tiêu hóa kém đi ở giai đoạn này tạo điều kiện cho vi khuẩn Escherichia coli (E coli) phát triển và gây rối loạn tiêu hóa, dẫn đến tiêu chảy Để giảm nguy cơ, cha mẹ nên lên kế hoạch cai sữa từ từ, duy trì chế độ ăn dễ tiêu và đảm bảo uống đủ nước cùng điện giải Theo dõi các triệu chứng và tư vấn bác sĩ khi tiêu chảy kéo dài hoặc kèm sốt để được chẩn đoán và điều trị thích hợp.

2.3.1.2 Tiêu chảy do các vi sinh vật khác

Heo con bị nhiễm một số vi sinh vật khác như: Salmonella, Clostridium perfringens, cầu trùng,… cũng dẫn đến tiêu chảy

Bảng 2.2 Một số đặc điểm giúp chẩn đoán bệnh tiêu chảy ở heo con

Nguyên nhân Tuổi mắc bệnh

Bệnh tích đại thể Bệnh tích vi thể

Phương pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm

E.coli Sơ sinh-sau cai sữa

Lỏng,có màu trắng hoặc vàng

Dưỡng trấp lỏng, màu trắng

Phân lập vi khuẩn từ ruột non TGE

Sơ sinh, trưởng thành Lỏng

Thành ruột non mỏng dưỡng trấp trong

Rotavirus Sơ sinh, sau cai sữa

Teo nhung mao vừa phải

Isospora suis 5-15 ngày sau khi sinh

Chất chứa lỏng, màng giả ở ruột non

Hoại tử fibrin mức độ khác nhau

Nhuộm tiêu bản niêm dịch giám định cầu trùng

Xuất huyết, hoại tử, nhiều bọt khí

Nhuộm tiêu bản niêm dịch trực khuẩn gram dương , phân lập vi khuẩn

Nhầy lẫn máu Màng giả ở ruột già

Sưng và bào mòn niêm mạc

Phân lập vi khuẩn, nhuộm tiêu bản

7 ngày sau cai sữa Lỏng Viêm ruột non

Dày niêm mạc ruột non Giám định kí sinh trùng

2.3.2 Tiêu chảy không do vi sinh vật

2.3.2.1 Do ngoại cảnh, nuôi dưỡng, chăm sóc

Ở heo con mới sinh, khả năng thích ứng và bảo vệ của cơ thể còn kém nên chúng rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của ngoại cảnh, đặc biệt là nhiệt độ và độ ẩm Vì vậy, nếu heo con không được úm đúng quy trình hoặc úm sai cách sẽ dễ bị lạnh, hệ tiêu hóa hoạt động yếu dẫn đến giảm động ruột và giảm tiết dịch tiêu hóa Quá trình tiêu hóa bị ảnh hưởng sẽ gây khó tiêu và làm tăng nguy cơ viêm ruột và tiêu chảy.

Do vệ sinh rốn heo con không tốt, dẫn đến viêm rốn cũng gây tiêu chảy

Điều kiện vệ sinh chăm sóc kém và chuồng trại không được vệ sinh đúng quy trình làm tăng nguy cơ vi khuẩn cơ hội xâm nhập qua đường ruột của heo con, dễ dẫn đến tiêu chảy Nguồn nước uống bẩn hoặc ô nhiễm cũng làm tăng khả năng nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, khiến đàn heo con dễ mắc tiêu chảy và suy dinh dưỡng Do đó, duy trì vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, khử trùng định kỳ và cung cấp nước sạch cho heo con là những yếu tố quan trọng để ngăn ngừa tiêu chảy và đảm bảo sức khỏe, tăng trưởng cho đàn heo.

