Thực tế cho thấy, không thiếu một số doanh nghiệp sản xuất sản phẩm rất tốt nhưng vẫn không tiêu thụ được bởi vì không biết cách phân phối và tiêu thụ, không đáp ứng được nhu cầu thị trư
Trang 1MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM .9
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1 1 Các khái niêm cơ bản về thị trường 9
1 1 1 Khái niệm về thị trường 9
1 1 2 Chức năng của thị trường 11
1 1 2 1 Chức năng thực hiện: 13
1 1 2 2 Chức năng thừa nhận: 13
1 1 2 3 Chức năng điều tiết, kích thích: 13 1 1 2 4 Chức năng thông tin: 14 1 1 3 Phân loại thị trường 15 1 1 3 1 Căn cứ vào quan hệ mua bán giữa các quốc gia, thị trường chia 15 thành thị trường quốc nội và thị trường quốc tế: 15
1 1 3 2 Căn cứ vào vai trò và vị thế của người mua và người bán trên thị 16 trường, thị trường chia thành thị trường người bán và thị trường người mua: 16 1 1 3 3 Căn cứ vào mối quan hệ cung cầu và khả năng biến nhu cầu 16 thành hiện thực, thị trường chia thành thị trường thực tế, thị trường tiềm năng và thị trường lý thuyết: 16
1 1 3 4 Căn cứ vào hình thái vật chất của đối tượng trao đổi, thị trường 17 thành thị trường hàng hoá và thị trường dịch vụ: 17
1 1 3 5 Căn cứ vào vai trò và số lượng người mua và người bán trên thị 17 trường, thị trường chia thành thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và thị trường độc quyền: 17
1 2 Các quan niệm cơ bản về tiêu thụ 18
1 2 1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm 18
1 2 2 Các nội dung chủ yếu của công tác tiêu thụ sản phẩm: 19
a Nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm: 20
b Chiến lược sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm: 20
Trang 2c Hoạch định chương trình tiêu thụ sản phẩm: 20
1 2 3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả tiêu thụ sản phẩm 21
1 2 3 1 Khối lượng tiêu thụ 21
1 2 3 2 Doanh thu tiêu thụ và mức tăng doanh thu 22
1 2 3 3 Lợi nhuận tiêu thụ 22
1 2 4 Thị phần của doanh nghiệp 23
1 2 5 Một số chỉ tiêu khác 23
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 24
Biểu đồ 1: Thị phần một số nhà sản xuất bia Việt Nam .Error! Bookmark not defined. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM FESTIVAL BEER TRÊN ĐỊA BÀNG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 30
2 1 Tổng quan về công ty Bia Huế 30
2 1 1 Lịch sử hình thành và phát triển 30
2 1 2 Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất của công ty 31
a Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của công ty Bia Huế 31
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức của công ty Bia Huế 32
b Đặc điểm và chủng loại sản phẩm của công ty TNHH Huế Bia 33
Bảng 1: Đặc điểm sản phẩm của công ty bia Huế 33
c, Đặc điểm, quy trình công nghệ và tổ chức dây chuyền sản xuất 34
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất bia của công ty TNHH Bia Huế 34
2 1 3 Tình hình nguồn lực của công ty Bia Huế 35
a Tình hình lao động 35
Bảng 2 Tình hình lao động của Công Ty Bia Huế qua ba năm 2007-2009 35
b Tình hình vốn kinh doanh của công ty qua 3 năm 2007-2009 37
Bảng 3 Tình hình vốn của công ty TNHH Bia Huế qua 3 năm 2007-2009 39
2 1 4 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua 3 năm 2004 đến 2006 .41 Bảng 4: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua 3 năm 42
Đơn vị: Triệu đồng 42
Trang 32 2 Phân tích thực trạng tiêu thụ sản phẩm bia Festival trên địa bàn tỉnh TT Huế
44
2 2 1 Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm Festival qua 3 năm 2007-2009 44
2 2 1 1 Phân tích khách hàng mục tiêu 44
Bảng 5 Phân khúc thị trường bia Việt Nam năm 2009 45
Bảng 6 Giá bán của Festival bia 45
2 2 1 2 Phân tích tình hình tiêu thụ qua 3 năm 2007 – 2009 của sản phẩm bia Festival .46
Bảng 7: Tình hình tiêu thụ Festival bia theo sản lượng bán 2007-2009 46
Bảng 8: Giá bán sản phẩm Bia Festival theo giá công ty tính theo két 47
Bảng 9: Sản lượng tiêu thụ theo tháng của Festival bia 48
Biểu đồ 2: Chỉ số sản lương theo tháng của Festival Bia 2007 – 2009 50
2 2 2 Phân tích thực trạng tổ chức phân phối 50
2 2 2 1 Mạng lưới phân phối 50
2 2 2 2 Các kênh phân phối chủ yếu 51
Sơ đồ 3: Kênh phân phối của Công ty bia Huế 52
2 2 2 3 Các chính sách trong phân phối sản phẩm 52
a Tiêu chuẩn lựa chọn đại lý 52
b Về phương thức thanh toán 53
c Về mức chiết khấu 53
Bảng 10: Mức chiết khấu của Công ty dành cho các đại lý cấp 1 53
d Về hỗ trợ vận chuyển 54
e Các hoạt động hỗ trợ bán hàng 54
- Hỗ trợ quảng cáo 54
- Các hoạt động khuyến mãi 55
- Các hoạt động tài trợ 55
- Xây dựng đội ngũ tiếp thị 55
2 2 3 Phân tích hoạt động xúc tiến bán hàng của công ty 56
Bảng 11 Chi phí marketing cảu công ty TNHH Bia Huế 2007-2009 56
Đơn vị: triệu đồng 56
Trang 42 2 4 Đánh giá hiệu quả tiêu thụ của sản phẩm Festival 58
Bảng 12 Tỷ suất lơi nhuận qua 3 năm 58
2 3 Phân tích thị trường từ cảm nhận của khách hàng về sản phẩm bia Festival của công ty TNHH Huế bia .59
2 3 1 Xác định khách hàng mục tiêu 59
Biểu đồ 3: Tỷ lệ về giới tính 60
Biểu đồ 4: Tỷ lệ về độ tuổi 60
2 3 2 Xác định loại sản phẩm khách hàng sử dụng 61
2 2 3 Một số cảm nhận của khách hàng về sản phẩm Bia Festival 63
One-Sample Statistics 63
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM BIA FESTIVAL CỦA CÔNG TY TNHH BIA HUẾ 65
3 1 Cơ sở đề xuất giải pháp 65
3 1 1 Đánh giá chung từ thực trạng 65
3 1 2 Phân tích SWOT 66
1 Điểm mạnh .66
2 Chiếm đa phần thị trường bia cao cấp ở Huế 66
2 Điểm yếu 66
3 Cơ hội 66
1 Thị trường bia đang vào độ tăng trưởng cao .66
4 Thách thức 67
3 1 3 Định hướng của công ty 69
3 2 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường đối với sản phẩm bia Festival 69 3 2 1 Tăng cường các hoạt động nghiên cứu thị trường 69
3 2 2 Hoàn thiện chính sách Marketing – Mix 71
Chính sách sản phẩm 71
Chính sách giá cả 72
Chính sách phân phối 72
Chính sách xúc tiến 73
Trang 53 2 3 Phát triển mạng lưới bán hàng và hệ thông phân phối, lựa chon phương thức
bán hàng hợp lý .73
3 2 4 Tổ chức đào tạo, huấn luyện nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các đội ngũ nhân viên bán hàng, đội ngũ các nhà quản trị, kích thích vật chất trong lao động bán hàng .74 PHẦN BA 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
1 Kết luận 77
2 Kiến nghị 77
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang phát triển mạnh mẽ, cơ chế thị trường ngày càng rộng khắp, bản thân mỗi doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh tế độc lập phải biết nắm bắt thời cơ, tận dụng mọi cơ hội và phát huy năng lực hiện có để đưa ra các sách lược, chiến lược kinh doanh đối phó với thị trường, tăng khả năng cạnh tranh
Trong kinh doanh, lợi nhuận không phải là để chia đều cho tất cả những ai muốn có Sự cạnh tranh nghiệt ngã của thị trường, đặc biệt sau khi Việt Nam phát triển nên kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề về đẩy mạnh,
mở rộng thị trường tiêu thụ trở nên quan trọng Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp Việc hình thành một sản phẩm hoàn thiện đã khó, đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng lại càng khó hơn, nó phụ thuộc rất nhiều vào khâu tiêu thụ Thực tế cho thấy, không thiếu một
số doanh nghiệp sản xuất sản phẩm rất tốt nhưng vẫn không tiêu thụ được bởi vì không biết cách phân phối và tiêu thụ, không đáp ứng được nhu cầu thị trường tiêu dùng của
xã hội Hơn nữa hiện nay khi nền kinh tế sản xuất hàng hóa đang bước sang giai đoạn phát triển vượt bậc cùng với khoa học công nghệ kỹ thuật hiện đại thì vấn đề tiêu thụ sản phẩm lại càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ doanh nghiệp nào
Công ty TNHH Bia Huế cho ra đời sản phẩm bia Festival từ năm 2000, qua hàng năm sản lượng bán ngày càng tăng lên, nhưng đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt
Trang 6của nền kinh tế thị trường liệu sản phẩm này có đứng vững được, việc xuất hiện nhiềuđối thủ cạnh tranh trên thị trường cho thấy việc mở rộng thị trường tiêu thụ là một yêucầu cấp thiết đới với sản phẩm bia Festival của công ty Bia Huế Đó là lý do tại sao tôi
chọn “ Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ đối với sản phẩm bia Festival của công ty TNHH Huế Bia trên địa bàn tỉnh TT Huế “
- Đối tượng nghiên cứu: Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm Festivalbia qua các năm từ 2007 đến 2009, và xác định cảm nhận một cách tổng quát củakhách hàng về sản phẩm
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Số liệu thứ cấp được cung cấp từ phía công ty TNHH Huế Biathông qua các phòng ban như phòng tiếp thị, bán hàng, bộ phận nhân sự, bộphận tài chính kế toán
Phương pháp phân tích so sánh số liệu về tình hình tiêu thụ giữa cácnăm của sản phẩm Festival
- Điều tra số liệu sơ cấp: căn cứ vào nội dung nghiên cứu, tôi thựchiện phỏng vấn trên đối tượng là khách hàng cá nhân người tiêu dùng
Khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng: tiến hành điều tra 100khách hàng được chọn mẫu ngẫu nhiên trên địa bàn Tỉnh TT Huế thông qua bảnghỏi, phỏng vấn trực tiếp
Trang 7Phương pháp thu thập, xử lý số liệu thống kê
- Các phương pháp khác
Trang 8
PHẦN 2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 9CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ TIÊU THỤ
SẢN PHẨM
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 1 Các khái niêm cơ bản về thị trường
