1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BUỔI THẢO LUẬN THỨ 3 đề tài tài sản và QUYỀN đối với tài sản

23 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 510,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do: Ông Phan Hai kháng cáo vì Tòa án cho rằng Ông Hai không cung cấpđược Giấy ủy quyền của ông Phan Trọng Nguyên; và Tòa cho rằng ông không cungcấp giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu

Trang 1

Tài sản và quyền đối với tài sản

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG

ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM

~~~~~~*~~~~~~

BUỔI THẢO LUẬN THỨ 3

ĐỀ TÀI:

TÀI SẢN VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

LỜI MỞ ĐẦU

NỘI DUNG 4

I KHÁI NIỆM VỀ TÀI SẢN 4

*Nghiên cứu 4

*Tóm tắt quyết định số 06/2017/QĐ-PT ngày 11/07/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa 4

*Tóm tắt bản án số 39/2018/DSST ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long 5

*Bản án số 22/2017/HC-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre 6

Tóm tắt quyết định số 05/2018/DS-GĐT ngày 10-4-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 7

5 Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao? 10

6. Suy của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” 11

7 Bitcoin là gì? 11

8 Theo Tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không? 11

9, Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết 12

10 Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam 13

11 Quyền tài sản là gì? 13

12. Có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản là quyền tài sản không? 13

13. Đoạn nào của Quyết định số 05 cho thấy Tòa án nhân dân tối cao theo hướng quyền thuê, quyền mua là tài sản? 14

14. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong Quyết định số 05 về quyền thuê, quyền mua (trong mối quan hệ với khái niệm tài sản)? 14

II Căn cứ xác lập quyền sở hữu 14

Nghiên cứu: 15

*Tóm tắt quyết định số 111/2013/DS-GĐT ngày 09-09-2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 15

Trang 3

Tài sản và quyền đối với tài sản

1. Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đãchiếm hữu nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về

khẳng định này của Tòa án? 15

2. Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của

anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 16

3. Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu liên tục nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của

anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 16

4. Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu công khai nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của

anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 17

5 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định cụ Hảo không còn làchủ sở hữu nhà đất có tranh chấp và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng địnhnày của Tòa án? 18

6. Theo anh/chị, gia đình chị Vân có được xác lập quyền sở hữu đối với nhà đất

có tranh chấp trên cơ sở quy định về thời hiệu hưởng quyền không? Vì sao? 18

III Chuyển rủi ro đối với tài sản 19

1. Ai phải chịu rủi ro đối với tài sản theo quy định của BLDS? Nêu cơ sở pháp lý

Rèn luyện kỹ năng tự đọc tài liệu, văn bản pháp luật để giải quyết một số vấn

đề pháp lý

Rèn luyện kỹ năng phân tích để hiểu, đánh giá một quyết định của Tòa án,nhất là đối với những vấn đề mà văn bản không rõ ràng hay không đầy đủ

3

Trang 4

NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM VỀ TÀI SẢN *Nghiên cứu

- Điều 105 và Điều 115 BLDS 2015 (Điều 163, 181 và 322 BLDS 2005); Án lệ

số 31/2020/AL và các quy định liên quan khác (nếu có)

- Quyết định số 06/2017/QĐ-PT ngày 11/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh KhánhHòa, Bản án số 39/2018/DSST ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Long

Hồ tỉnh Vĩnh Long

- Bản án số 22/2017/HC-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre;

