Báo cáo thực hành môn sản xuất thức ăn khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm tp Hồ Chí Minh, tài liệu làm bài báo cáo thực hành môn sản xuất thức ăn, công thức tính, làm bài môn sản xuất thức ăn.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍMINH
KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
οοοΟοοο
Bài Thu Hoạch Thực Hành
Môn học: Sản Xuất Thức Ăn Chăn Nuôi
PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG
TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI
GDHD: Nguyễn Quang Thiệu
1
1
Trang 2DANH SÁCH NHÓM
Mẫu nguyễn liệu: T5-11.
2
2
STT Họ và tên Lớp MSSV % Làm việc
Trang 3PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VẬT CHẤT KHÔ TUYỆT ĐỐI CỦA MẪU I/ Nguyên tắc
Các mẫu thức ăn có hàm lượng chất khô lớn hơn 86% có thể xác định ngay VCK tuyệt đối, nhưng đối với mẫy quá nhiều nước thì cần phải xác định VCK không khí trước rồi sau đó mới xác định VCK tuyệt đối
Mẫu được sấy khô ở 100 – 105oC, lượng nước sẽ mất hết, phần còn lại là chất khô hoàn toàn của mẫu
II/ Dụng cụ
• Cân phân tích có độ chính xác 0,0001g
• Chén nhôm
• Bình hút ẩm
• Tủ sấy
III/ Tiến hành
Chén nhôm được sấy ở 105oC từ 30 phút Lấy ra, để nguội trong bình hút ẩm Dùng cân phân tích, cẩn thận dùng thìa nhỏ múc mẫu vào chén nhôm Trong lúc cân phải tắt quạt, tránh rơi rớt mẫu để hạn chế sai số
Cân vào chén 2g mẫu, đặt vào tủ sấy ở 105oC qua đêm để sấy lần 1 Ngày hôm sau, lấy chén sau sấy lần 1 ra để nguội trong bình hút ẩm, đem cân Sấy mẫu lần 2 trong
tủ sấy 105oC trong 4 giờ rồi lấy ra để nguội trong bình hút ẩm rồi đem cân So sánh trọng lượng mẫu sấy lần 1 và 2: mẫu 1 (chén 31) có sự khác biệt, mẫu 2 (chén 8) trọng lượng không đổi thì ngừng thao tác và tính kết quả, tiếp tục sấy mẫu 1 thêm 4 tiếng đến khi trọng lượng mẫu không đổi
IV/ Tính kết quả:
% VCK tuyệt đối =
% ẩm độ tuyệt đối = 100 - % VCK tuyệt đối
V/ Bảng kết quả:
Ký hiệu
mẫu
Trọng lượng cốc (Nhôm) (g)
Trọng lượng mẫu (g)
Trọng lượng sau sấy 1 (g)
Trọng lượng sau sấy 2 (g)
Trọng lượng sau sấy 3 (g)
% Vật chất khô
T5-11
T5-11
% Vật chất khô trung bình = = 88,4 %
3
3
Trang 4SD = = 0.14
CV%= x 100 = x 100= 0.16 < 5% kết quả đúng.
% Ẩm độ tuyệt đối = 100 – 88,16 = 11,6 %
4
4
Trang 5PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH PROTEIN TỔNG SỐ Phương pháp Kjeldahl
I/ Nguyên tắc
Khi cho mẫu thức ăn tác dụng với dung dịch acid sulfuric(H2SO4) đậm đặc và đun nóng Nitơ trong protein sẽ bị vô cơ hóa thành (NH4)2SO4 Sau khi để nguội và hòa loãng với nước, mẫu được kiềm hóa với NaOH NH3 bị đẩy ra khỏi dung dịch và được giữ lại trong acid boric (H3BO3)
Đem định phân bằng acid HCL 0.1N, căn cứ lượng acid đã tiêu hao để trung hòa NH3 ta sẽ tính được lương NH3, từ đó tính Nito tổng số và suy ra lượng protein tổng số
Nito tổng số x 6.25= protein tổng số
II/ Dụng cụ và hóa chất
1. Bình Kjeldahl
2. Bình tam giác
3. Bộ đốt, chưng cất đạm
4. Bình định mức
5. Ống nhỏ giọt
6. Ống đông
7. Cân phân tích có độ
chính xác 0.0001g
8. Phễu thủy tinh
9. Chất chỉ thị màu (0.1% methyl red và 0.1% bromocresol green trong cồn)
10. Acid HCL chuẩn 0.1N
11. Acid sulfuric đậm đặc
