Đánh giá vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam thông qua mô hình hiệu chỉnh sai sốĐánh giá vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam thông qua mô hình hiệu chỉnh sai sốĐánh giá vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam thông qua mô hình hiệu chỉnh sai sốĐánh giá vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam thông qua mô hình hiệu chỉnh sai sốĐánh giá vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam thông qua mô hình hiệu chỉnh sai sốĐánh giá vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam thông qua mô hình hiệu chỉnh sai số
Trang 1KINH TẾ VIỆT NAM THÔNG QUA
MÔ HÌNH HIỆU CHỈNH SAI SỐ
Ngành: Kinh tế quốc tế
Mã ngành: 9310106
LÊ HẰNG MỸ HẠNH
2022
Trang 2ii
Luận án được hoàn thành tại: Trường Đại học Ngoại thương
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Nguyễn Xuân Minh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp
trường họp tại Trường Đại học Ngoại thương
Vào hồi giờ ngày tháng năm 20
Có thể tham khảo luận án tại Thư viện Quốc gia và thư viện Trường
Đại học Ngoại thương
Trang 3iii
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Lê Hằng Mỹ Hạnh, Trần Mai Phương, 2020, Xây dựng mô hình Véc tơ hiệu chỉnh sai số để đánh giá tác động của xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế, Tạp chí Kinh tế - Châu Á Thái Bình Dương ISSN 0868-3808 Số tháng 12/2020 (đồng tác giả)
2 Lê Hằng Mỹ Hạnh, 2021, Thực trạng xuất khẩu thủy sản và định hướng phát triển ngành thủy sản Việt Nam, Tạp chí Kinh tế - Châu Á Thái Bình Dương ISSN 0868-3808 Số 591 tháng 6/2021
3 Phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu thủy sản và tăng trưởng kinh tế ngành Thủy sản của Việt Nam, 2021, Tạp chí Công thương, ISSN 0866-7756, số 15 tháng 6/2021
4 Lê Hằng Mỹ Hạnh, 2021, Đánh giá tác động của xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế, Tạp chí tài chính ISSN 2615-8973, kỳ 2 tháng 7/2021
Trang 41
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn 30 năm đổi mới kinh tế ở nước ta, xuất khẩu luôn được Đảng và nhà nước đánh giá là lĩnh vực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước Xuất khẩu
đã đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn quốc gia thông qua nhiều vai trò Thứ nhất, xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành khác có cơ hội phát triển Thứ hai, xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định Và cuối cùng là xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước
Nhìn chung, mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh cho đến nay vẫn đang là chủ đề mang tính thời sự, được các nhà nghiên cứu quan tâm Mặc dù hầu hết các nghiên cứu ủng hộ quan điểm xuất khẩu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng không ít nghiên cứu hoài nghi về tác động của xuất khẩu tới tăng trưởng kinh tế Nhiều mô hình như ECM, VECM hay ADRL, FMOLS được các nhà nghiên cứu sử dụng trong đánh giá các tác động của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế (Goh, Sam và McNown, 2017; Sothan, 2016; Pradhan, K C.,2016; Jaunky, V C., 2011; Lim và Ho, 2013; Shahbaz và Rahman, 2014; Dritsaki, 2014; Majid và Elahe, 2016; Tsitourasa và Nikas, 2016, Majid và Elahe 2016; Tsitourasa và Nikas, 2016) Nhiều nghiên cứu còn phân tích tác động của xuất khẩu một ngành hàng cụ thể đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia Kết quả các mô hình hầu hết nhận định có nhân quả tích cực giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế cho dù sử dụng dữ liệu đa quốc gia hay sử dụng dữu liệu của một quốc gia đơn lẻ, hay sử dụng dữ liệu của một ngành tác động đến tăng trưởng kinh tế