2.3.2.2 Do sinh lý heo con

Ở heo con mới sinh, hệ tiêu hóa chưa hoàn chỉnh khiến dịch tiêu hóa ở dạ dày và ruột thiếu cả chất lẫn lượng Lúc này, heo con không tiết đủ HCl tự do nên độ axit của dạ dày ở mức thấp, chỉ đủ kích hoạt pepsinogen thành pepsin để tiêu hóa protein Môi trường dạ dày ít axit cho phép vi khuẩn bất lợi từ đường miệng có điều kiện sống sót, trong khi ruột non phát triển nhanh dễ dẫn tới tiêu chảy Điều này phản ánh sự chưa hoàn thiện của cơ quan tiêu hóa và ảnh hưởng đến khả năng hấp thu dinh dưỡng ở heo con sơ sinh.

Heo con không bú đủ sữa đầu khiến sức đề kháng kém và dễ bị tiêu chảy; thiếu sắt gây thiếu máu làm giảm cảm giác thèm ăn và dẫn đến còi cọc, tiêu chảy.

Thiếu dinh dưỡng trong thai kỳ ở heo mẹ không cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và vitamin thiết yếu, dẫn tới rối loạn trao đổi chất ở bào thai và sinh ra heo con yếu ớt, sức đề kháng kém và dễ mắc các bệnh liên quan đường tiêu hóa Sau sinh, nuôi dưỡng heo mẹ không hợp lý khiến sữa mẹ kém chất lượng và ít về lượng, làm giảm kháng thể và khả năng miễn dịch của heo con, khiến chúng còi cọc, yếu ớt và dễ bị bệnh tật.

Heo mẹ mắc hội chứng MMA, heo con bú sữa có sản vật viêm hoặc dịch viêm rơi vãi trên nền chuồng heo con sẽ bị nhiễm vi khuẩn vào đường ruột gây bệnh tiêu chảy

2.4.1 Sự axit hóa đường ruột

Là giải pháp bổ sung trực tiếp các axit hữu cơ vào thức ăn cho vật nuôi Các axit hữu cơ sẽ làm giảm pH trong đường tiêu hóa, cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột, ức chế vi khuẩn gây hại và tăng khả năng tiêu hóa thức ăn Từ đó làm cho axit hữu cơ có tác dụng như các chất kích thích tăng trưởng

Theo Adam (1999), nhiều loại axit hữu cơ như axit acetic, axit citric, axit fumaric, axit lactic và axit propionic có vai trò đặc biệt trong dinh dưỡng gia súc Những axit hữu cơ này mang lại nhiều lợi ích cho tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng, từ đó cải thiện thành tích của vật nuôi Do đó, chúng được xếp vào nhóm thành phần thức ăn và được gọi là dưỡng chất.

PROBIOTICS

Thuật ngữ probiotics được đưa ra đầu tiên bởi Lilly và Stillwell, 1965 (trích dẫn

Lã Văn Kính (1998) mô tả các yếu tố kích thích sinh trưởng được sinh ra bởi vi sinh vật, nhấn mạnh vai trò của hệ vi sinh trong phát triển và sức khỏe Probiotics được bắt nguồn từ chữ Hy Lạp mang nghĩa trợ sinh (prolife), ám chỉ khả năng hỗ trợ cân bằng hệ vi sinh và trao đổi chất cho cơ thể Theo Fuller, khái niệm probiotics tập trung vào các vi sinh vật có ích có thể cải thiện sức khỏe đường ruột, tăng cường miễn dịch và mang lại lợi ích sức khỏe lâu dài.

Vào năm 1989, probiotics được định nghĩa là một loại thức ăn bổ sung chứa vi sinh vật sống có tác dụng có lợi cho vật chủ nhờ khả năng duy trì sự cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò của probiotics trong hỗ trợ chức năng tiêu hóa và duy trì cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột.

FDA (Food and Drug Administration) của Mỹ yêu cầu các nhà sản xuất dùng thuật ngữ Direct Feed Microbials (DFM) thay cho probiotics khi nói về vi sinh vật được cho ăn trực tiếp Theo FDA, DFM được định nghĩa là nguồn vi sinh vật sống tìm thấy trong tự nhiên, bao gồm cả vi khuẩn, nấm mốc và nấm men (Lã Văn Kính, 1998).