1 1 1 Khái niệm về thị trường
Theo Philip Kotler thì Thị trường (trong nghĩa đơn giản của nó) là tập hợp
những người mua hàng hiện có và sẽ có
Theo C Mác, hàng hoá là sản phẩm được sản xuất ra không phải cho người sảnxuất tiêu dùng mà người sản xuất ra để bán Thị trường xuất hiện đồng thời với sự rađời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá và được hình thành trong lĩnh vực lưuthông Người có hàng hoá hoặc dịch vụ đem ra trao đổi gọi là bên bán, người mua cónhu cầu chưa thoả mãn và có khả năng thanh toán được gọi là bên mua
Trong quá trình trao đổi giữa bên bán và bên mua đã hình thành những mốiquan hệ nhất định Đó là quan hệ giữa người bán và người mua, quan hệ giữa ngườibán với nhau và quan hệ giữa người mua với nhau
Vì vậy, theo nghĩa đen, thị trường là nơi mua bán hàng hoá, là nơi gặp gỡ đểtiến hành hoạt động mua bán bằng tiền tệ giữa người bán và người mua Tuy nhiên,không thể coi thị trường là các cửa hàng, các chợ, mặc dù những nơi đó là nơi mua bánhàng hoá
Sự hình thành thị trường đòi hỏi phải có:
- Đối tượng trao đổi: sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ
- Đối tượng tham gia trao đổi: bên bán và bên mua
- Điều kiện thực hiện trao đổi: khả năng thanh toán
Như vậy, điều quan tâm nhất của doanh nghiệp là tìm ra nơi trao đổi, tìm nhucầu và khả năng thanh toán của các sản phẩm, dịch vụ mà nhà sản xuất dự định cungứng hay không Còn đối với người tiêu dùng, họ lại quan tâm tới việc so sánh nhữngsản phẩm dịch vụ mà nhà sản xuất cung ứng thoả mãn đúng yêu cầu và thích hợp vớikhả năng thanh toán của mình đến đâu
Từ những nội dung trên thị trường được định nghĩa như sau:
Trang 10Thị trường là biểu hiện của quá trình mà trong đó thể hiện các quyết định của người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ cũng như các quyết định của các doanh nghiệp về số lượng, chất lượng, mẫu mã của hàng hoá Đó chính là mối quan hệ giữa tổng số cung và tổng số cầu của từng loại hàng hoá cụ thể
Tuy nhiên thị trường được nhiều nhà kinh tế định nghĩa khác nhau Hội quản trịHoa Kỳ cho rằng: “Thị trường là tổng hợp các lực lượng và các điều kiện, trong đóngười mua và người bán thực hiện các quyết định chuyển hàng hoá và dịch vụ từngười bán sang người mua’’ Có nhiều quan niệm lại cho rằng “ thị trường là lĩnh vựctrao đổi mà ở đó người mua và người bán cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hànghoá dịch vụ”, hoặc đơn giản hơn “thị trường là tổng hợp các số cộng của người mua vềmột sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ”
Hiểu một cách tổng quát, thị trường là nơi mà người mua và người bán tự tìmđến với nhau qua trao đổi, thăm dò, tiếp xúc để nhận lời giải đáp mà mỗi bên cần biết
Còn hiểu theo góc độ Marketing, thuật ngữ thị trường được dùng để ám chỉ mộtnhóm khách hàng có nhu cầu và mong muốn nhất định Bởi mặc dù tham gia thịtrường phải có cả người bán và người mua nhưng những người làm Marketing lại coingười bán hợp thành ngành sản xuất cung ứng, còn người mua mới hợp thành thịtrường
Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu haymong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu vàmong muốn đó
Như vậy, theo quan niệm này quy mô thị trường sẽ tuỳ thuộc số người có nhucầu và mong muốn vào lượng thu nhập, lượng tiền vốn mà họ sẵn sàng bỏ ra để muahàng hoá thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó Quy mô thị trường không phụ thuộcvào số người đã mua hàng và cũng không phụ thuộc vào số người có nhu cầu và mongmuốn khác nhau
Tuy nhiên, dù hiểu thị trường theo cách nào thì mục tiêu lựa chọn duy nhất củadoanh nghiệp vẫn là lợi nhuận các doanh nghiệp đều thông qua thị trường mà tìm cáchgiải quyết các vấn đề:
Phải phân loại hàng gì? Cho ai?
- Số lượng bao nhiêu ?
- Mẫu mã, kiểu cách, chất lượng như thế nào?
Và cũng qua đó người tiêu dùng biết được:
- Ai sẽ đáp ứng được nhu cầu của mình ?
Trang 11- Nhu cầu được thoả mãn đến mức nào ?
- Khả năng thanh toán ra sao?
Tất cả những câu trả lời trên chỉ có thể trả lời chính xác trên thị trường Sựnhận thức phiến diện về thị trường cũng như sự điều tiết thị trường theo ý muốn chủquan duy ý chí trong quản lý và chỉ đạo kinh tế đều đồng nghĩa với việc đi ngược lạicác hệ thống quy luật kinh tế vốn có trong thị trường và hậu quả sẽ làm cho nền kinh
tế khó phát triển
Vai trò của thị trường
Thị trường là yếu tố quyết định sự sống còn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích của các nhà sản xuất hàng hoá là sản xuất ra hàng hoá ra để bán, để thoả mãn nhu cầu của người khác Vì thế các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách đơn lẻ mà Doanh nghiệp chịu sự chi phối của thị trường hay nói cách khác thị trường đã tác động và có ảnh hưởng quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thị trường càng mở rộng và phát triển thì lượng hàng hoá tiêu thụ được càng nhiều và khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại Bởi thế còn thị trường thì còn sản xuất kinh doanh, mất thị trường thì sản xuất kinh doanh bị đình trệ và các doanh nghiệp sẽ có nguy cơ bị phá sản Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, có thể khẳng định rằng thị trường có vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trang 12Sáng 18-1-2013, tại Hà Nội, Tại hội nghị tổng kết hoạt động năm 2012 của Hiệp hội Bia – Rượu – NGK Việt Nam (VBA) ngày 18/1/1013 tại Hà nội đã nhận định:
Năm 2012, mặc dù ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế nhưng ngành Bia – Rượu – NGK Việt Nam vẫn duy trì và phát triển thị trường Bia - Rượu - NGK và đạt được kết quả đáng tự hào với mức tăng trưởng đạt 9, 7% Tuy mức tăng trưởng năm 2012 không bằng năm 2011 (16, 4%), nhưng vẫn cao hơn mức tăng trưởng bình quân của sản xuất công nghiệp (4, 8%) và chỉ số ngành công nghiệp chế biến là 4, 5% Sản lượng sản xuất và tiêu thụ bia toàn Ngành năm
2012 đạt 2 832, 359 triệu lít, tăng 8, 02% so với cùng kỳ năm ngoái (năm 2011
là 2 620, 7 triệu lít) Trong đó, HABECO đạt 612, 519 triệu lít, tăng 8, 5% so với cùng kỳ năm 2011, SABECO đạt 1 263 triệu lít, tăng 8% so với cùng kỳ năm ngoái Mức tăng trưởng của ngành Rượu là 0, 15%, ngành Nước giải khát
là trên 9% Ngành Bia – Rượu – NGK Việt Nam đã cung cấp đủ hàng phục vụ cho thị trường, nộp ngân sách gần 1 triệu USD, giải quyết việc làm cho khoảng 5-6 triệu lao động trên cả nước…
Thị trường điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá:
Thị trường đóng vải trò hướng dẫn sản xuất kinh mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải gắn với thị trường Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra không ngừng theo chu kỳ mua nguyên vật liệu, vật tư, thiết bị… trên thị trường đầu vào, tiến hành sản xuất ra sản phẩm, sau đó bán chúng trên thị trường đầu ra doanh trong nền kinh tế thị trường Các nhà sản xuất kinh doanh căn cứ vào cung cầu, giá cả thị trường để quyết định sản xuất kinh doanh cái gì? Như thế nào ? và cho ai? Sản xuất kinh doanh đều phải xuất phát từ nhu cầu của khách hàng và tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu đó chứ không phải xuất phát từ ý kiến chủ quan của mình Bởi vì ngày nay nền sản xuất đã phát triển đạt tới trình độ cao, hàng hoá và dịch vụ được cung ứng ngày càng nhiều và tiêu thụ trở nên khó khăn hơn trước Do đó, khách hàng với nhu cầu có khả năng thanh toán của họ, bộ phận chủ yếu trong thị trường của doanh nghiệp, sẽ dẫn dắt toàn
bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thị trường tồn tại một cách khách quan nên từng doang nghiệp chỉ có thể tìm phương hướng hoạt động thích ứng với thị trường Mỗi doanh nghiệp phải trên cơ sở nhận biết nhu cầu của thị trường kết hợp với khả năng của mình để đề
Trang 13ra chiến lược, kế hoạch và phương án kinh doanh hợp lý nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và xã hội
Thị trường phản ánh thế và lực của doanh nghiệp:
Mỗi doanh nghiệp hoạt động trên thương trường đều có một vị thế cạnh tranh nhất định Thị phần ( phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm lĩnh được ) phản ánh thế và lực của doanh nghiệp trên thương trường
Thị trường mà doanh nghiệp chinh phục được càng lớn chứng tỏ khả năng thu hút khách hàng càng mạnh, số lượng sản phẩm tiêu thụ được càng nhiều và do đó mà vị thế của doanh nghiệp càng cao
Thị trường rộng giúp cho việc tiêu thụ thuận lợi hơn dẫn tới doanh thu và lợi nhuận nhanh hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tái đầu tư hiện đại hoá sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm, tăng thêm khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường Khi đó thế và lực của doanh nghiệp cũng được củng cố và phát triển
1 1 2 Chức năng của thị trường
1 1 2 1 Chức năng thực hiện:
Hoạt động mua bán là hoạt động lớn nhất, bao trùm cả thị trường Thực hiệnhoạt động này là cơ sở quan trọng có tính chất quyết định đối với việc thực hiện cácquan hệ và hoạt động khác
Thị trường thực hiện: hành vi trao đổi hàng hoá ; thực hiện tổng số cung và cầutrên thị trường ; thực hiện cân bằng cung cầu từng thứ hàng hoá ; thực hiện giá trị( thông qua giá cả ); thực hiện việc trao đổi giá trị …Thông qua chức năng của mình.Giá trị trao đổi là cơ sở vô cùng quan trọng để hình thành nên cơ cấu sản phẩm, cácquan hệ tỷ lệ về kinh tế trên thị trường