Đối với Việt Nam, xuất khẩu thủy sản là một trong 10 ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất, đóng góp nhiều vào GDP quốc gia Sự kiện Việt Nam chính thức là thành viên của WTO đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ra thế giới Để có giải pháp cho Việt Nam phát triển xuất khẩu
thủy sản bền vững, chủ đề “Đánh giá vai trò của xuất khẩu thủy sản đến tăng
trưởng kinh tế Việt Nam thông qua mô hình hiệu chỉnh sai số” được nghiên cứu
sinh lựa chọn làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ của mình Qua luận án này, nghiên
Trang 52 cứu sinh mong muốn hệ thống lại các mô hình nghiên cứu về vấn đề, đồng thời đề xuất ứng dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (VECM) và mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất hiệu chỉnh hoàn toàn (FMOLS) trong đánh giá sự tác động của xuất khẩu thủy sản đối với tăng trưởng kinh tế, làm rõ vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với tăng trưởng kinh tế ngành cũng như đóng góp cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam Từ
đó đưa ra các giải pháp để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản, nhằm khẳng định vai trò của xuất khẩu thủy sản trong tăng trưởng kinh tế ngành thủy sản nói riêng, và đối với tăng trưởng kinh tế quốc gia nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu chung: Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý thuyết nhằm xác định các kênh truyền dẫn trong mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, đồng thời nghiên cứu cũng tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện trên thế giới để lựa chọn mô hình nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Từ đó, đề tài áp dụng mô hình FMOLS và mô hình VECM để đánh giá tác động của xuất khẩu thủy sản và tăng trưởng kinh tế Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp đối để tăng cường hoạt động xuất khẩu thủy sản nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt mục đích nghiên cứu đặt ra và trên cơ sở phân tích tình hình nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến nội dung và hướng tiếp cận của đề tài luận án, tác giả luận án xác định một số câu hỏi nghiên cứu cơ bản làm nền tảng cho việc nghiên cứu nội dung của luận án Những câu hỏi đó là:
Trang 64 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là xuất khẩu thủy sản và vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với đối với tăng trưởng ngành thủy sản và đối với GDP Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: đề tài thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa xuất
khẩu thủy sản và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu dữ liệu xuất khẩu thủy sản, tăng trưởng kinh
tế và các biến số kinh tế vĩ mô giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2019
Năm 2000 là năm kinh tế Việt Nam có nhiều cột mốc đáng chú ý Tháng
7-2000, Việt Nam và Hoa Kỳ ký Hiệp định thương mại song phương, chính thức mở
ra một bước tiến mới trong hoạt động thương mại giữa hai nước Tạo tiền đề cho việc đàm phán và kí kết các hiệp định tự do thương mại với các nước khác và là một
cú hích lớn đối với hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
Kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt 14,3 tỷ USD và đạt bình quân xuất khẩu đầu người 184 USD/năm, vượt mức của một nước nghèo Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu là 24,1%, cao gấp 3,6 lần tốc độ tăng GDP Cũng trong năm 2000, xuất khẩu thủy sản lần đầu tiên đạt mức tăng 23%, vượt mốc 1,4 tỷ USD, là một trong những ngành có tăng trưởng đáng chú ý
Phạm vi nội dung: Trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu các
nội dung sau:
- Rà soát thực trạng về hoạt động xuất khẩu xuất khẩu, tuy nhiên tác không bàn tới các chính sách