2.5.2 Cơ chế tác động của probiotics

Theo tài liệu của Han Poong industry Co.,Ltd (2002), Fuller (1992) probiotics có cơ chế tác động như sau:

Duy trì hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột bằng cách loại trừ cạnh tranh và bằng hoạt động đối kháng

Cạnh tranh giữa vi khuẩn bao gồm cạnh tranh vị trí bám trên nhung mao ruột, cạnh tranh dinh dưỡng và cạnh tranh về khối lượng các chất sinh ra bởi vi sinh vật gây bệnh như E coli và Salmonella typhimurium Việc ức chế khả năng bám dính của vi sinh vật gây bệnh giúp ngăn ngừa sự phát triển và gây bệnh, từ đó probiotic được xem là giải pháp phòng ngừa bệnh đường ruột Hoạt động đối kháng của vi khuẩn lactic với vi sinh vật gây bệnh đến từ việc chúng sản xuất các chất như bacteriocin, axit hữu cơ, hydroperoxyd và lactocidin; lactocidin có phổ kháng khuẩn rộng, còn axit acetic và axit lactic làm giảm pH ruột và ức chế sự phát triển của nhiều vi sinh vật gây bệnh gram âm.

Probiotics tăng lượng thức ăn tiêu thụ và cải thiện khả năng tiêu hóa bằng cách kích thích cảm giác thèm ăn, đồng thời tăng tích lũy chất dinh dưỡng như nitơ, Ca, P, Cu và Mn; chúng còn kích thích tiết các enzyme tiêu hóa quan trọng như amylase, cellulase, lipase và protease Các bằng chứng từ Nahashon và ctv (1992–1996), được trích dẫn bởi Lã Văn Kính (1998), cùng với nguồn từ Han Poong Industry Co., Ltd (2001) cho thấy probiotic có vai trò tích cực trong tăng cường tiêu hóa và chuyển hóa dinh dưỡng.

Giảm hoạt tính urease trong chất chứa ruột non ngăn chặn quá trình tổng hợp các amin độc và làm giảm nồng độ NH3 trong phân của gia súc, gia cầm, từ đó hạn chế ô nhiễm môi trường và mùi khó chịu từ chất thải Việc kiểm soát urease giúp giảm phát thải ammoniac và các hợp chất độc hại từ phân chăn nuôi, bảo vệ đất, nước và không khí Đây là biện pháp mang lại lợi ích môi trường bền vững và hỗ trợ quản lý chất thải trong nông nghiệp.

Tổng hợp vitamine nhóm B như B1, B2, B6, B12

Trung hòa và khử độc tố trong đường ruột là cơ chế lợi ích nổi bật của probiotics được bổ sung trong thức ăn Nghiên cứu của Rani và Khetarpaul (1998) cho thấy probiotics sản xuất các chất kháng khuẩn, có tác dụng trung hòa độc tố gây tiêu chảy bởi vi khuẩn E coli, từ đó giúp cân bằng hệ vi sinh và cải thiện chức năng tiêu hóa.

Kích thích hệ miễn dịch là yếu tố được xác định có vai trò quan trọng, bắt nguồn từ thành phần của vách tế bào vi khuẩn là peptidoglycan Sự phân hủy peptidoglycan tạo ra muramyl dipeptide (muramyl peptide), chất có tác dụng kích thích hoạt động của đại thực bào Khả năng probiotics bám vào niêm mạc ruột giúp tăng tiếp xúc với hệ thống lympho đường ruột và hệ miễn dịch, từ đó thúc đẩy hiệu quả của hệ miễn dịch và củng cố sự ổn định của hàng rào bảo vệ ruột.