12. Hổn hợp chất xúc tác: sulfat đồng/ sulfat kali theo tỉ lệ 5/9 hay 3/7
13. Sodium hydroxyd 40%
14. Acid Boric (H3BO3) 4%
5
5
Trang 6III/ Tiến hành
Có 3 giai đoạn
Giai đoạn vô cơ hóa
Cân gần chuẩn 1g mẫu trên 1 tờ giấy lọc, gói cẩn thận, cho vào bình kjeldahl 800
ml, cho tiếp vào khoảng 12g chất xúc tác và 30ml H2SO4 đậm đặc (dùng bao tay trong quá trình đong để đảm bảo an toàn)
Trong khi tiến hành nhóm gặp sự cố cúp nước, nên phải qua ngày hôm sau mới có thể đốt Đặt bình lên bếp đốt khoảng 90 phút cho đến khi dung dịch trong bình có màu xanh lục trong hoàn toàn
Giai đoạn chưng cất
Chuẩn bị 50 ml acid boric trong bình tam giác 300 ml Đặt bình tam giác có chứa acid boric sao cho lượng acid trên phải ngập đầu ống nhựa của hệ thống làm lạnh dẫn
ra Cho thêm vào bình kjeldahl có chứa sẵn mẫu đã đốt 300ml nước cất và 200ml NaOH 35% Đặt bình kjeldahl lên hệ thống chưng cất, lúc đặt cần cẩn thận, mạnh tay
có thể làm bể ống hoặc bình (khó thay thế), mở điện và nước Màu hồng của acid boric trong bình tam giác hứng phía dưới dần dần sẽ chuyển sang màu xanh lá cây và đạt được 300ml là được
Giai đoạn định phân
Dùng burette có chứa acid HCL 0.1N định phân đến khi dung dịch chuyển sang màu hồng như màu ban đầu của acid boric là dừng lại Ghi lại thể tích HCl 0.1N để tính kết quả
IV/ Tính kết quả:
- Nito tổng số = 0.001458 x a x
0.001458 là số g Nitơ tương ứng với 1ml HCL 0.1N
a: là số ml HCL 0.1N thực sự dùng để tác dụng với NH3 của mẫu (sau khi đã trừ lượng HCL của mẫu trắng)
P: trọng lượng mẫu tính bằng gam
-Protein tổng số = Nito tổng số x 6,25
- % protein thô trên chất khô của mẫu = x 100
V/ Kết quả:
Ký hiệu mẫu Trọng lượng mẫu
(g) Thể tích HCl (ml) % Protein tổng số
Trang 7% Protein tổng số trung bình = = 27.21 %
SD = = 0.21
CV%= x 100 = x 100= 0.8 < 5% kết quả đúng.
% Protein thô trên chất khô của mẫu = x 100 = 30.78 %
Trang 8PHÂN TÍCH CHẤT BÉO THÔ Phương pháp Soxhlet
I/ Nguyên tắc
Chất béo là một ester của acid béo và glycerin, tính chất chung của chất béo là
có thể hòa tan trong các dung môi hữu cơ như ether, phenol, aceton vv… Khi xác định chất béo, người ta thường dùng ether làm dung môi hòa tan vì nhiệt độ sôi thấp (35oC)
Ether được làm bay hơi liên tục, và được làm lạnh rơi qua mẫu lôi cuốn theo các chất tan trong ether và trở lại cốc đựng ether ban đầu Khi tiến trình hoàn tất ether được
chưng cất và ngưng lại trong phần chứa khác, phần còn lại không bay hơi là chất béo thô
Ether cũng như các dung môi khác không những có thể hòa tan được chất mỡ
mà còn hòa tan được các chất khác như: sáp, một số sắc tố, … do đó chất béo lấy ra được gọi là chất béo thô
Có 2 phương pháp tính kết quả:
Phương pháp trực tiếp: sau khi trích béo, cân trọng lượng chất béo thô sau khi sấy khô
Phương pháp gián tiếp: sau khi trích béo căn cứ vào trọng lượng giảm của mẫu ban đầu tính ra trọng lượng chất béo
Nhóm sử dụng phương pháp tính gián tiếp
II/ Dụng cụ và hóa chất
Bộ dụng cụ chiết béo kiểu Soxhlet
Bình hút ẩm
Tủ sấy
Giấy lọc
Ether ethylique
III/ Tiến hành
Bộ trích béo kiểu Soxhlet gồm có 3 bộ phận chính: bình cầu dùng để chứa ether
ở dưới cùng, ở giữa là bộ phận để hòa tan chất béo, trên cùng là hệ thống làm lạnh