1 1 2 2 Chức năng thừa nhận:
Hàng hoá được sản xuất ra, người sản xuất phải bán nó Việc bán hàng đượcthực hiện thông qua chức năng thừa nhận của thị trường Thị trường thừa nhận chính làngười mua chấp nhận thì cũng có nghĩa là về cơ bản quá trình tái sản xuất xã hội củahàng hoá đã hoàn thành Bởi vì bản thân việc tiêu dùng sản phẩm và các chi phí tiêudùng cũng đã khẳng định trên thị trường khi hàng hoá được bán
Thị trường thừa nhận: tổng khối lượng hàng hoá ( tổng giá trị sử dụng ) đưa rathị trường ; cơ cấu của cung và cầu, quan hệ cung cầu với từng hàng hoá ; thừa nhậngiá thị sử dụng và giá cả hàng hoá, chuyển giá trị sử dụng và giá trị cá biệt thành giá trị
Trang 14sử dụng và giá trị xã hội ; thừa nhận các hoạt động mua và bán vv…Thị trường khôngphải chỉ thừa nhận thụ động các kết quả của quá trình tái sản xuất, quá trình mua bán
mà thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế trên thị trường mà thị trường cònkiểm tra, kiểm nghiệm quá trình tái sản xuất quá trình mua bán đó
1.1.2.3 Chức năng điều tiết, kích thích:
Nhu cầu thị trường là mục đích của quá trình sản xuất Thị trường là tập hợpcác hoạt động của các quy luật kinh tế cả thị trường Do đó, thị trường vừa là mục tiêuvừa tạo động lực để thực hiện các mục tiêu đó Đó là cơ sở quan trọng để chức năngđiều tiết và kích thích của thị trường phát huy vai trò của mình
Chức năng điều tiết và kích thích thể hiện ở chỗ:
Thông qua nhu cầu thị trường, người sản xuất chủ động di chuyển tư liệu sảnxuất, vốn và lao động từ ngành này qua ngành khác từ sản phẩm này sang sản phẩmkhác để có lợi nhuận cao
Thông qua các hoạt động của các quy luật kinh tế của thị trường, người sảnxuất có lợi thế trong cạnh tranh sẽ tận dụng khả năng của mình để phát triển sản xuấtngược lại những người sản xuất chưa tạo ra được lợi thế trên thị trường cũng phảivươn lên để thoát khỏi nguy cơ phá sản Đó là những động lực mà thị trường tạo ra đốivới sản xuất
Thông qua sự hoạt dộng của các quy luật kinh tế trên thị trường người tiêudùng buộc phải cân nhắc, tính toán quá trình tiêu dùng của mình Do đó thị trường cóvai trò to lớn đối với việc hướng dẫn tiêu dùng
Trong quá trình tái sản xuất, không phải người sản xuất, lưu thông… chỉ racách chi phí như thế nào cũng được xã hội thừa nhận Thị trường chỉ thừa nhận ở mứcthấp hơn hoặc bằng mức xã hội cần thiết ( trung bình) Do đó thị trường có vai trò vôcùng quan trọng đối với kích thích tiết kiệm chi phí, tiết kiệm lao động
Để chức năng điều tiết, kích thích sản xuất đúng hướng, ngày 21/5/2009 Bộtrưởng Bộ Công thương ký quyết định số 2435 QĐ/BCT với nội dung quy hoạch pháttriển ngành Bia - Rượu - NGK Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn 2025, với mục tiêu là “Xây dựng Ngành Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam thành một ngành kinh tế quan trọng, sản xuất ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nước; các sản phẩm bia, rượu, nước giải khát được sản xuất có chất lượng cao, có uy tín, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đa dạng về mẫu mã và chủng loại có thương hiệu hàng hóa và khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới”
Trang 151.1.2.4 Chức năng thông tin:
Trong tất cả các khâu ( các giai đoạn ) của quá trình tái sản xuất hàng hoá, chỉ
có thị trường mới có chức năng thông tin Trên thị trường có nhiều mối quan hệ: kinh
tế, chính trị, xã hội …Song thông tin kinh tế là quan trọng nhất
Thị trường thông tin về: tổng số cung và tổng số cầu ; cơ cấu của cung và cầu ;quan hệ cung cầu đối với từng loại hàng hoá ; giá cả thị trường ; các yếu tố ảnh hưởngtới thị trường, đến mua và bán, chất lượng sản phẩm, hướng vận động của hàng hoá;các điều kiện dịch vụ cho mua và bán hàng hoá, các quan hệ tỷ lệ về sản phẩm vv…
Thông tin thị trường có vai trò quan trọng đối với quản lý kinh tế Trong quản
lý kinh tế, một trong những nội dung quan trọng nhất là ra quyết định Ra quyết địnhcần có thông tin Các dữ liệu thông tin quan trọng nhất là thông tin từ thị trường Bởi
vì các dữ kiện đó khách quan, được xã hội thừa nhận
Bốn chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau Mỗi hiệntượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện bốn chức năng này Vì là những tácdụng vốn có bắt nguồn tư bản chất thị trường, do đó không nên đặt vấn đề chức năngnào quan trọng nhất hoặc chức năng nào quan trọng hơn chức năng nào Song cũngcần thấy rằng chỉ khi chức năng thừa nhận được thực hiện thì các chức năng khác mớiphát huy tác dụng
Một trong những bí quyết quan trọng nhất để thành công trong kinh doanh là sựhiểu biết cặn kẽ tính chất của thị trường Nhận biết được đặc điểm và sự hoạt động củatừng loại thị trường, các yếu tố tham gia vào hoạt động của thị trường, từ đó thấy rõđặc điểm hình thành và vận động của giá cả thị trường do đó cần phải nghiên cứu,phân loại các hình thái thị trường
1.1.3 Phân loại thị trường
Một trong những yếu tố quan trọng nhất để thành công trong kinh doanh là sựhiểu biết cặn kẽ tính chất của từng hình thái thị trường Phân định các hình thái thịtrường là chia thị trường theo góc độ khách quan khác nhau Phân định hình thái thịtrường là cần thiết, khách quan để nhận thức cặn kẽ về thị trường
Hiện nay trong kinh doanh người ta dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau để phânđịnh hình thái thị trường Mỗi cách phân định có một hình thái thị trường riêng đối vớiquá trình kinh doanh Sau đây là một số cách phân định chủ yếu về nội dung, tính chấtcủa từng hình thái thị trường tương ứng với các phân định đó
1.1.3.1 Căn cứ vào quan hệ mua bán giữa các quốc gia, thị trường chia
thành thị trường quốc nội và thị trường quốc tế:
Trang 16Thị trường quốc nội là thị trường mà ở đó diễn ra hoạt động mua bán hàng hoácủa những người trong phạm vi hoạt động một quốc gia và các quan hệ kinh tế diễn ratrong mua bán qua đồng tiền quốc gia, chỉ có liên quan đến các vấn đề kinh tế, chínhtrị trong một nước
Thị trường quốc tế là nơi diễn ra hoạt động mua bán hàng hoá giữa các nướcvới nhau thông qua tiền tệ quốc tế Các quan hệ kinh tế diễn ra trên thị trường thế giớiảnh hưởng trực tiếp tới việc phát triển kinh tế ở mỗi nước
Phân biệt thị trường quốc nội và thị trường quốc tế không ở phạm vi biên giớimỗi nước mà chủ yếu ở người mua và người bán với phương thức thanh toán và loạigiá áp dụng, các quan hệ kinh tế diễn ra trên thị trường Với sự phát triển của kinh tế,của khoa học kỹ thuật và sự phân công lao động thế giới, kinh tế mỗi nước trở thànhmột mắt xích của hệ thống kinh tế thế giới, do đó thị trường quốc nội có quan hệ mậtthiết với thị trường quốc tế Việc dự báo đúng sự tác động của thị trường quốc tế đốivới thị trường quốc nội là sự cần thiết và cũng là những nhân tố tạo ra sự thành côngđối với mỗi nhà kinh doanh trên thương trường quốc nội
1.1.3.2 Căn cứ vào vai trò và vị thế của người mua và người bán trên
thị trường, thị trường chia thành thị trường người bán và thị trường người mua:
Trên thị trường người bán, vai trò quyết định thuộc về người bán hàng, thườngxảy ra trên hai tình thế cung cầu hoặc độc quyền bán Các quan hệ kinh tế hình thànhtrên thị trường ( quan hệ cung cầu, quan hệ giá cả tiền tệ, quan hệ cạnh tranh ) hìnhthành không khách quan, giá thường bị áp đặt, cạnh tranh bị thủ tiêu hoặc không cóđiều kiện hoạt động, các kênh phân phối và lưu thông không hợp lý …vai trò củangười mua bị thủ tiêu Việc hình thành thị trường của người bán một mặt là do sảnphẩm hàng hoá chưa phát triển, mặt khác là do sự tác động chi phối của cả hệ thốngquản lý kinh tế hành chính bao cấp Việc xoá bỏ cơ chế hành chính bao cấp là yếu tốcực kỳ quan trọng để chuyển từ thị trường người bán sang thị trường người mua
Trên thị trường người mua, vai trò quyết định trong quan hệ mua bán thuộc vềngười mua Các quan hệ kinh tế trên thị trường ( quan hệ sản phẩm, quan hệ giá cả vàcung cầu …) được hình thành một cách khách quan Với thị trường người mua, vai tròcủa các quy luật kinh tế của thị trường được phát huy tác dụng và do đó vai trò, chứcnăng của thị trường người mua không phải chỉ là công cụ điều tiết sản xuất xã hội mà
nó còn trở thành công cụ để bổ sung cho kế hoạch Đối với thị trường này thì thái độkhôn khéo của các nhà kinh doanh để đạt được thành công là nhận thức, tiếp cận, xâmnhập và khai thác thị trường
Trang 171.1.3.3 Căn cứ vào mối quan hệ cung cầu và khả năng biến nhu cầu thành hiện thực, thị trường chia thành thị trường thực tế, thị trường tiềm năng và thị trường lý thuyết:
Thị trường thực tế là một bộ phận của thị trường mà trong đó yêu cầu tiêu dùng
đã được đáp ứng thông qua việc cung ứng hàng hoá và dịch vụ
Thị trường tiềm năng bao gồm thị trường thực tế và một bộ phận thị trường màtrong đó khách hàng có yêu cầu tiêu dùng nhưng chưa được đáp ứng
Thị trường lý thuyết bao gồm tất cả các nhóm dân cư trên thị trường kể cảngười chưa có yêu cầu tiêu dùng hoặc không có khả năng thanh toán
1.1.3.4 Căn cứ vào hình thái vật chất của đối tượng trao đổi, thị trường thành thị trường hàng hoá và thị trường dịch vụ:
Thị trường hàng hoá là thị trường trong đó đối tượng trao đổi là hàng hoá, vậtphẩm tiêu dùng với mục đích thoả mãn nhu cầu vật chất Thị trường hàng hoá bao gồmnhiều bộ phận thị trường khác nhau, điển hình là thị trường tư liệu sản xuất và thịtrường tư liệu tiêu dùng Trên thị trường tư liệu sản xuất thường có các nhà kinh doanhlớn, cạnh tranh diễn ra mạnh hơn, quy mô thị trường lớn hơn nhưng nhu cầu thị trườngkhông phong phú, đa dạng như nhu cầu thị trường hàng tiêu dùng, thị trường tư liêusản xuất bị phụ thuộc vào thị trường hàng tiêu dùng Còn trên thị trường hàng tiêudùng số lượng người mua và người bán nhiều, mức độ cạnh tranh của thị trường nàykhông gay gắt như trên thị trường tư liệu sản xuất Khả năng hình thành các cửa hàngđường phố, siêu thị của thị trường tiêu dùng rất lớn, hình thức mua bán trên thị trườngcũng rất phong phú (bán buôn, bán lẻ, đại lý …) Thị trường bán lẻ là thị trường chủyếu của hàng tiêu dùng
Thị trường dịch vụ là thị trường trao đổi các chủng loại dịch vụ như sửa chữa,lắp đặt, bảo hành và các dịch vụ khác, không có sản phẩm tồn tại dưới hình thái vậtchất, không có các trung gian phân phối mà sử dụng kênh phân phối trực tiếp, mạnglưới phân phối của doanh nghiệp dịch vụ thường tuỳ thuộc vào nhu cầu của thị trường
và từng hoạt động kinh doanh
1.1.3.5 Căn cứ vào vai trò và số lượng người mua và người bán trên thị trường, thị trường chia thành thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và thị trường độc quyền:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà ở đó số người tham gia vàothị trường tương đối lớn không có ưu thế để cung ứng hay mua một số lượng sảnphẩm khả dĩ ảnh hưởng đến giá cả Người mua và người bán không ai quyết định giá
và chỉ chấp nhận giá mà thôi Các sản phẩm mua bán trên thị trường này là đồng nhất.Đều kiện tham gia vào thị trường và rời khỏi thị trường nói chung dễ dàng Người bán
Trang 18chỉ có cách giảm thấp chi phí sản xuất và sản xuất một sản lượng đến giới hạn mà chiphí cận biên bằng doanh thu cận biên
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là thị trường mà phần lớn các doanhnghiệp đều ở hình thái thị trường vừa có cạnh tranh vừa có độc quyền Ở hình thái cácdoanh nghiệp vừa phải tuân theo các yêu cầu của quy luật cạnh tranh vừa phải đi tìmcác giải pháp hòng trở thành độc quyền chi phối thị trường
Thị trường độc quyền có nghĩa là các nhà độc quyền có khả năng chi phối cácquan hệ kinh tế và giá cả thị trường Trên thị trường độc quyền có thị trường độcquyền bán và thị trường độc quyền mua Thị trường độc quyền bán là trong đó vai tròquyết định thuộc về người bán, các quan hệ kinh tế trên thị trường ( quan hệ cung cầu,giá cả, ) hình thành không khách quan: giá cả bị áp đặt, bán với giá cao, cạnh tranh
bị thủ tiêu hoặc không đủ điều kiện để hoạt động trên các kênh phân phối, vai trò củangười mua bị thủ tiêu Còn thị trường độc quyền mua thì vai trò quyết định trong muabán hàng hoá thuộc về người mua, các quan hệ kinh tế phát huy tác dụng
Trong ngành Bia, các thương hiệu như Bia Hà Nội, Bia Sài Gòn, Heineken, Tiger, Carlsberg… đều có thị phần và đối tượng khách hàng của riêng mình Giữa họ luôn có sự cạnh tranh, nhưng là sự cạnh tranh lành mạnh Họ đã cùng nhau tạo nên động lực phát triển cho ngành, tham gia đầy đủ trách nhiệm nộp thuế cho Nhà nước Tuy nhiên, sự cạnh tranh với bia nhập khẩu, với các nhãn hiệu bia nhái, bia kém chất lượng đang có xu hướng gia tăng và chưa có giải pháp xử lý hữu hiệu
Tại hội nghị tổng kết hoạt động năm 2012 của Hiệp hội Bia – Rượu – NGK Việt Nam (VBA) ngày 18/1/1013 tại Hà nội, Chủ tịch VBA, PGS TS Nguyễn Văn Việt đưa ra quan điểm: "Quan điểm của Hiệp hội Bia – Rượu – NGK Việt Nam là Hợp tác – Bình đẳng – Cùng phát triển, khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài tham gia Hiệp hội Chính sách của Nhà nước cũng đẩy mạnh thu hút nguồn vốn FDI, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng Nhưng chúng ta không ủng hộ bất cứ doanh nghiệp nào sử dụng những chiêu thức cạnh tranh không lành mạnh, cũng như mọi hình thức độc quyền để nhằm độc chiếm thị trường hơn 80 triệu dân Việt Nam, mà không hướng tới sự phát triển chung cho ngành, cho đất nước, không vì quyền lợi của người tiêu dùng"
1 2 Các quan niệm cơ bản về tiêu thụ
1 2 1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm
Trang 19Triết lý kinh doanh của sản xuất hàng hoá là sản phẩm đựơc sản xuất ra để bánnhằm thu lợi nhuận Do đó, tiêu thụ sản phẩm là một trong những nội dung quan trọngcủa hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện triết lý đó Theonghĩa hẹp quá trình tiêu thụ sản phẩm gắn liền với sư thanh toán giữa người mua vàngười bán và sự chuyển quyền sở hữu hàng hoá Thực tế cho thấy, thích ứng với mỗi
cơ chế quản lý khác nhau, công tác tiêu thụ đựơc thực hiện bằng nhiều hình thức khácnhau Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệpđược thực hiện theo kế hoạch giao nộp sản phẩm với giá cả và địa chỉ do nhà nước quyđịnh
Còn trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình giải quyết bavấn đề cơ bản: sản xuất cái gì, bằng cách nào và cho ai Do vậy, tiêu thụ sản phẩm trởthành vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị của hàng hoá, quá trình chuyểnhoá hình thái giá trị của hàng hoá từ hàng sang tiền, sản phẩm được coi là tiêu thụ khiđược khách hàng chấp nhận thanh toán tiền hàng Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuốicùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định đến sụ tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện mục đích của sản xuất hànghoá là sản phẩm để bán và thu lợi nhuận
Qua tiêu thụ, hàng hoá được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị
và đồng thời vòng chu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hoàn thành.Tiêu thụ giúp cho quá trình tái sản xuất được giữ vững và phát triển Sản phẩm làm rađược tiêu thụ thì tính chất hữu ích của sản phẩm mới được xác định, khi đó, giá trị, giátrị sử dụng mới được thực hiện, lao động của người sản xuất hàng hoá nói riêng, vàcủa toàn xã hội nói chung mới được thừa nhận Sản phẩm được tiêu thụ thể hiên sựthừa nhận của thị trường, của xã hội và khi đó lao động của doanh nghiệp mới thực sự
là lao động có ích Tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng quyết định đến hoạt động sảnxuất kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp, quyết định sự mở rộng và thu hẹp sảnxuất của doanh nghiệp và là cơ sở để xác định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường
Là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, tiêu thụ giúp cho người tiêu dùng có được giátrị sử dụng mà mình mong muốn và người sản xuất đạt được mục đích của mình trongkinh doanh Nhà sản xuất, thông qua tiêu thụ có thể nắm bắt thị hiếu, xu hướng tiêudùng, yêu cầu về sản phẩm, để từ đó mở rộng hướng kinh doanh, tạo ra những sảnphẩm mới, tìm kiếm khả năng và biện pháp thu hút khách hàng Doanh nghiệp có điềukiện sử dụng tốt hơn mọi nguồn lực của mình, tạo dựng một bộ máy kinh doanh hiệuquả và hợp lý
Tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng tổng thể các biệnpháp về tổ chức, kinh tế và kế hoạch nhằm thực hiên các nghiệp vụ liên quan đến tiêu
Trang 20thụ sản phẩm như nắm bắt nhu cầu thị trường, tổ chức sản xuất, tiếp cận sản phẩm,chuẩn bị hàng hoá và xuất bán theo yêu cầu của khác hàng với chi phí kinh doanh nhỏnhất Như vậy, tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp là một hoạt động mang tính nghiệp
vụ cao, bao gồm nhiều loại công việc khác nhau liên quan đến các nghiệp vụ sản xuất
và các nghiệp vụ tổ chức quản lý quá trình tiêu thụ Mục tiêu của quá trình này baogồm mục tiêu số lượng: Thị phần, doanh số, đa dạng hoá doanh số, lợi nhuận và mụctiêu chất lượng, cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp cải thiên dịch vụ khách hàng
1 2 2 Các nội dung chủ yếu của công tác tiêu thụ sản phẩm:
a Nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm:
Nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm là việc phải tìm tòi, xác định xem đâu
là thị trường then chốt, chủ yếu của doanh nghiệp: Khách hàng của doanh nghiệp lànhững người như thế nào? Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp là những ai?Từ đó cóthể ước lượng thị phần mà doanh nghiệp có thể khai thác được, đề ra các giải pháp vềchính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối, chính sách giao tiếp,khuyếch trương
b Chiến lược sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm:
Trong chiến lược thị trường của một doanh nghiệp, chiến lược sản phẩm và tiêuthụ sản phẩm là chiến lược cực kỳ quan trọng Điều này bắt nguồn từ những lý do sau:
Cùng với sự phát triển nhanh về khoa học kỹ thuật, cơ cấu nhu cầu và cơ cấungười tiêu dùng cũng có những thay đổi đáng kể Các doanh nghiệp đều mong muốntrên cơ sở cách mạng khoa học kỹ thuật làm ra nhiều sản phẩm mới để thu lợi nhuậncao Do vậy chiến lược sản phẩm là một vũ khí sắc bén nhất trong cạnh tranh, đồngthời là phương pháp có hiệu quả tạo ra nhu cầu mới giúp ích cho tiêu thụ sản phẩm
Sản xuất đại công nghiệp và sản xuất tự động, bán tự động đã tạo ra sự đồngnhất cao và ngày càng tăng tính chất sử dụng của sản phẩm Vì vậy yếu tố quyết địnhthị trường tiêu thụ của doanh nghiệp là ở chỗ:
Liệu sản phẩm của họ có vượt qua được sản phẩm cạnh tranh hay không? Vượtnhư thế nào? Và làm thế nào để khách hàng tập trung mua hàng của mình mà khôngmua của người khác?