GIỚI THIỆU VỀ CÁC CHẾ PHẨM SỬ DỤNG TRONG THÍ NGHIỆM

Kháng sinh sử dụng trong lô đối chứng dương được mã hóa thành chế phẩm A Thuộc tính hóa học của chế phẩm A

Hoạt chất chính là Avilamycin, một kháng sinh thuộc nhóm Orthosomycine, được sản xuất từ nấm Streptomyces viridochromogenes

Khi lượng axit lactic giảm, nhu động của ruột non chậm lại, khiến thức ăn ở lại ruột non lâu hơn Nhờ thời gian lưu trữ kéo dài này, quá trình tiêu hóa diễn ra hiệu quả hơn và việc hấp thu chất dinh dưỡng được triệt để hơn, hỗ trợ tối ưu hóa dinh dưỡng cho cơ thể.

Chế phẩm A tác động làm giảm sản xuất axit lactic trong ruột, từ đó tối ưu hóa quá trình tiêu hóa và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn Việc giảm axit lactic giúp cơ thể hấp thu dinh dưỡng tốt hơn và thức ăn được sử dụng triệt để hơn.

- Tăng tích trữ dưỡng chất carbonhydrate

Trong ruột non, các vi khuẩn cạnh tranh hấp thu dưỡng chất, chủ yếu là glucose Khi cạnh tranh giữa các vi khuẩn đường ruột được giảm bớt, heo hấp thu được nhiều dưỡng chất hơn và hiệu quả sử dụng thức ăn được chuyển hóa tốt hơn.

- Kích thích sản xuất các axit béo bay hơi

Các axit béo bay hơi được sản xuất thông qua quá trình lên men các thành phần còn lại của thức ăn, như chất xơ, nhờ hoạt động của vi sinh vật ở ruột già, và chúng cung cấp khoảng 12% năng lượng duy trì cho heo Bằng cách kích thích quá trình lên men và sản xuất axit béo bay hơi, chế phẩm A giúp heo hấp thu nhiều năng lượng từ thức ăn hơn, từ đó tăng hiệu quả sử dụng thức ăn.

Axit hữu cơ sử dụng trong thí nghiệm được mã hóa thành axit hữu cơ B có những tính chất như sau:

Axit formic, lactic, malic, tartaric, citric, phosphoric: chiếm 38%

Chất mang có nguồn gốc thực vật chiếm 62%

Dạng bột màu cám gạo, độ ổn định cao, mùi đặc trưng, không hút ẩm và dễ dàng bổ sung vào thức ăn cũng như các chất phụ gia

Chế phẩm Probiotics sử dụng trong thí nghiệm được mã hóa thành chế phẩm C Thành phần

Là hợp chất cuả những thức ăn lên men đường chậm và chiết xuất từ nấm men

Một loại nấm men đơn bào hiếu khí, có hình tròn hoặc bầu dục và nhân rất nhỏ; tế bào phân chia theo cách nảy chồi Loại này thích nghi với môi trường có pH từ 2 đến 9 và có khả năng lên men một số loại đường, đồng thời sinh axit.

Sản phẩm sinh khối chứa axit amin và vitamin nhóm B, vách tế bào có mannan và glucan giúp kích hoạt đại thực bào, từ đó tăng cường miễn dịch, hấp thụ độc tố và bài thải ra ngoài Quá trình chuyển hóa glucose thành axit pyruvic là cơ chất giúp các vi sinh vật có lợi hoạt động và sinh sản Sản phẩm tiết ra các men tiêu hóa như amylase, cellulase, lipase và protease, sản xuất các axit, đưa pH ruột xuống 4-5 và ức chế vi khuẩn Đặc điểm sản phẩm.

Dạng bột, màu kem, tỷ trọng 0,7-0,8 kg/l, ẩm độ tối đa 10%, pH từ 5-7 Đóng bao 25kg trong bao giấy, hạn sử dụng 2 năm trong điều kiện khô mát.

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM

Thí nghiệm được tiến hành từ ngày 1/3/2007 đến ngày 28/5/2007

Thí nghiệm được tiến hành tại trại chăn nuôi heo Chợ Gạo, thuộc xã Long Bình Điền huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang.