- Quyết định số 05/2018/DS-GĐT ngày 10-4-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao

*Tóm tắt quyết định số 06/2017/QĐ-PT ngày 11/07/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Kim Hải

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Tuyết

Ông Trần Hữu Viên

Nguyên Đơn: Ông Phan Hai, sinh năm: 1939 Cư trú tại thôn Nam 2, xã DiênSơn, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa

Bị Đơn: Ông Phan Quốc Thái, sinh năm: 1977 Cư trú tại thôn Nam 2, xã DiênSơn, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa

Lý do: Ông Phan Hai kháng cáo vì Tòa án cho rằng Ông Hai không cung cấpđược Giấy ủy quyền của ông Phan Trọng Nguyên; và Tòa cho rằng ông không cungcấp giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu tài sản đối với Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất số phát hành 0926009, số vào sổ 01868QSDĐ/DS-DK cấp ngày 23/7/1999của ủy ban Huyện Diên Khánh là không thỏa đáng

- Xét thấy:

+ Theo yêu cầu của ông Phan Hai: yêu cầu ông Phan Quốc Thái trả lại giấychứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành 0926009, số vào sổ 01868QSDĐ/DS-DKcấp ngày 23/7/1999 của ủy ban Huyện Diên Khánh mang tên Lương Thị Xàm

+ Xét thẩm quyền giải quyết vụ án Theo Điều 105,115 BLDS 2015, khoản 16Điều 3 Luật đất đai 2013 thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứađựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản vàkhông thể xem là loại giấy tờ có giá vì vậy vụ kiện của ông Hai không thuộc thẩm quyềncủa Tòa án Thế nhưng tòa án đã chấp nhận thụ lý Trong trường hợp này thay vì căn cứvào khoản 1 Điều 217 để ra quyết định đình chỉ vụ án, xóa tên trong sổ thụ lý, thế nhưngTòa cấp sơ thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217 để đình chỉ vụ

án điều này là không chính xác

- Quyết định:

Trang 5

Tài sản và quyền đối với tài sản

+ Không chấp nhận kháng nghị 01/QĐKN/VKS-DS ngày 12/5/2017 của Việnkiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa; không chấp nhận kháng cáo củanguyên đơn ông Phan Hai

+ Sửa quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 17/2017/QĐST-DS ngày

4/5/2017 Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa

*Tóm tắt bản án số 39/2018/DSST ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hưng

Ông Nguyễn Văn Tước

Nguyên đơn: Ông Võ Văn B sinh năm 1954 Cư trú tại Ấp Long Hưng, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

Bà Bùi Thị H sinh năm 1954 Cư trú tại Ấp Long Hưng, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thủy T sinh năm 1979 Cư trú tại số 240/36G, đường 14/09, phường 5, tp Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long

Nội dung vụ án:

- Theo lời khai của nguyên đơn:

Bên nguyên đơn không có quan hệ bà con với bà T, không biết bà T là ai,không vay tiền của bà T Năm 2012 đã làm mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

do dọn nhà để sửa chửa và đã được ủy ban nhân dân huyện Long Hồ cấp lại giấychứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do có tranh chấp nên tôi không được nhận.Nên tôi yêu cầu bà T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 090902 chochúng tôi

- Theo lời khai của bị đơn:

Hiên nay bà T có giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 090902 của

hộ ông Võ Văn B, nhưng bà không đồng ý trả lại trừ khi ông B và bà H trả đủ sốtiền 120.000.000 đồng

- Luật sư của nguyên đơn phát biểu: Yêu cầu bà T trả lại giấy chúng nhận quyền

sử dụng đất cho ông B và bà H theo Điều 4 luật tố tụng dân sự

- Ý kiến kiểm sát viên: tất cả đều đúng trình tự thủ tục

- Nhận định của tòa án

+ Về tố tụng: Về nguyên tắc Tòa án không được từ chối thủ lý vụ án dân sự

vì lý do chưa có điều luật áp dụng Căn cứ khoản 2 Điều 4, khoản 14 Điều 26 Bộ luật tốtụng dân sự đã xác nhận Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án

+ Về nội dung:

5

Trang 6

Theo trình bày của bà T thì con ông B đã thế chấp cho bà T đển vay tiền việc nàyông B và bà H có biết, nhưng bà không có bằng chứng xác thực Phía ông B bà Hphủ nhận toàn bộ lời trình bày của bà T.