Điều này chỉ thực hiện được nếu họ có một chiến lược sản phẩm đúng đắn, tạo
ra những sản phẩm với chất lượng tốt hơn
Điều cốt lõi của chiến lược sản phẩm là phải linh hoạt, nhạy bén, quyết định kịpthời để thực hiện bán cái người ta cần chứ không phải chỉ bán cái mà ta có Muốn vậycác doanh nghiệp cần phải đầu tư thích đáng vào công tác nghiên cứu và phải sử dụngnhững kỹ thuật công nghệ tiên tiến, đồng thời vận dụng những công cụ sắc bén để xây
Trang 21dựng chiến lược và thực hiện các mục tiêu đã đề ra nhằm triển khai có hiệu quả côngtác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
c Hoạch định chương trình tiêu thụ sản phẩm:
Phương châm hành động phổ biến của các doanh nghiệp thị trường là thôngqua việc thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng để đạt được những mục tiêu lợi ích củamình Làm thế nào để nhà sản xuất đưa sản phẩm của mình đến người tiêu dùng mộtcách tốt nhất? Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và thị trường đóng vai trò quyết địnhđối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong mỗi giai đoạn hoạt động Nhiệm vụcủa những người hoạch định chương trình tiêu thụ sản phẩm là thể chế hoá dưới dạngchính sách về các chiến thuật ứng xử cho từng yếu tố “Làm thị trường” của MarketingMix trong mỗi giai đoạn thị trường
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là việc thiết lập và vận hành các kênh tiêu thụ,được cụ thể hoá bằng việc tổ chức và điều hành quá trình chuyển giao hàng hoá, dịch
vụ từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Đối với doanh nghiệp mới thành lập hoặcdoanh nghiệp hiện hữu nhưng có sản phẩm mới hay xâm nhập vào thị trường mới, quátrình hoạch định chương trình tiêu thụ sản phẩm bao gồm các nội dung sau đây:
- Xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm với hai trọng tâm là lựa chọn và thiếtlập hệ thống kênh tiêu thụ và định hình các chính sách hỗ trợ đồng bộ cho tiêu thụnhư: về giá cả, về chiêu thị, về sản phẩm
- Lập kế hoạch triển khai tạo dựng mạng lưới tiêu thụ và xúc tiến bán hàng Đối với doanh nghiệp hiện hữu có sản phẩm đang tiêu thụ trên thị trường, trướcmỗi kỳ kế hoạch, nhà quản lý tiêu thụ tuy không phải thực hiện từ đầu các nội dungtrên, nhưng cũng cần phải xem xét khả năng điều chỉnh và hoàn thiện sự hoạt động củamạng lưới tiêu thụ hiện có
1 2 3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả tiêu thụ sản phẩm
Khi phân tích và đánh giá kết quả và hiệu quả tiêu thụ sản phẩm, cần phân tíchđánh giá bằng nhiều chỉ tiêu, phản ánh cả về mặt chất và lượng của quá trình tiêu thụsản phẩm Đặc biệt chú ý đến mặt hiệu quả của hoạt động tiêu thụ cần đề cập đến một
số chỉ tiêu sau:
1 2 3 1 Khối lượng tiêu thụ
Khối lượng tiêu thụ là chỉ tiêu phản ánh kết quả tiêu thụ sản phẩm về mặtlượng, chỉ tiêu này cho phép xác định được chính xác trong thời kỳ kinh doanh, doanhnghiệp đã tiêu thụ được bao nhiêu?Với mức tiêu thụ như vậy, doanh nghiệp có thể sosánh với thời kỳ trước và dự báo cho kế hoạch mức tiêu thụ Khối lượng tiêu thụ trong
kỳ được tính theo công thức:
Trang 22O = Ođk + Osx – Ock
Trong đó: - O là khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
- Ođk là khối lượng sản phẩm tồn đầu kỳ
- Osx là khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ
- Ock là khối lượng sản phẩm tồn cuối kỳ
Nếu doanh nghiệp có nhiều loại sản phẩm tiêu thụ thì chỉ tiêu này cần đượcphân loại
1 2 3 2 Doanh thu tiêu thụ và mức tăng doanh thu
Doanh thu tiêu thụ là một chỉ tiêu quan trong được sử dụng và phân tích đánhgiá hoạt động tiêu thụ Chỉ tiêu này phản ánh giá trị tiêu thụ trong kỳ kinh doanh Đây
là chỉ tiêu quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với cả nền kinh tếquốc dân
Doanh thu tiêu thụ phản ánh quy mô quá trình kinh doanh, phản ánh quá trình
tổ chức chỉ đạo quá trình kinh doanh, tổ chức công tác thanh toán Có doanh thu chứng
tỏ sản phẩm của doanh nghiệp kinh doanh được người tiêu dùng chấp nhận, phù hợpvới nhu cầu, thị hiếu của họ Doanh thu tiêu thụ giúp doanh nghiệp trang trải cáckhoản kinh phí, góp phần thúc đẩy tăng nhanh quá trình chu chuyển vốn, tạo điều kiệncho tái sản xuất kinh doanh ở các chu kỳ tiếp theo Ngoài ra doanh thu còn phản ánhkết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở trạng thái nào: lỗ, lãi hay hoà vốn
Chỉ tiêu đánh giá doanh thu thường được xác định
- MTR: mức tăng doanh thu kỳ thực hiện so với kỳ gốc
- DT1: doanh thu kỳ thực hiện
- DT0 : doanh thu kỳ gốc
1 2 3 3 Lợi nhuận tiêu thụ
Trang 23Lợi nhuận luôn là mục tiêu cở bản nhất của các công ty và doanh nghiệp Kinhdoanh mà không nhằm mục tiêu lợi nhuận thì không phải là kinh doanh Do vậy, công
ty, doanh nghiệp nào cũng lấy lợi nhuận làm mục đích hoạt động và sự tồn tại củamình Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu, thường xuyên, cơ bản Tuy vậy không phải lúcnào lợi nhuận cũng được đặt lên hàng đầu mà nó còn phụ thuộc vào từng thời kỳ, từngtrường hợp, từng giá đoạn cụ thể
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng và quyết định mức lợi nhuận tiêu thụ của doanhnghiệp như giá bán, chất lượng sản phẩm, khối lượng sản phẩm tiêu thụ, chi phí tiêuthụ…Những yếu tố này có mối quan hệ hữu cơ mà quyết định đến mức lợi nhuận màcông ty đạt được Người ta đánh giá lợi nhuận tiêu thụ trên các chỉ tiêu như: tổng lợinhuận, mức doanh thu, mức doanh lợi theo vốn, mức doanh lợi theo chi phí Cụ thể:
Tổng lợi nhuận: là chênh lệch giữa tổng doanh thu tiêu thụ với tổng chi phí tiêuthụ
LN =DT -CP
Trong đó: - LN: tổng lợi nhuân
- DT : tổng doanh thu trong kỳ
- CP: tổng chi phí bỏ ra trong kỳ
1 2 4 Thị phần của doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp phản ánh phạm vi và quy mô thị trường mà doanhnghiệp đã chiếm lĩnh Thị phần của doanh nghiệp cũng là một chỉ tiêu quan trọng đểđánh giá hoạt động tiêu thụ Khi sử dụng chỉ tiêu này thường phải so sánh với đối thủcạnh tranh về tỷ lệ thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh Để xác định được thị phầncủa mình các doanh nghiệp thường căn cứ vào các con số thống kê kinh tế và tổngmức tiêu thụ mặt hàng cùng loại trong năm của toàn bộ nền kinh tế, dựa vào mức tiêuthụ thực tế của đơn vị mình để xác định thị phần chiếm bao nhiêu phần trăm, ở mứccao trung bình hay thấp Nếu thị phần của doanh nghiệp càng lớn, mức độ phân bốrộng khắp thì đó là dấu hiệu về sự đứng vững trên thị trường của sản phẩm mà doanhnghiệp đang kinh doanh Điều đó cũng có nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp đượcnhiều khách hàng biết đến và chấp nhận tiêu dùng
1 2 5 Một số chỉ tiêu khác
Ngoài nhưng chỉ tiêu cơ bản trên, khi đánh giá hoạt động tiêu thụ người tathường dùng một số chỉ tiêu sau:
- Chi phí bán hàng
Trang 24- Dân số gần 90 triệu người
- Tốc độ tăng dân số lớn gần 2%/năm, ước tính dân số Việt Nam đạt 100 triệu người vào năm 2025
- Độ tuổi trung bình của người dân là 27, 8 tuổi so với 35, 5 tuổi của Trung Quốc
- 70% dân số nhỏ hơn 40 tuổi
- 31 triệu dân số nằm trong độ tuổi 20-40
- 35% dân số nhỏ hơn 20 tuổi
- Mỗi năm có thêm hơn 1 triệu dân số bước sang độ tuổi 18
Việt Nam đang trở thành một trong những thị trường tiêu dùng hấp dẫn nhất thế giới, trong đó có thị trường bia Cùng FGate điểm qua những thông tin thú vị nhất về thị trường bia Việt Nam – nước tiêu thụ bia nhiều nhất Đông Nam