GIỚI THIỆU VỀ XÍ NGHIỆP CHĂN NUÔI HEO CHỢ GẠO

Xí nghiệp được thành lập từ năm 1978 với tên gọi là xí nghệp chăn nuôi Láng Biển

Sau một thời gian hoạt động với tên gọi trại giống cây trồng vật nuôi Chợ Gạo, đầu năm 2000 trại được đổi tên thành xí nghiệp chăn nuôi heo Chợ Gạo và thuộc quản lý của Công ty chăn nuôi Tiền Giang.

Xí nghiệp chăn nuôi Chợ Gạo thuộc địa bàn ấp Thạnh Lợi, xã Long Bình Điền, huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang

Phía đông cách thị trấn Chợ Gạo khoảng 1km

Phía tây giáp ao cá trại giống cây trồng huyện Chợ Gạo

Phía nam cách quốc lộ 50A khoảng 1km

Phía bắc giáp kênh ngang về hướng chợ Ông Văn

Hiện nay diện tích của trại là 2,7ha trong đó:

-Diện tích chăn nuôi: 2,2ha

-Phần diện tích còn lại là khu hành chánh, nhà kho, khu vui chơi, giải trí …và trồng cây xanh

Xí nghiệp chăn nuôi heo Chợ Gạo gồm có 31 người được phân công như sau:

1 Giám đốc: 1 người 3 Tổ kĩ thuật: 3 người

2 Phó giám đốc: 1 người 4 Tổ heo giống: 1 người

5 Tổ nái sinh sản: 5 người 9 Công nhân, bảo vệ: 7 người

6 Tổ nái khô, chữa, hậu bị: 3 người 10 Kế toán: 2 người

7 Tổ heo thịt: 3 người 11 Thủ kho: 2 người

8 Tổ heo cai sữa: 2 người 12 Tổ heo nọc: 1 người

Sản xuất heo con nuôi thịt

Cung cấp giống cho thị trường trong và ngoài tỉnh

Cung cấp tinh có chất lượng cao cho nhà chăn nuôi

Giúp người chăn nuôi nắm bắt được quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng

3.2.4 Cơ cấu đàn (tính đến ngày 28/5/2007)

Heo con theo mẹ: 680 con

Heo con cai sữa: 586 con

Trại có 11 dãy chuồng được bố trí như sau:

Heo sau cai sữa: 2 dãy

Nái khô và nọc: 1 dãy

Trại nuôi có một số đực giống chất lượng cao, chủ yếu là heo lai giữa các dòng Landrace, Yorkshire, Pietrain và Duroc Những đực giống này được mua từ trại giống cấp 1 thuộc xí nghiệp chăn nuôi Bình Thắng.

Các nhóm heo lai chủ yếu ở trại:

- Lai 2 máu: Landrace- Yorkshire, Landrace- Pietrain

- Lai 3 máu: Landrace- Yorkshire- Duroc, Yorkshire- Landrace- Pietrain

- Lai 4 máu: Landrace- Yorkshire- Duroc- Pietrain, Landrace-Yorkshire-

3.2.7 Thức ăn và nước uống

Thức ăn: xí nghiệp sử dụng thức ăn của Công ty thức ăn gia súc Mỹ Tường và cho ăn theo từng giai đoạn và lứa tuổi của heo

Nước uống sử dụng từ giếng khoan

3.2.8 Nuôi dưỡng và chăm sóc

Trong chu trình nuôi nái, quá trình hậu bị diễn ra 14 ngày trước phối giống với chế độ ăn thức ăn số 2, liều lượng 2,8 kg/con/ngày để đảm bảo sức khỏe và hiệu quả sinh sản Trong giai đoạn sinh sản, 7 ngày trước khi nái được chuyển sang lồng đẻ, cho ăn 2 kg/con/ngày để cung cấp dinh dưỡng cho quá trình mang thai và chuẩn bị cho việc đẻ.