Trang 74
- Xem xét mối quan hệ giữa xuất khẩu thủy sản cùng với kênh truyền dẫn tỷ giá hối đoái đa phương, đầu tư trực tiếp nước ngoài, lao động và độ mở thương mại Các biến kiểm soát khác không được xem xét trong nghiên cứu này
- Luận án tập trung đánh giá sự đóng góp của xuất khẩu thủy sản đối với tăng trưởng của ngành và của kinh tế quốc gia
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp và quy trình nghiên cứu nghiên cứu
Luận án sử dụng cả phương pháp định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng, trong đó:
- Đầu tiên, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính: Sử dụng
cách tiếp cận quy nạp để từ đó đưa ra những đánh giá từ kết quả thu thập dữ liệu Tức là thu thập, kế thừa các dữ liệu, các nghiên cứu trước về lĩnh vực phát triển thủy sản và tăng trưởng kinh tế, các báo cáo liên quan đến ngành thủy sản (tổng kết ngành thủy sản, tổng kết xuất khẩu thủy sản, đề án phát triển thủy sản của Bộ Nông nghiệp
và phát triển Nông thôn (NN&PTNT), Tổng cục Thủy sản, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Bộ Công thương; các báo cáo, số liệu kết xuất, nhập khẩu của Tổng cục Hải Quan, tổng cục Thống Kê) Và từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá về thực trạng xuất khẩu thủy sản
- Tiếp theo Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng gồm:
Phương pháp phân tích thống kê, mô tả: Sử dụng phần mềm Excel và Stata để
tính toán và mô tả các chỉ tiêu về quy mô, cơ cấu, tốc độ tăng trưởng của các lĩnh vực trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề Tính toán các giá trị trung bình, cơ cấu và tốc độ tăng trưởng của các yếu tố GDP, kim ngạch xuất khẩu thủy sản (FEX), lao động đang làm việc trong nền kinh tế (LAB), tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER), độ
mở thương mại (OPEN), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nghiên cứu thực nghiệm: Thường gắn liền với tiếp cận diễn dịch tức là thiết lập giả thuyết và thiết kế nghiên cứu để kiểm định các giả thuyết liên quan Với việc sử dụng các số liệu kinh tế vĩ mô theo thời gian, tác giả đã kế thừa các nghiên cứu tiền nghiệm và sử dụng mô hình vec tơ hiệu chỉnh sai số để kiểm định các giả
Trang 85 thuyết liên quan Trong đó, sử dụng:
+ Mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất hiệu chỉnh hoàn toàn (Fully Modified Ordinary Least Square - FMOLS): để đánh giá mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa xuất khẩu thủy sản cùng với các biến kiểm soát khác đến GDP ngành thủy sản
+ Mô hình hiệu chỉnh sai số (Vector Error Correction Model-VECM): đánh giá mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa xuất khẩu thủy sản cùng với các truyền dẫn khác đến GDP ngành thủy sản, xem xét tác động của các cú sốc
Cả hai mô hình này đều phù hợp với số liệu chuỗi thời gian và xem xét đến biến nội sinh trong các mối quan hệ kinh tế
5.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
- Luận án tham khảo số liệu từ các nghiên cứu, báo cáo tổng kết ngành thủy sản, tổng kết xuất khẩu thủy sản, đề án phát triển thủy sản của Bộ NN&PTNT, Tổng cục Thủy sản, VASEP, Bộ Công thương Các Báo cáo, số liệu kết xuất, nhập khẩu của Tổng cục Hải Quan, Tổng cục Thống Kê Và các nghiên cứu của các Viện, trường, tổ chức và cá nhân về lĩnh vực phát triển thủy sản và tăng trưởng kinh tế
- Số liệu thứ cấp về GDP cả nước, GDP ngành thủy sản, lao động đang làm việc trong ngành thủy sản, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thu thập từ Tổng Cục Thống Kê; dữ liệu của World Bank; dữ liệu của Ngân hàng Phát triển Châu Á Thái Bình Dương
- Kim ngạch xuất, nhập khẩu chung và của thủy sản thu thập từ Tổng Cục Hải Quan
- Tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER) được thu thập từ tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Cooperation and Development)
- Các dữ liệu được thu thập nhập liệu tính toán thống kê mô tả trên phần mềm EXCEL và xử lý chạy mô hình hồi quy FMOLS, VECM trên phần mềm Stata 14.0
6 Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, lý thuyết hiệu ứng
co giãn xuất nhập khẩu, lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế, tác động của tỷ giá đến xuất nhập khẩu; độ co giãn, hiệu ứng tuyến J và mô hình VECM, FMOLS
Trang 98 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, giới thiệu cơ sở lý luận về mốiquan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh
Nam từ năm 2000 đến nay
Chương 4: Đánh giá vai trò của xuất khẩu thủy sản đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, xem xét mối quan hệ giữa xuất khẩu thủy sản và tăng trưởng
kinh tế của ngành thủy sản cũng như tăng trưởng kinh tế Việt Nam, cùng với các yếu
tố kinh tế trong kênh truyền dẫn tác động qua lại giữa xuất khẩu thủy sản và tăng trưởng kinh tế ngành thủy sản; bằng mô hình thực nghiệm,
Chương 5: Giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua hoạt động xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam, trình bày triển vọng của ngành thủy sản và đề xuất
Trang 107 một số giản pháp nhằm thúc đẩy mối quan hệ tích cực giữa xuất khẩu thủy sản và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Tăng trưởng kinh tế
1.1.1 Khái niệm
Các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế đã thừa nhận rằng, tăng trưởng không đồng nghĩa với phát triển, tuy nhiên tăng trưởng lại là điều kiện cần, điều kiện tiên quyết cho phát triển Nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và ứng dụng có hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng bởi tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các quốc gia trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của quốc gia
Vậy, tăng trưởng kinh tế được hiểu: là sự gia tăng thu nhập đạt được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) của một quốc gia (hoặc địa phương)
Sự gia tăng này được biểu hiện ở quy mô và tốc độ Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng) Quy
mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế, dưới dạng khái quát, là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời gian nhất định (thường tính cho một năm) (Đinh Phi Hổ, 2009)
Các chỉ tiêu GDP và GNP thông qua sử dụng thước đo tiền tệ có thể tổng hợp được kết quả đầu ra hết sức phong phú và đa dạng về chủng loại, mục đích sử dụng về chất lượng của nền kinh tế Nhờ đó cung cấp một công cụ hữu hiệu cho việc đánh giá
sự tăng trưởng, phát triển kinh tế của một quốc gia
1.1.3 Đo lường tăng trưởng kinh tế bằng cách tiếp cận phổ biến
Trang 118 Thứ nhất có thể đo lường bằng cách xác định mức tăng trưởng tuyệt đối: ΔY=Yt-Y0
Với Y: GDP, GNP
Yt: GDP, GNP tại thời điểm t của thời kỳ phân tích
Y0: GDP, GNP tại thời điểm gốc của kỳ thời gian phân tích
Thứ 2, có thể đo lường tăng trưởng kinh tế bằng cách xác định tốc độ tăng trưởng Đây là chỉ tiêu biểu hiện mức tăng trưởng kinh tế là tỷ lệ tăng GNP hoặc GDP của kỳ sau so với kỳ trước, được tính theo công thức:
GNP1 - GNP0
x 100(%) GNP0
hoặc
GDP1 – GDP0
x 100(%) GDP0
Trong đó, GNP0, GDP0 là tổng sản phẩm quốc dân và tổng sản phẩm quốc nội thời kỳ trước GNP1, GDP1là tổng sản phẩm quốc dân và tổng sản phẩm quốc nội thời
kỳ sau Do có sự biến động của giá cả (lạm phát) nên người ta phân định ra GNP, GDP danh nghĩa và GNP, GDP thực tế GNP và GDP danh nghĩa là GNP, GDP tính theo giá hiện hành của thời kỳ tính; còn GNP và GDP thực tế là GNP, GDP tính theo giá cố định của một năm được chọn làm gốc Vì vậy, trong thực tế có tăng trưởng kinh tế danh nghĩa (tính theo GNP, GDP danh nghĩa) và tăng trưởng kinh tế thực tế (tính theo GNP, GDP thực tế)