Á, và đứng thứ 3 khu vực châu Á – Thái Bình Dương (chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc)
Việt Nam là thị trường bia lớn thứ ba của châu Á sau Trung Quốc và Nhật Bản, lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á Mặc dù chỉ bằng một phần mười dân số của Trung Quốc, Việt Nam là thị trường đầy tiềm năng Một phần
là do độ tuổi trung bình chỉ 27, 82 và tỷ lệ sinh xấp xỉ khoảng một triệu người/năm Cùng với sự gia tăng của dân số trẻ này, Việt Nam cũng cho thấy
Trang 25một sự gia tăng trong mức thu nhập và trong ngành du lịch, góp phần tạo động lực mạnh mẽ, thúc đẩy sản lượng bia sản xuất và tiêu thụ hàng năm
Trước tiên hãy nhìn vào sức sản xuất Theo báo cáo mới nhất của Kirin về sức tiêu thụ bia toàn cầu được phát hành năm 2012 Việt Nam được coi là một trong 25 thị trường hàng đầu trên thế giới Quốc gia này đã xê dịch đều đặn trong bảng xếp hạng, ở vị trí thứ 30 vào năm 2002 và tăng 17 bậc lên vị trí số 13 trong năm 2012 Trong khi Trung Quốc duy trì vị trí số một trong danh sách, tăng trưởng 6, 3% trong việc sản xuất bia từ năm 2009 - 2012, thì Việt Nam lại
có mức tăng 15, 2% Về sức tiêu thụ, theo dự đoán, nhu cầu về bia tại Việt Nam
sẽ tăng hơn gấp đôi vào năm 2020, đạt 5, 8 triệu nghìn lít từ 2, 6 triệu nghìn lít trong năm 2010
Trang 26Ảnh minh họa: Việt Nam, nước "khát bia" nhất đông nam Á
Bảng thống kê sản lượng bia tiêu thụ một số nước ở Đông Nam Á
STT Quốc gia Dân số
(người)
Lượng bia tiêu thụ năm 2012
Bình quân 2012
Trang 27Với một triển vọng lớn cho thị trường như vậy, Việt Nam nhất định sẽ trở thành nhà sản xuất bia lớn hoặc sẽ mở ra những nhà sản xuất mới hoặc sẽ mở rộng việc sản xuất tại Việt Nam.Ví dụ, vào tháng 5-2011, nhà máy bia Châu Á Thái Bình Dương (APB), một trong những nhà sản xuất bia lớn nhất của khu vực, đã công bố kế hoạch tăng sản lượng tại nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.Ngoài ra, hai nhà sản xuất bia lớn nhất Nhật Bản - Kirin và Asahi - đã bắt đầu di chuyển vào Việt Nam.Vào cuối năm ngoái, nhà sản xuất bia Sapporo Nhật Bản cũng đã công bố quyết định trong việc mở rộng sản xuất tại Việt Nam
do nhu cầu tại thị trường Nhật Bản giảm sút.Việt Nam cũng là một thị trường quan trọng đối với Heineken, thị trường lớn thứ ba sau Mỹ và Pháp.Thị trường mới nổi này dự kiến sẽ được coi là thị trường lớn nhất thứ hai của Heineken vào năm 2012 và tới năm 2015, nhiều khả năng Việt Nam sẽ trở thành thị trường lớn nhất của hãng.
Rõ ràng thị trường Việt Nam rất năng động, và đặc biệt là phân khúc thị trường bia, sẵn sàng cho sự tăng trưởng liên tục.
Người Việt chi 3 tỷ USD/năm cho bia
Trang 28Trong khi thu nhập bình quân người của Việt Nam chỉ đứng 8/11 trong khu vực Đông Nam Á, thì Việt Nam lại đang nắm giữ kỷ lục tiêu thụ bia với gần 3 tỷ lít trong năm 2012.
Hà Nội trong những ngày nóng nực nhất của mùa hè và dường như thành phố cũng đang ở trong “cơn khát bia”.
"Cơn khát" này đã kéo dài nhiều năm và dường như chưa hề có điểm dừng.Theo tổ chức nghiên cứu thị trường Eurowatch, 3 tỷ lít bia đã trôi qua cổ họng người Việt Nam trong năm 2012.Lượng bia 1 người Việt trung bình uống
1 năm là 32 lít, xếp thứ nhất khu vực ASEAN và thứ ba châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật.
Nếu chỉ tính trung bình 22.000 đồng/ lít bia, lấy theo giá bia Hà Nội thì người Việt đã chi tiêu 3 tỷ USD/năm cho thứ nước uống có men này.
Môt người uống bia cho biết: “Mật độ uống bia cũng tùy lúc, có khi uống 1 tuần liên tục vào trưa, chiều.Hiện giá bia tươi đắt hơn bia vỉa hè gấp 3 lần”.
Ngành kinh doanh bia đã trở thành một sức đẩy lớn, tạo nhiều công ăn việc làm cho nền kinh tế, cũng như tạo động lực cho những ngành liên quan như thực phẩm.Tuy nhiên, việc người Việt dành quá nhiều thời gian cho bia, đặc biệt vào buổi trưa trong tuần, có thể khiến nhiều người đặt ra câu hỏi về hiệu suất lao động của những giờ làm việc trong ngày của họ.
Sức uống đáng nể của người tiêu dùng Việt Nam đã khiến ngày càng nhiều doanh nghiệp nhập khẩu và phân phối các loại bia trên thị trường.Nhiều nhãn bia ngoại từ châu Âu hay châu Mỹ giờ đã trở nên quen thuộc với nhiều người, cho dù giá các loại bia này cao gấp 2-3 lần so với bia sản xuất trong nước.
Anh Đỗ Mạnh Cường, Trưởng bộ phận bia Nhà hàng bia Đức Eresson cho biết: “Lượng khách trong hè đến với nhà hàng rất đông.Mỗi tuần có thể tiêu thụ bia hơn 1.000 lít”.
Với thực tế, tốc độ tiêu thụ bia tại thị trường Việt Nam chỉ tăng mà không giảm, nhiều doanh nghiệp đã không ngần ngại đặt mục tiêu tiêu thụ hàng
tỷ lít bia trong những năm sắp tới.
Trang 29Các ông lớn của làng bia thế giới đang khiến cho thị trường bia Việt Nam thêm phần lên “bọt”.
Sơ đồ: Thị phần bia năm 2012 tại thị trường Việt Nam
Nguồn Bộ Công thương
Trong khi đó, cho tới nay, những thông tin về thời điểm bán tiếp cổ phần cho đối tác chiến lược là Carlsberg tại Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát
Hà Nội (Habeco) hay lựa chọn đối tác chiến lược tại Tổng công ty Bia Rượu Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) vẫn tiếp tục chỉ là những đồn đoán.
-Ông lớn xuất chiêu
Ông Phan Đăng Tuất, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Sabeco, thời gian gần đây liên tục than thở và lo ngại về sự cạnh tranh khốc liệt với các ông lớn đến từ nước ngoài trên thị trường bia nội địa.Đối tượng được ông Tuất nhắc tới nhiều là
AB Inbev - hãng bia lớn nhất thế giới, với sản lượng bia năm 2012 vượt qua con
số 40 tỷ lít, gấp khoảng 14 lần sản lượng bia hiện nay của Việt Nam.
Vào đầu năm 2013, Công ty TNHH AB Inbev Việt Nam đã nhận được giấy phép tăng vốn đầu tư thêm 15 triệu USD cho nhà máy đặt tại tỉnh Bình Dương.Đây là điều ngỡ ngàng với các doanh nghiệp bia nội, bởi trước đó không
có thông tin AB Inbev được cấp phép đầu tư lần đầu.Để có mặt tại Việt Nam nhanh nhất, AB Inbev đã mua lại Công ty TNHH Bia Quốc tế ở Bình Dương có công suất 50 triệu lít/năm hồi giữa năm 2012.
Dĩ nhiên, với qui mô sản xuất như vậy, cơ quan cấp phép chỉ là cấp chính quyền địa phương.Sau khi hoàn tất thương vụ mua thâu tóm này, AB Inbev đang
Trang 30tiếp tục mở rộng hoạt động của mình với việc tăng quy mô sản xuất lên 100 triệu lít/năm và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ UBND tỉnh Bình Dương tới các cơ quan hữu trách.
Cần nói thêm là vào năm 2008, AB Inbev đã từng tìm tới Sabeco để mong trở thành cổ đông chiến lược của “đại gia” này.Tuy nhiên, không chỉ AB Inbev
mà cả các ông lớn khác trong ngành bia thế giới như Heineken, SAB Miller hay Asahi đều không thể hiện thực hóa được giấc mơ đó.Điều này đã buộc họ phải tìm đường đi riêng để xâm nhập thị trường còn rất nhiều dư địa tăng trưởng như Việt Nam.
Trong khi Chủ tịch Sabeco tỏ rõ quan ngại về sự có mặt của AB Inbev thì những người am hiểu ngành công nghiệp này lại cho rằng, đối thủ mà Sabeco cần phải quan tâm hơn ở thời điểm này chính là Heineken với các nhãn hàng chính là Heineken và Tiger.Không là cổ đông chiến lược của Sabeco, trong khi lại có các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với “đại gia” bia nội địa này, việc Heineken quyết liệt giành giật thị phần tại Việt Nam là điều không phải bàn cãi.