Cân khoảng chính xác 2g mẫu gói kín trong tờ giấy lọc Cho gói mẫu vào sấy ở
105oC trong khoảng 8 giờ (hoặc qua đêm) Lấy mẫu ra, để nguội trong bình hút ẩm, cân trọng lượng
Đặt gói mẫu vào bộ phận giữa của hệ thống Soxhlet, rót ether vào lưng bình cầu ở dưới cùng, lắp hệ thống ngưng lạnh vào, cho hệ thống hoạt động, bình cầu đựng ether sẽ được đun sôi cách thủy Ether bốc hơi sẽ qua đường cong lớn đi vào bộ phận
Trang 9giữa và đến bộ phận ngưng lạnh Tại đây ether gặp lạnh sẽ ngưng lại thành giọt rồi rơi xuống bộ phận giữa Khi mức ether vượt khỏi điểm cao nhất của đường cong nhỏ thì ether lại chuyển xuống bình cầu qua đường cong nhỏ theo nguyên tắc bình thông nhau Sự tuần hoàn cứ liên tục diễn ra như vậy, thời gian phân tích tùy theo hàm lượng béo trong từng loại mẫu (bước này sinh viên chỉ quan sát, thao tác do hướng dẫn viên thực hiện)
Thời gian chiết béo là 16 tiếng (hoặc lâu hơn đối với mẫu nhiều béo)
Sấy khô mẫu sau khi chiếc béo ở 105oC trong khoảng 4 giờ (hoặc qua đêm), để nguội trong bình hút ẩm, đem cân
IV/ Tính kết quả:
Phương pháp trực tiếp:
% chất béo thô = x 100
Phương pháp gián tiếp:
%chất béo thô= - x 100
• Các điều cần chú ý
Mẫu dùng phân tích phải khô và thật mịn, nếu mẫu có nước, nước sẽ hòa tan các loại đường, như vậy trong quá trình phân tích chất đường và mỡ cũng mất đi Do
đó làm tăng tỉ lệ chất mỡ trong mẫu mặt khác nước làm ảnh hưởng đến chất lượng của ether
Ether là chất rất dễ cháy nổ, vì vậy trong quá trình phân tích không được đun trực tiếp bằng lửa, không được để gần lửa hay cho mẫu vừa chiết béo vào tủ sấy ở nhiệt độ cao khi ether chưa nguội
Không nên đun ở nhiệt độ cao, tránh để lãng phí ether
Thời gian phân tích phụ thuộc vào tính chất của từng loại mẫu
V/ Kết quả: Bằng phương pháp gian tiếp
Ký hiệu mẫu Trọng lượng
mẫu (g) Trọng lượng mẫu trước
khi chiết béo (g)
Trọng lượng mẫu sau khi chiết béo (g)
% Béo thô
T5-11 (01) 2.0023 2.5535 2.5032 2.51
T5-11 (02) 2.0005 2.5542 2.5018 2.62
% Béo thô trung bình = = 2,57 %
SD = = 0.078
CV%= x 100 = x 100= 3.04 < 5% kết quả đúng.
Trang 11PHÂN TÍCH XƠ THÔ PHƯƠNG PHÁP HENNEBERG VÀ STOMAN
I/ Nguyên tắc
Mẫu thức ăn nghiền nhỏ, đem xử lí bằng dd H2SO4 loãng base loãng, acid sulfuric loãng thủy phân các chất hòa tan trong acid như carbonhydrat biến nó thành đường đơn, ngoài ra nó cũng có 1 phần protein bị hòa tan Còn base sẽ thủy phân chất béo biến nó thành xà phòng và glycerin, hòa tan toàn bộ protid Acid và kiềm có thể hòa tan được 1 phần chất khoáng, sau khi xử lý đem đốt, trọng lượng phần bã mất đi là chất xơ thô
II/ Dụng cụ và hóa chất
- Cân phân tích độ chính xác 0.0001g
- Giấy lọc
- Côc đun 600ml
- Hệ thống bếp đun
- Bơm hút chân không và phễu lọc buchner
- Bình hút ẩm
- Chén sứ-lò đốt-tủ sấy
- Dd acid sulfuric 0.255N (pha 1.25g H2SO4 đđ hay 7ml H2SO4 đđ trong 100ml nước cất hay 27ml H2SO4 trong 4000ml nước cất)
- Dd potasium hydroxyd (KOH) %
- Alcol
- Octyl alcol
III/ Tiến hành
Cân chính xác 2g mẫu gói và giấy lọc mang đi chiết béo bằng hệ thống Soxhlet
từ 6 giờ để loại bỏ bớt lượng chất béo có trong mẫu
Cân và ghi trọng lượng 1 tờ giấy lọc không tro đã sấy khô (105oC trong hơn 2h) (trọng lượng lần 1)
Đưa toàn bộ mẫu đã chiết béo trong giấy lọc cho vào cốc 600ml, cho dd acid
H2SO4 0.255N đến vạch 200ml của cốc 600ml, đặt lên bếp đun sôi hoàn lưu 30 phút
kể từ khi sau sôi Tránh để sôi quá nhiều làm cho mẫu bám nhiều lên thành cốc (sôi còn khoảng 200oC) Sau khi đủ thời gian nhấc cốc 600ml ra khỏi bếp để yên 5-10p cho phần chất rắn lắng xuống Lọc lần 1 qua giấy lọc với bơm hút chân không Ở bước này lưu ý thao tác nhét giấy lọc vào phễu, phải để giấy sát với thành phễu, không làm rách giấy)
Dùng bình xịt tia rửa mẫu nhiều lần với nước cất, sau đó cũng dùng bình xịt tia đưa toàn bộ mẫu trên giấy lọc trở lại cốc đun (lưu ý không dùng tay sờ vào mẫu, chỉ dùng bình xịt tia để rửa mẫu dính trên giấy lọc)
Thêm vào 10 ml NaOH 25% và nước cất cho vừa đủ 200ml đặt cốc lên bếp đun Đun sôi hoàn lưu 30 phút (kể từ khi bắt đầu sôi) Lọc lần 2 với tờ giấy lọc đã
Trang 12dùng ở lần 1, chuyển toàn bộ số mẫu trong cất đun lên trên giấy lọc, rửa nhiều lần với nước cất
Đem sấy khô tờ giấy lọc ở 105oC trong 4 giờ, gắp ra, để nguội trong bình hút
ẩm, cân và ghi trọng lượng lần 2 Trong khi đun mẫu, sấy khô 1 chén sứ ở 105C, để nguội trong bình hút ẩm, cân trọng lượng xếp tờ giấy lọc ở phần trên cho vào chén sứ đặt chén sứ vào lò đốt ở 6000C trong 2 giờ Để nguội trong bình hút ẩm, đem cân
IV/ Tính kết quả
TL chất xơ còn khoáng=TL giấy lọc sau khi lọc – TL giấy lọc trước khi lọc
TL chất khoáng = TL chén sứ sau khi đốt - TL chén sứ không
TL chất xơ = TL chất xơ còn khoáng – TL chất khoáng
% chất xơ = x 100
% chất xơ trên chất khô = X 100
V/ Kết quả:
Ký hiệu
mẫu
Trọng lượng giấy (g)
Trọng lượng mẫu (g)
Trọng lượng mẫu sau sấy (g)
Trọng lượng cốc (g)
Trọng lượng mẫu sau đốt (g)
% Xơ thô
T5-11
T5-11
(02)
% Xơ thô trung bình = = 2.96 %
SD = = 0.06
CV%= x 100 = x 100= 2.03 < 5% kết quả đúng.
Trang 13PHÂN TÍCH KHOÁNG TOÀN PHẦN I/ Nguyên tắc
Mẫu thức ăn sau khi đốt ở nhiệt độ cao, chất hữu cơ bị phân hủy hết, chất vô cơ còn lại gọi là khoáng toàn phần hay còn gọi là chất tro
II/ Dụng cụ
Cân phân tích có độ chính xác 0,0001 g
Lò đốt 500oC
Chén sứ
Kẹp gắp
Bình hút ẩm
III/ Tiến hành
Dùng một chén sứ sạch và khô (đã sấy khoảng 1h) để nguội trong bình hút ẩm, cân trọng lượng Cân 3g thức ăn cho vào chén sứ
Đặt chén sứ vào lò nung tiến hành nung ở 600oC trong 4 giờ Sau khi nung lượng mẫu trong chén biến thành tro xốp màu trắng xám gắp ra để nguội trong bình hút ẩm và cân trọng lượng
* Chú ý: để tránh làm vở chén nung thì không nên đặt chén nguội vào tủ đang đốt nóng
Trong khi nung nếu có thấy các hạt acid silic (HSiO3) bám vào chén và mẫu làm mẫu không cháy được hoàn toàn thì phải ngừng đốt, để nguội, nhỏ vào đó vài giọt nước cất để hòa tan hết các acid silic rồi tíếp tục nung cho đến khi cháy hết hoàn toàn
IV/ Tính toán kết quả
% khoáng tổng số
% Khoáng tổng số trên chất khô
V/ Kết quả:
Ký hiệu mẫu Trọng lượng
cốc (g) Trọng lượng mẫu (g) Trọng lượng sau đốt (g) % Khoáng tổng số T5-11 (48) 23.1112 3,0012
T5-11 (117) 22.4986 3,0003
% Khoáng tổng số trung bình =
NFE = VCK – KHOÁNG - PROTEIN THÔ – BÉO – XƠ
Trang 14=