Sau khi nái đẻ, tiêm thuốc kháng viêm bằng Clamoxyl L.A

Khoảng 18 ngày sau khi nái sinh tiêm cho nái chế phẩm ADE, sau khi nái cai sữa thì nhịn ăn 1 ngày

Trại không thường xuyên tắm heo, chỉ tắm cho heo nái chờ sinh và nái nuôi con khi nhiệt độ trong chuồng nuôi trên 30 độ Đối với heo con

Ngay sau khi heo con sinh ra, cần dùng khăn sạch lau sạch lớp màng phủ quanh cơ thể, rồi cột rốn và thực hiện các thao tác chăm sóc sơ sinh như bấm răng, bấm đuôi, bấm tai, sau đó sát trùng bằng dung dịch iốt 2,5% để giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn cho heo con.

Ngày thứ 3 sau khi sinh ta tiêm sắt cho heo con bằng chế phẩm Bio-Fer, cho uống Baycox 5% để ngăn ngừa cầu trùng

Heo con từ 1-25 ngày tuổi được úm bằng bao bố và đèn hồng ngoại

Heo con được tập ăn vào lúc 7 ngày tuổi bằng thức ăn A205 của nhà máy thức ăn gia súc Mỹ Tường

Thiến heo con vào lúc 7-10 ngày tuổi

Khi heo con bị tiêu chảy, cán bộ kỹ thuật đưa chúng vào khu nuôi cách ly để ngăn ngừa lây lan và chăm sóc riêng biệt Tại khu nuôi này, đèn hồng ngoại được sử dụng để sưởi ấm, giúp ổn định thân nhiệt và tăng cường sức đề kháng cho heo con Đồng thời, các trường hợp nhiễm trùng được điều trị bằng phác đồ kháng sinh gồm Gentamycin, Tylosin, Vime-coof và Enro-colij, do bác sĩ thú y chỉ định và theo dõi chặt chẽ.

Các dãy chuồng được phun thuốc sát trùng 7 ngày một lần

Với heo con cai sữa( 25-60 ngày tuổi):

Trước khi đưa vào khu cai sữa chuồng trại phải được vệ sinh tiêu độc

Vào mùa nóng heo con được tắm ngày 1-2 lần

Trong trại nuôi, công nhân và cán bộ có phận sự phải tắm rửa sạch sẽ, mặc đồ bảo hộ lao động và đi qua hố sát trùng trước khi vào khu vực nuôi nhốt để tăng cường an toàn sinh học Đầu mỗi dãy chuồng đều có hố sát trùng nhằm đảm bảo khử trùng khu vực tiếp xúc và giảm nguy cơ lây nhiễm Trại phun thuốc sát trùng toàn trại hai lần mỗi tuần để duy trì môi trường sạch sẽ và bảo vệ sức khỏe của người và vật nuôi.

Công nhân ở mỗi dãy không được đi qua lại các dãy khác

Trước khi nhận heo mới, chuồng nuôi phải được dọn sạch, để trống hoàn toàn và dội rửa sạch sẽ nhằm đảm bảo vệ sinh chuồng Sau đó tiến hành sát trùng bằng cách quét vôi để tiêu diệt mầm bệnh và hạn chế nguy cơ lây nhiễm cho đàn heo mới Các dụng cụ chăn nuôi cũng cần được tiêu độc, sát trùng trước khi đưa vào sử dụng để ngăn ngừa sự lây lan của vi khuẩn và đảm bảo chu trình nuôi an toàn và hiệu quả.

Tắm heo và vệ sinh chuồng trại phải được tiến hành hằng ngày

Thuốc sát trùng được sự dụng tại trại: Lenka, NaOH 5%, bột vôi

Hố nước vôi sát trùng được thay hằng ngày

3.2.10 Quy trình tiêm phòng của trại

Bảng 3.1 Quy trình tiêm phòng của trại Đối tượng Lịch tiêm Bệnh Liềulượng(ml)

Heo nọc 4-6 tháng một lần

Dịch tả FMD Parvovirus PRRS

Tụ huyết trùng Aujeszky Dịch tả E.coli

Nái nuôi con 21-23 ngày PRRS 2

Nái khô Sau cai sữa 3 ngày Phó thương hàn 2

Nái hậu bị Trước khi phối

Tụ huyết trùng Dịch tả

Heo con theo mẹ 15-17 ngày Dịch tả 2

Phó thương hàn Dịch tả

Một số thuốc mà trại thường sử dụng:

- Kháng sinh: Pennicillin, Linco-S, Ampicillin, Enrocoliject, Septotryl, Geta- tylosin, Clamoxyl L.A, Enrofloxacin, Sultrim

- Khuốc hạ sốt: Bio-Anazine

- Thuốc trợ sức, trợ lực: Bio-B.complex, ADE, Aminovital, Catosal, BIO- cevit

- Thuốc trị ký sinh trùng: Taktic, Bivermectin, Baycox 5%

- Thuốc sát trùng: cồn Iodua 2,5%, Lenka, Bluemethylen, Pacoma.

PH ƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM

Thí nghiệm được tiến hành trên heo con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi

Yếu tố thí nghiệm: khẩu phần thức ăn

Thí nghiệm được tiến hành trên heo con lai 4 máu: Pietrain-Duroc-Landrace- Yorkshire Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố Đối tượng thí nghiệm được bố trí vào ba lô: lô đối chứng, lô thí nghiệm 1 và lô thí nghiệm 2 Thí nghiệm được lập lại 3 lần trên mỗi lô

Lô đối chứng: cho ăn thức ăn A215 của công ty thức ăn chăn nuôi Mỹ Tường

Lô thí nghiệm 1: cho ăn thức ăn A215 của công ty thức ăn chăn nuôi Mỹ

Tường bổ sung chế phẩm A

Lô thí nghiệm 2: cho ăn thức ăn A215 của công ty thức ăn chăn nuôi Mỹ

Tường có bổ sung thêm B và C

Bảng 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Lô Đối chứng Thí nghiệm 1 Thí nghiệm 2

Không bổ sung Bổ sung chế phẩm A Bổ sung chế phẩm

0,2gA /kg thức ăn 1g B +1gC/kg thức ăn

Liệu trình Cho ăn mỗi ngày từ lúc cai sữa đến khi kết thúc thí nghiệm

Thí nghiệm được chia làm 3 đợt, tổng số heo con thí nghệm toàn đợt là 135 con

Mỗi đợt có số heo thí nghiệm là 45 con, chia ra 3 lô, mỗi lô là 15 con

Mỗi lô được nuôi trên chuồng có kích thước 3 x 4x 0,6m

Tất cả các lô bố trí cùng hướng chuồng để loại bỏ sự ảnh hưởng của yếu tố thời tiết đến kết quả thí nghiệm

Sử dụng thức ăn do nhà máy thức ăn gia súc Mỹ Tường phân phối có mã số

A215 có công thức sau đây:

Bảng 3.3 Bảng công thức thức ăn

Tên thực liệu Số lượng(g) Giá thực liệu(đ/kg)

Dabomb-P Đường lactose Đậu nành ép

Tổng 1000g Giá 1 kg thức ăn =8.000đ

Bảng 3.4 Giá trị dinh dưỡng thức ăn

Các chất dinh dưỡng Giá trị dinh dưỡng (ở vật chất khô 87%) Vật chất khô (%)

Tổng thức ăn sử dụng

Số con kết thúc thí nghiệm

CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI

3.4.1 Tăng trọng (gr/con/ngày)

3.4.2 Chỉ số tiêu tốn thức ăn (kg TĂ/kg P)

3.4.4 Tỉ lệ ngày con tiêu chảy (%)

XỬ LÝ SỐ LIỆU

Các số liệu thu thập được tính toán dựa theo giáo trình thống kê sinh vật học và xử lý bằng phần mềm Excel, Minitab12.21, trắc nghiệm Chi-Square

Tăng trọng CSTTTA Tổng trọng lượng tăng

TLNS Số con bắt đầu thí nghiệm

TLNCTC Tổng số ngày con tiêu chảy Tổng số ngày con theo dõi

Ngày đăng: 24/03/2022, 20:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w