Cả Sabeco, Habeco và Heineken cùng đang triển khai mở rộng sản xuất, nhưng tốc độ gia tăng năng lực lớn nhất thuộc về Heineken.
Theo thống kê của Bộ Công Thương, 4 doanh nghiệp bia lớn nhất Việt Nam ở thời điểm này là Sabeco, Habeco, Heineken và Carlsberg.Hiện tại, năng lực sản xuất của Sabeco và các công ty con, công ty liên kết là 1, 7 tỷ lít/năm.Habeco với hệ thống của mình có năng lực sản xuất 916 triệu lít/năm.
Trong khi đó, Heineken với hệ thống các công ty liên doanh của mình có khả năng sản xuất 830 triệu lít/năm và Carlsberg có thể sản xuất 575 triệu lít/năm.Dẫu cả Sabeco, Habeco và Heineken cùng đang triển khai mở rộng sản xuất nhưng tốc độ gia tăng năng lực lớn nhất lại thuộc về Heineken với các nhà máy ở Tp.HCM, Đà Nẵng, Tiền Giang, Hà Nội và Quảng Nam.
Theo kế hoạch, tới năm 2015, năng lực sản xuất của Heineken tại Việt Nam có thể đạt 1, 4 tỷ lít/năm.Với Sabeco, các dự án đang đầu tư tại Vĩnh Long, Sóc Trăng và Ninh Bình sẽ giúp nâng công suất của công ty này vào năm 2015 lên khoảng 2 tỷ lít/năm.Còn Habeco, năng lực sản xuất dự báo sẽ tăng lên khoảng 1, 1 tỷ lít/năm.
Việc Heineken liên tiếp gia tăng năng lực sản xuất và việc ông lớn AB InBev chính thức có mặt tại thị trường Việt Nam đồng nghĩa với việc các đại gia bia nội ngày càng bị cạnh tranh quyết liệt trên sân nhà.
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM FESTIVAL BEER TRÊN ĐỊA BÀNG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Tổng quan về công ty Bia Huế
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngày 20/10/1990, Nhà máy Bia Huế được thành lập theo Quyết định số
402 QĐ/UB của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế với hình thức xí nghiệp liên doanh cóvốn góp từ các đơn vị quốc doanh và ngoài quốc doanh trong tỉnh và vay vốn ngânhàng.Số vốn đầu tư ban đầu của Nhà máy là 2, 4 triệu USD
Ngay sau khi được thành lập, sản phẩm đầu tiên của Nhà máy là Bia Hudađược sản xuất theo công nghệ tiên tiến nhất của hãng DANBREW CONSULT, ĐanMạch đã nhanh chóng có mặt trên thị trường, đáp ứng được nhu cầu của người tiêudùng trong cả nước
Năm 1994, Nhà máy tiến hành liên doanh với hãng bia TuborgInternational (TIAS) và quỹ công nghiệp Đan Mạch dành cho các nước phát triển(IFU) tại giấy phép số 835/GP ngày 6/4/1994 với tỷ lệ góp vốn Việt Nam 50%, ĐanMạch 50%.Đây thực sự là một bước ngoặt trọng đại trong quá trình phát triển của đơnvị.Từ đây, Nhà máy Bia Huế chính thức mang tên Công ty Bia Huế
Do chất lượng sản phẩm luôn đảm bảo, giá thành hợp lý, được khách hàng
ưa chuộng nên mặc dù sản lượng cung ứng của Công ty Bia Huế luôn tăng mạnhnhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường.Từ công suất ban đầu là 3 triệulít/năm, đến năm 2003 công suất đưa lên 50 triệu lít/năm, năm 2007 công suất đã lênđến gần 110 triệu lít/năm.Vì vậy, ngay từ năm 2005, dự báo được nhu cầu ngày cànggia tăng của khách hàng, nhất là trong những thời điểm "nóng" như: lễ hội Festival,mùa hè, mùa tết, ngày lễ, mùa bóng đá , Công ty đã tiến hành xây dựng thêm một nhàmáy bia tại Khu công nghiệp Phú Bài với công suất 100 triệu lít/năm.Ngày 29/4/2008,Nhà máy chính thức được khánh thành và những mẻ bia đầu tiên đậm đà phong vị Huế
đã ra đời trong sự đón chào của tất cả người tiêu dùng
Bên cạnh việc không ngừng nâng cao chất lượng và đổi mới mẫu mã cácnhãn hiệu bia, Công ty Bia Huế luôn chú trọng đến công tác quảng bá, giới thiệu sản
Trang 32phẩm.Nhờ vậy, sản phẩm của Công ty được khách hàng rất tin dùng và gắn bó, khôngchỉ tại miền Trung mà còn vươn xa đến các tỉnh thành phía Nam, phía Bắc và TâyNguyên.Không chỉ tập trung vào việc chiếm lĩnh thị trường trong nước, công tác xuấtkhẩu cũng được Công ty quan tâm ngay từ những năm đầu tiên thành lập.Sản phẩmBia Huda đã có mặt tại thị trường Mỹ từ năm 1994.Đến nay, thị trường xuất khẩu củaCông ty đã được mở rộng ra nhiều nước khác trên thế giới như: Anh, Pháp, Tây BanNha, Úc, Canada, Indonesia, Malaysia, CHDCND Lào, Campuchia Năm 2007, Công
ty Bia Huế đã có những thành tích xuất sắc với sản lượng đạt 108 triệu lít, tăng 25,13% so với năm trước; doanh thu đạt 1.059 tỷ đồng, tăng 31%; nộp ngân sách 529 tỷđồng, tăng 14, 75%, chiếm hơn 1/3 tổng thu ngân sách của tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.2.Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất của công ty
a Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của công ty Bia Huế
Công ty bia Huế là một công ty liên doanh, hạch toán độc lập, có tư cáchpháp nhân, chức năng chủ yếu của công ty là sản xuất và tiêu thụ các loại bia.Nhữngthành tựu mà công ty đạt được trong thời gian qua là nhờ công ty có sự đổi mới, sángtạo trong công tác quản lý.Bộ máy quản lý của công ty tổ chức theo kiểu trực tuyếnchức năng
Trong công ty đứng đầu là hội đồng quản trị do các bên cử ra với nhiệm vụ
là hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển ngắn hạn và dài hạn của công ty,
đề cử các chức danh chủ chốt trong công ty.Nhiệm kỳ hoạt động quản trị tuỳ thuộc vàoquy định trong điều lệ liên doanh: Đối với công ty bia Huế nhiệm kỳ hoạt động là 3năm.Chủ tịch hội đồng quản trị hiện nay là người nước ngoài
Tổng giám đốc: do hội đồng quản trị bầu ra để điều hành công ty, tổnggiám đốc chịu trách nhiệm trước HDQT về kết quả kinh doanh của công ty và chịutrách nhiệm trước nhà nước về vấn đề liên quan đến pháp luật hiện hành
Trang 33Trong tổng công ty mức độ phân cấp quản lý cho các phòng ban tương đối cao,bảo đảm tính tự chủ, linh hoạt cho các bộ phận, cho phép nâng cao tính chuyên môncủa từng bộ phận và gắn trách nhiệm với kết quả cuối cùng đạt được.Cơ cấu tổ chức
bộ máy này mặc dù mỗi bộ phận điều có chức năng riêng biệt, tuy nhiên chúng lại cómối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau cùng tham mưu cho tổng giám đốc raquyết định đúng đắn nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển mang lại lợinhuận cho công ty
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức của công ty Bia Huế
: Quan hệ chứcnăng
: Quan hệ trựctuyến
GĐ Nhân sự
Phòng
tài
chính
P X lên men
P X nấu
Phòng
kế hoạch vật tư
Phòng thí nghiệm
Phòngtiếp thị và tiêu thụ
Bộ phận văn thư
Trang 34b.Đặc điểm và chủng loại sản phẩm của công ty TNHH Huế Bia
Hiện nay công ty bia Huế đang tiến hành sản xuất và tiêu thụ tại thị trườngtrong nước và nước ngoài một số sản phẩm mang nhãn hiệu khác nhau.Đặc điểmchủng loại sản phẩm của công ty bia Huế được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Đặc điểm sản phẩm của công ty bia Huế
thức
Quycách(lít)
Số lượng(chai, lon/thùng)
(Phòng bán hàng của công ty Bia Huế)
Chủng loại sản phẩm của công ty rất đa dạng và phong phú nhằm đáp ứng đầy
đủ và kịp thời nhu cầu cũng như thị hiếu của người tiêu dùng.Hiện tại sản phẩm củacông ty rất được khách hàng ưa chuộng nhất là Huda chai, lon và bia Festival.BiaHuda chiếm 80% và Festival chiếm 16% tổng sản lượng tiêu thụ còn lại là các loạikhác
Năm 1998 tình hình thị trường có nhiều biến động, các hãng bia lớn đầu tưvào thị trường Huế như SaiGon beer, Larue.Thị trường Huế đứng trước nguy cơ bị thuhẹp.trước tình hình đó thì ban lãnh đạo công ty lập tức nghiên cứu cho ra đời sản phẩmphù hợp với thị hiếu thưởng thức bia cao cấp của người dân và đó là nguyên nhân cho
ra đời sản phẩm bia Festival vào dịp lẽ hội Festiva lần đầu tiên tổ chức ở Huế(năm2000) Chỉ sau một thời gian ngắn bia này đã được thị trường chấp nhận và sau 9năm, hiện nay sản lượng bia này chiếm 16% tổng sản lượng tiêu thụ toàn công ty vànhãn hiệu Festival đã đi vào nhận thức của người tiêu dùng ở Huế như là một nhãnhiệu bia cao cấp của địa phương.Tuy nhiên đối với thị trường khác thì thương hiệu biaFestival vẫn chưa được quảng bá rộng rãi.Người tiêu dùng ở ngoài Tỉnh Thừa ThiênHuế chỉ biết nhiều đến sản phẩm Huda beer mà thôi