Việc ông B mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có thật Ủy ban nhân dânhuyện Long Hồ cũng dã đồng ý hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã mất vàcấp cho ông B giấy chứng nhân mới Sau đó bà T chứng minh được giấy chứngnhân AM 090902 không mất nên ông B không được cấp lại giấy chứng nhận mới.Việc bà T yêu cầu ông B trả đủ 120.000.000 đồng mới trả lại giấy chứng nhận sửdụng đất là trái pháp luật và buộc bà T phải trả lại cho ông B và bà H theo đúng quyđịnh pháp luật

- Quyết định: Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện Buộc bà Nguyễn Thị Thủy Tgiao trả lại cho ông Võ Văn B và bà Bùi Thị H chứng nhận quyền sử dụng đất số

AM090902, số vào sổ H55802, số thửa 1595 diện tích 489,1m2

* Bản án số 22/2017/HC-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quan Sơn

Người khởi kiện: ông Nguyễn Việc Cường, sinh năm 1984 Nơi cư trú 02E khu phố 3, phường Phú Khương, Tp Bến Tre, tỉnh Bến Tre

* Xét theo quy định 714 QĐ-CCT ngày 12/10/2015

- Về trình tự thủ tục ban hành quyết đinh: đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật

- Về thẩm quyền ban hành: đúng thẩm quyền

- Về nội dung quyết định:

Trang 7

Tài sản và quyền đối với tài sản

+ Chưa có căn cứ xác nhận ông cường phải nộp thuế khi mua bán tiền kĩthuật số

+ Pháp luật Việt Nam không có căn cứ quy định về nghề kinh doanh nạp tiền

ảo, nên chưa có pháp lệnh điều chỉnh mua bán loại tiền này trên Internet Vì vậy quyếtđịnh của chi cục trưởng chi cục thuế thành phố Bến Tre đã vuợt quá thẩm quyền banhành theo quy định của pháp thuật, ảnh hưởng đến hệ quả điều hành chính sách tiền tệcủa ngân hàng nhà nước

+ Căn cứ theo điều khoản pháp luật thì quyết định khiếu nại của ông Cường được chấp thuận

- Ý kiến của Kiểm sát viên: kiểm sát viên cho rằng việc chi cục thuế truy thu thuếđối với ông Cường là có căn cứ Vì vậy theo những điều lệ áp dụng ở các phần trên thì ýkiến của Kiểm sát viên không được chấp nhận

* Quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt Cường, tuyên xử: Hủy quyếtđịnh số 714/QĐ-CCT ngày 12/5/2016 của chi cục Trưởng chi cục thuế thành phốBến Tre về việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả và quyết định số1002/QĐ-CT ngày 18/5/2017 của Cục trưởng Cục thuế thành phố Bến Tre về việcgiải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Việt Cường

*Tóm tắt quyết định số 05/2018/DS-GĐT ngày 10-4-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H

Bị đơn: Nguyễn Thị Kim L

Nội dung: Bà H (nguyên đơn) và bà L (bị đơn) là con của cụ T Đầu năm 1976,

cụ T được Quân đội cấp căn nhà số 63 Năm 1995, cụ T chết, cụ chưa làm thủ tụcmua hóa giá căn nhà trên, không để lại di chúc, có lập giấy ủy quyền cho bà L trọnquyền giải quyết những việc có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm đốivới căn nhà trên Bà L đã mua hóa giá căn nhà trên sau khi có sự đồng ý của tòan bộcác con cụ T, tuy nhiên sau đó bà L đã cho thuê mà không bàn bạc với con cụ T Bà

H khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung là ngôi nhà trên theo biên bản thỏa thuận củaThanh tra Bộ Quốc Phòng Tòa án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của bà H,Tòa phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà L Tòa án nhân dân tối cao đãhủy toàn bộ bản án và giao hồ sơ vụ án lại cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ ChíMinh xét xử lại sơ thẩm

7

Trang 8

1 Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh họa về giấy tờ có giá.

BLDS 2015 không định nghĩa cụ thể giấy tờ có giá là gì mà chỉ nêu giấy tờ có giá

là một loại tài sản (Điều 105 BLDS 2015) Tuy nhiên, giấy tờ có giá có thể hiểu làgiấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự

Tại Khoản 1, Điều 1, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định

số 163/2016/NĐ-CP) có quy định: ‘Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hốiphiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giákhác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch’

Ví dụ minh họa về một số giấy tờ có giá:

- Trái phiếu Chính phủ

- Trái phiếu Công ty

- Cổ phiếu

- Chứng chỉ tiền gửi Agribank

2 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không?

- Trong thực tiễn xét xử hiện nay, không coi “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gấy chứng nhận sở hữu nhà” là giấy tờ có giá

- Các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấychứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng kí ô tô, sổ.tiết kiệm,… không phải là giấy tờ có giá

(Các loại tài sản trong luật dân sự Việt Nam)

- Toà án nhân dân tối cao ban hành công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày21/9/2011 hướng dẫn thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền

sở hữu tài sản (“Công văn 141”) Theo công văn, các giấy chứng nhận quyền sở hữu tàisản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấyđăng kí xe mô tô, xe máy; Giấy đăng kí xe ô tô,…) không phải là giấy tờ có giá quy địnhtại Điều 163 của BLDS 2005 (Điều 105 BLDS 2015)

(Vai trò của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vấn đề kiện đòi giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất)

- Quyết định số 06 ghi nhận: “[2] Xét thẩm quyền giải quyết vụ án:

Trang 9

Theo Điều 105 BLDS 2015 quy định về tài sản như sau: “1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản 2 Tài sản bao gồm bất đọng sản và động sản, Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương

Trang 10

Tài sản và quyền đối với tài sản

lai.”; Điều 105 BLDS 2015: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.” (…) Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không

phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá.”

- Bản án số 39 ghi nhận: “Hội đồng xét xử thấy rằng Bộ luật tố tụng dân sự

không quy định rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp này Tuy nhiên về nguyên tắc Toá

án không được từ chối giai quyết vụ án dân sựu vì lý do chưa có điều luật để áp dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, cho thấy nội dung này hàm chứa một số quyền về tài sản gắn liền với đất nên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự…”

3 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không? Vì sao?

- Trong thực tiễn xét xử, “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận

sở hữu nhà” không phải là tài sản

- Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà chỉ chứa đựng thông tin về quyền, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản

- Quyết định số 06 ghi nhận:“[2] Xét thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo Điều

105 BLDS 2015 quy định về tài sản như sau: “1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá

và quyền tài sản 2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản, Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”; Điều 105 BLDS 2015: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản

9

Trang 11

khác.” (…) Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa

đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá.”

- Bản án số 39 ghi nhận: “Hội đồng xét xử thấy rằng Bộ luật tố tụng dân sự không

quy định rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp này Tuy nhiên về nguyên tắc Toá án không được từ chối giai quyết vụ án dân sựu vì lý do chưa có điều luật để áp dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, cho thấy nội dung này hàm chứa một số quyền về tài sản gắn liền với đất nên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luạt dân sự…”

4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài).

Hướng giải quyết trong quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản được quy định

ở khoản 1 Điều 105 BLDS năm 2015 là chưa thỏa đáng Do: Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất tồn tại dưới một hình thức vật chất nhất định, có hình dạng cụ thể(một tờ giấy), nằm trong khả năng chiếm hữu của con người (có thể thực hiện việcnắm giữ, chiếm giữ, quản lý đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), có giá trị

sử dụng (dùng để minh chứng quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất).Việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể tham gia giao dịch trao đổi muabán không làm mất đi bản chất tài sản của nó Thực tế, có những loại tài sản mà Nhànước cấm lưu thông, chẳng hạn vuc khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật

Việc coi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không là tài sản dẫn tới nhiều hệ quảkhông giải thích được về mặt lý luận và thực tế và còn làm ảnh hưởng trực tiếp đếnquyền lợi của người sử dụng đất Cụ thể,theo quy định hiện hành của pháp luật ViệtNam, quyền sở hữu và từng nội dung riêng lẻ của quyền sở hữu là quyền chiếmhữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt chỉ có thể thực hiện trên các đối tượng là tàisản Vì vậy, việc coi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không là tài sản đã tước

bỏ quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp của người sử dụng đất đối với loại giấy tờnày

5 Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao?

Ngày đăng: 24/03/2022, 20:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w