1.1.4 Đo lường tăng trưởng bằng cách tiếp cận hàm sản xuất
Trên cơ sở các lý thuyết tăng trưởng kinh tế, hiện nay, các nhà kinh tế học đều thừa nhận rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào các nhân tố chính là tăng trưởng vốn, lao động, tài nguyên (đất đai), tri thức, kỹ năng của người lao động và tiến bộ công nghệ (Đinh Phi Hổ, 2009) Dạng thích hợp nhất ứng dụng phân tích nguồn gốc tăng trưởng trong thực tiễn là dạng hàm sản xuất Cobb- Douglas, được thể hiện như sau:
Y = ALα Kβ
Với Y là tổng sản lượng quốc gia GDP
Trang 129 K: Quy mô vốn sản xuất
L: Quy mô lao động
A: Hệ số tăng trưởng tự định, còn gọi là hệ số cắt trục tung
Trong phân tích kinh tế hiện đại, A còn được gọi là năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) Yếu tố tổng hợp này bao gồm yếu tố công nghệ, yêu tố thể chế kinh tế và một số yếu tố khác ngoài sự đề cập của mô hình α là hệ số co dãn từng phần của GDP theo lao động, giả định vốn không đổi β là hệ số co dãn từng phần của GDP theo vốn (giả định lao động không đổi)
Phương trình trên có thể viết lại dưới dạng tuyến tính như sau:
LnY= LnA + α LnL + β LnK
1.2 Xuất khẩu và xuất khẩu thủy sản
1.2.1 Khái niệm xuất khẩu và xuất khẩu thủy sản
Theo Luật thương mại Việt Nam 2005, Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá
được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ
Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
Xuất khẩu thủy sản: được hiểu là việc bán sản phẩm thủy sản trong nước ra nước ngoài nhằm thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách, kích thích đổi mới công nghệ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm
và nâng cao mức sống cho người dân
1.2.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế
Xuất khẩu hàng hóa được xem là nhân tố cấu thành của tổng cầu, xuất khẩu ngày càng đóng vai trò tích cực cho tăng trưởng kinh tế, thể hiện ở hai khía cạnh chính, đó là đóng góp của xuất khẩu tới tốc độ tăng trưởng GDP và đóng góp về tỷ trọng xuất khẩu trong GDP Xuất khẩu tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động,
từ đó kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội, góp phần tạo ra những biến chuyển tốt để giải quyết những vấn đề còn bức xúc trong xã hội
Xuất khẩu giúp tăng tích lũy vốn vất chất, tăng thu ngoại tệ tạo nguồn vốn cho đất nước và cả cho nhập khẩu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Đồng thời cải thiện cán cân thanh toán, cán cân thương mại, tăng dự trữ ngoại
tệ cho ngân sách Nhà nước và qua đó tăng khả năng nhập khẩu nguyên liệu, máy móc
Trang 1310 thiết bị tiên tiến thay thế dần cho những thiết bị lạc hậu còn đang sử dụng, để phục
vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Ngoài ra, xuất khẩu hàng hóa còn góp phần quan trọng trong xác định năng suất các nhân tố tổng hợp, góp phần tăng trưởng kinh tế
1.3 Các lý thuyết về tác động của xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế
1.3.1 Lý thuyết cổ điển
Đại diện tiêu biểu nhất của lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế phải kể đến là lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo Các lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của chuyên môn hóa sản xuất, lợi thế so sánh và hiệu quả sản xuất trong hoạt động thương mại quốc tế Adam Smith là nhà kinh tế học đầu tiên đưa ra những lập luận và cơ sở giải thích cho sự ra đời của trao đổi và thương mại quốc tế Lý thuyết lợi thế tuyệt đối được Adam Smith khởi xướng trong tác phẩm nổi tiếng “Của cải của các dân tộc
(The Wealth of Nations)” được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1776
1.3.2 Lý thuyết trọng cầu
Lý thuyết kinh tế của Keynes được coi là lý thuyết trọng cầu vì ông đánh giá cao vai trò của tiêu dùng và trao đổi, coi tiêu dùng và trao đổi là nhiệm vụ số một mà nhà kinh tế học phải giải quyết Theo ông, nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp và trì trệ trong nền kinh tế là do cầu tiêu dùng giảm, do đó cầu có hiệu quả giảm (tiêu dùng tăng chậm hơn mức tăng thu nhập do khuynh hướng tiết kiệm, ưa chuộng tiền mặt,… vì thế cầu tiêu dùng giảm và do đó cầu có hiệu quả giảm) Do đó, cần nâng cầu tiêu dùng, kích thích cầu có hiệu quả Tăng cường xuất khẩu cũng có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ phía cầu theo một số kênh dẫn khác Chẳng hạn, Awokuse (2003) khẳng định, mở rộng xuất khẩu có thể là một nhân tố kích thích tăng trưởng sản lượng một cách trực tiếp với vai trò là một bộ phận cấu thành của tổng cầu, cũng như gián tiếp thông qua phân bổ nguồn lực hiệu quả, khai thác hiệu quả kinh tế theo quy mô và kích thích cải tiến kỹ thuật do sự cạnh tranh trên thị trường nước ngoài
1.3.3 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh
Ở giai đoạn sau của lý thuyết tân cổ điển, những đại diện cho lí thuyết tăng trưởng mới như Romer và Lucas đã nhấn mạnh vào nghiên cứu và phát triển, phổ
Trang 1411 biến tri thức và ngoại ứng tích cực từ vốn nhân lực Ngoài ra, họ cho rằng tỉ lệ tăng trưởng trong dài hạn được xác định bên trong mô hình, vì vậy các mô hình này còn được gọi là mô hình tăng trưởng nội sinh Hàm sản xuất của mô hình tăng trưởng nội sinh bao gồm ba yếu tố: tư bản, lao động là hai yếu tố vật chất và yếu tố thứ ba
là vốn nhân lực hay còn gọi là yếu tố phi vật chất bao gồm kiến thức, kỹ năng của người lao động tạo nên hiệu quả lao động hay năng suất nhân tố tổng hợp (Trần Thọ Đạt, 2010)
1.3.5 Lý thuyết tác động của tỷ giá đến xuất nhập khẩu
Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất nhập khẩu Một tỷ giá hối đoái chính thức được điều chỉnh theo quá trình lạm phát có liên quan gọi là tỷ giá hối đoái được điều chỉnh theo quá trình lạm phát có liên quan hay là tỷ giá hối đoái được điều chỉnh theo quá trình lạm phát có liên quan hay là tỷ giá hối đoái thực tế Tỷ giá hối đoái tăng hay giảm sẽ làm thay đổi giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu, ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
1.3.6 Lý thuyết về độ co giãn, hiệu ứng tuyến J
Đường cong J là một đường mô tả hiện tượng cán cân vãng lai bị xấu đi trong ngắn hạn và chỉ cải thiện trong dài hạn Đường biểu diễn hiện tượng này giống hình chữ J Theo kết quả nghiên cứu của Krugman (1991), người đã tìm ra hiệu ứng đường cong J khi phân tích cuộc phá giá đô la Mỹ trong thời gian 1985 –1987, thì ban đầu cán cân vãng lai xấu đi, sau đó khoảng hai năm cán cân vãng lai đã được cải thiện Đường cong J là một đường mô tả hiện tượng tài khoản vãng lai của một quốc gia sụt giảm ngay sau khi quốc gia này phá giá tiền tệ của mình và phải một thời gian sau tài khoản vãng lai mới bắt đầu được cải thiện Quá trình này nếu biểu diễn bằng đồ thị
sẽ cho một hình giống chữ cái J
Từ phân tích cơ sở lý thuyết đã cho thấy xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ hai chiều tác động qua lại lẫn nhau Quá trình này thiết lập một vòng xoắn tiến về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Mô hình vòng xoắn tiến (The Virtuous Circle Model) về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế biểu thị mối quan hệ vòng tròn mở theo hướng tích cực giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế (hình 1.3)