c, Đặc điểm, quy trình công nghệ và tổ chức dây chuyền sản xuất
Trang 35Toàn bộ dây chuyền sản xuất bia là do đối tác nước ngoài chuyển giao, ngoài racòn có các thiết bị nhỏ lẽ nhập từ các nước khác đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Toàn bộ dây chuyền sản xuất bia đước chia thành 3 giai đoạn thực hiện nối tiếp
và khép kín từ đầu cho đến ra thành phẩm
Giai đoạn nghiền nấu: nguyên liệu chính là Malt và gạo.Được đưa vào máy
nghiền thành bột.Sau khi nghiền xong cả hai lại được trộn với nhau theo tỷ lệ 4 gạo 1Malt theo một số hoá chất và nước rồi nấu hỗn hợp bằng nồi nấu, nhiệt độ nấu cùngcác thông số kỹ thuật được định sẵn.Sau 8 giờ sẽ cho dịch nha, dịch nha được đưa quabình lọc gồm 2 bước
Bước 1: Lọc thuỷ phân cho ra nước nha đầu, sau đó dùng nước nóng rửa lại bã
cho nước nha cuối cùng
Bước 2: Nấu nước nha với hoa Hoplon cho thật sôi đến khi có vị đặc trưng,
sau đó dịch này được đưa qua thùng lọc ly tâm lắng trong và giữ lạnh để lên men
Giai đoạn lên men: Dùng men để lên men dịch nấu, điều chỉnh dịch nấu theo
nhiệt độ tiêu chuẩn kỹ thuật trong quá trình lên men.Lúc này đường và các chất được ngấm men thành bia, đồng thời được cacbonit hoá để tăng vị và tạo bọt.Thời gian lên men là 12 ngày, bia được giữ trong thùng lạnh 8h sau đó qua hệ thống lọc, bia trong sẽđược đưa đến dây chuyền chiết
Giai đoạn chiết bia thành sản phẩm: Dây chuyền được bố trí thành hình chữ
U (tuỳ diện tích), một đầu bốc vỏ bia lên bằng tải dẫn đến máy rữa chai sau đó đếnmáy chiết rồi đến máy thanh trùng có nhiệt độ 60-700 C và đến máy đóng nắp, dánnhãn và ra bia thành phẩm
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất bia của công ty TNHH Bia Huế
Sinh viên: Lê Nguyễn Ngọc Linh Page 35 of 78
Hoá chất
Nồi HupblonHỗn hợp
Thùng lắngThùng gạo
Thùng làm
Thùng Malt
Máy
nghiền
Máy nghiền Nồi MaltNồi Gạo
Trang 362.1.3 Tình hình nguồn lực của công ty Bia Huế
a Tình hình lao động
Lao động là một trong những nguồn lực quan trọng đối với một DN, đặc biệt là
DN sản xuất.Tình hình lao động của Công ty TNHH Bia Huế được thể hiện qua bảngsau:
Bảng 2 Tình hình lao động của Công Ty Bia Huế qua ba năm 2007-2009
Giá
+ /- %
Trang 37Phân theo trình độ văn hóa
Đại học, trên đại
học 162 32, 6 178 33, 3 180 34, 4 16 9, 88 2 1, 12
Cao đẳng, trung
cấp 131 26, 4 142 26, 6 145 27, 6 11 8, 40 3 2, 11
Công nhân 204 41, 0 214 40, 1 222 38, 0 10 4, 90 8 3, 74
(Nguồn: Phòng nhân sự Công ty TNHH Bia Huế)
Xét bảng 2 ta thấy tổng số lao động của công ty Bia Huế tăng dần qua banăm.Cụ thể năm 2008 tăng 37 người (tương ứng tăng 7, 44% so với năm 2006), năm
2009 tăng 13 người (tương ứng tăng 2, 43%) so với năm 2008.Sở dĩ có sự gia tăng này
là do quy mô sản xuất của công ty ngày càng được mở rộng, đặc biệt là nhà máy bia ởPhú Bài vừa mới được đưa vào hoạt động đầu năm 2008 nên công ty phải bổ sungthêm số lượng lao động để tiếp tục đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh củacông ty
Xét theo giới tính: lao động nam luôn chiếm tỷ trọng cao hơn so với laođộng nữ.Tỷ lệ giữa lao động nam so với lao động nữ qua thường xuyên ở mức là8/2.Điều này là hoàn toàn hợp lý bởi đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty làsản xuất tiêu thụ các loại bia nên đòi hỏi những người lao động phải có sức khỏe tốtmới có thể dễ dàng vận chuyển, lưu thông hàng hóa.Tuy nhiên lại có một số công việcđòi hỏi tính cẩn thận và kỹ càng phù hợp với phụ nữ như công việc văn phòng, kếtoán, nên tỷ lệ lao động nữ cũng tăng qua ba năm.Cụ thể, năm 2008 lao động nữ tăng
13, 9% so với năm 2007 (lao động nam tăng 5, 66%), năm 2009 lao động nữ tiếp tụctăng 3, 25% so với năm 2008 (lao động nam tăng 2, 19%)
Xét theo tính chất công việc, số lao động trực tiếp năm 2008 tăng 12 người,
và lao động gián tiếp 2008 tăng 25 người, trong khi số lao động trực tiếp năm 2009tăng 5 người và số lao động gián tiếp tăng 8 người, như vậy số lao động năm 2009tăng lên không đáng kể trong đó chủ yếu là số lao động gián tiếp.Tỷ lệ lao động trựctiếp và lao động gián tiếp là tương đương nhau.Tuy nhiên qua ba năm trở lại đây, docông ty đã đầu tư thêm nhiều loại máy móc, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào
Trang 38hoạt động sản xuất nên tỷ lệ lao động gián tiếp có xu hướng tăng nhanh hơn so với laođộng trực tiếp.
Xét theo trình độ văn hóa, tỷ lệ lao động phổ thông có xu hướng giảm dầnqua ba năm.Bên cạnh đó tỷ lệ các lao động có bằng trung cấp, cao đẳng trở lên có xuhướng tăng dần.So vói năm 2008 nhân viên co trình độ cao đẳng, đại học tăng 5 ngườitương đương với 3, 23%Mặc dù biến động không nhiều, nhưng cũng cho thấy công tyđang chú trọng đến công tác đào tạo, tuyển dụng nhân viên có trình độ nghiệp vụ đểgiúp cho nhà quản lý
Qua 3 năm ta thấy đội ngũ lao động của công ty có sụ biến động tăng do quy
mô sản xuất của công ty ngày càng đựơc mở rộng và nhu cầu tiêu thụ bia trên thịtrường ngày càng cao.Đây là một tín hiệu đáng mừng, phần nào cho thấy việc kinhdoanh cảu công ty đang tiến triển về quy mô và hiệu quả kinh doanh ngày càng tănglên
b Tình hình vốn kinh doanh của công ty qua 3 năm 2007-2009
Vốn kinh doanh là yếu tố đầu tiên then chốt đối với mỗi công ty, mục tiêu quantrọng nhất của việc sử dụng vốn và tài sản là đảm bảo cho quá trình sản xuất kinhdoanh được tiến hành bình thường và hiệu quả cao.Trong những năm qua, công ty BiaHuế đã không ngừng tăng vốn để đáp ứng mục tiêu mở rộng sản xuất kinh doanh.Công
ty Carlsberlg đóng góp 50% cổ phẩn còn lại 50% vốn do Việt Nam đóng góp.Từ bản 3
ta thấy rằng, nợ phải trả của công ty năm 2008 so với năm 2007 giảm 22, 05% và năm
2009 so với năm 2008 tăng 21, 07 %, điều này cho ta thấy rằng qua 3 năm mức tăng
nợ phải trả vẫn ở mức ổn định, chứng tỏ công ty vẫn duy trì mức hoạt động ổn địnhtrước những biến động của thị trường, đây là dâu hiệu tốt thể hiên bộ máy làm việcđang hoạt động có hiệu quả
Vốn kinh doanh của công ty năm 2008 giảm 5, 97 %so với năm 2007, nhưngbước sang năm 2009 thì tăng 31.62 % so với năm 2008.Như vậy qua 3 năm tuy mứctăng vốn không điều qua các năm, có sự sụt giảm vào năm 2008, nhưng vào năm 2009
đã thấy rõ nguồn vốn kinh doanh của công ty đã tăng mạnh, công ty đã mở rông quy
mô, nâng cao sản xuất, đây là một dấu hiệu đáng mừng, cho thấy công ty đang cónhững chiến lược phát triển công ty về cả chiều rộng lẫn chiều sâu
Trong đó nguồn vốn chủ sở hữu năm 2008 tăng 22, 05 % so với năm 2007, vànăm 2009 giảm 21, 07 % so với năm 2008, chứng tỏ công ty đã đẩy mạnh liên doanh,xoay vốn từ các nguồn từ bên ngoài, bán cổ phần, đưa cổ phiếu của công ty lên sàngiao dịch, đây là một bước nhảy để hoà nhập với nền kinh tế theo cơ chế thị trường,vốn được huy động nhanh, đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển của công ty.Đây làkết quả tốt, công ty ngày càng tiến bộ trong công tác huy động vốn đầu tư sản xuấtkinh doanh.(Xem bảng 3)
Trang 39Việc phân tích tình hình nguồn vốn của công ty cho ta thấy rõ rằng, năm
2007-2008 trước nhưng thách thức từ bên ngoài, nên kinh tế thế giới đang rơi vào suy thoáinghiêm trọng, Công Ty Bia Huế là một công ty lớn chịu ảnh hưởng không nhỏ, bằngchứng là trong 2 năm 2007-2008 công ty đã kinh doanh thực sự chưa đạt hiệu quảmong muốn, nguồn vốn kinh doanh giảm sút, nợ phải trả thấp hơn, trong khi đó vốnchủ sỏ hửu tăng.Bước sang năm 2009 khi nền kinh tế thế giới dần dần ổn định trở lại,thì công ty với những chính sách, chiến lược phù hợp, đã nâng cao hoạt động sản xuấtkinh doanh, mang lại hiệu quả cao.Đây là một tín hiệu tích cực, và nột bài học kinhnghiệm cho công ty sau này, để chủ động ứng phó trước những thách thức từ thịtrường
: