Thiết bị phân tích khí xả Theo qui định của Việt Nam CO và HC là hai hạng mục phải kiểm tra đối với khí xả của phương tiện cơ giới đường bộ lắp động cơ đốt cháy hỗn hợp bằng tia lửa điệ
Trang 1Để đánh giá xem đèn có đáp ứng được các yêu cầu nêu trên hay không, trong
tiêu chuẩn kỹ thuật đều có nội dung kiểm tra đặc tính quang học của đèn Theo đó, khi
thử trên màn kiểm tra thì vùng chiếu sáng cũng như cường độ sáng tại các điểm tương
ứng phải phù hợp một trong số các sơ đồ đặc tính quy định tại hình 1 và 2 dưới đây
Ngoài việc đèn phải đáp ứng được các yêu cầu về đặc tính quang học như đã
nêu thì vị trí lắp đặt đèn cũng rất quan trọng Đèn lắp quá cao sẽ gây chói mắt cho
người điều khiển phương tiện chạy ngược chiều Ngược lại, đèn lắp quá thấp thì
người điều khiển xe sẽ gặp khó khăn trong việc quan sát vùng đưòng phía trước và
các biển báo đặt bên đường
Đối với xe đang lưu hành, đèn chiếu sáng phía trước được kiểm tra bằng thiết bị
chuyên dùng Theo tiêu chuẩn 22 TCVN 224-01 thì cường độ đèn chiếu xa không nhỏ
hơn 10.000 cd Ngoài ra, chùm sáng không được hướng lên trên và không được
hướng xuống dưới quá 2%, không được lệch về bên phải quá 2%, không được lệch về
bên trái quá 1% theo phương nằm ngang
Trang 24.5.1.3.Một số lưu ý trong khai thác sử dụng
Trong quá trình sử dụng cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Khi sửa chữa, thay thế phụ tùng phải sử dụng đúng loại đèn và bĩng đèn theo
quy định của nhà sản xuất
-Cần hiệu chỉnh đèn đúng theo tài liệu kỹ thuật
- Giứ gìn khơng để nước và chất bẩn lọt vào bên trong đèn làm mờ, hỏng gương
phản xạ và kính đèn
4.5.2.Thiết bị kiểm tra đèn
Để kiểm tra đèn chiếu sáng phía trước, căn cứ vào tiêu chuẩn qui định người
ta có nhiều phương pháp Có thể tiến hành kiểm tra trên màn kiểm tra hoặc cũng
có thể sử dụng các thiết bị chuyên dùng tạo ra các điều kiện tương tự như trên màn
để tiến hành kiểm tra
Theo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, cường độ của đèn chiếu sáng phía trước
không được nhỏ hơn 10.000cd Để xác định chỉ tiêu này, người ta sử dụng thiết bị
Trang 3đo độ chiếu sáng đặt cách đèn một khoảng cách nhất định Bộ hiển thị của thiết bị
có thể là bộ hiện số hoặc kim Đối với bộ hiển thị dùng kim thường có thêm một
bảng màu chia sẵn các vùng theo chỉ tiêu đã được qui định bằng các vạch màu
khác nhau, ví dụ vùng màu đỏ là không đủ độ sáng, xanh là tốt
Khi đó ngưới ta chỉ cần quan sát xem kim nằm ở vùng nào là có thể biết
ngay được mức độ sáng của đèn đang kiểm tra
Những nguyên nhân chính có thể dẫn đến việc đèn không đủ cường độ chiếu
sáng là: không đủ điện áp cấp cho đèn, dùng bóng đèn không đảm bảo công suất,
mặt gương phản chiếu bị bẩn hoặc bong tróc, kính xướt mờ…
4.6 Thiết bị phân tích khí xả
Theo qui định của Việt Nam CO và HC là hai hạng mục phải kiểm tra đối
với khí xả của phương tiện cơ giới đường bộ lắp động cơ đốt cháy hỗn hợp bằng tia
lửa điện đang lưu hành trên mạng lưới giao thông công cộng
Thiết bị đo hàm lượng CO và HC trong khí xả làm việc theo một trong các
nguyên tắc sau:
- Sử dụng nguồn nhiệt thừa của chất chưa cháy hết có trong khí xả
- Dựa vào khả năng truyền dẫn nhiệt của các chất có trong khí xả
- Sử dụng tia hồng ngoại
4.6.1 Thiết bị đo sử dụng nguồn nhiệt thừa
Ngoài các sản phẩm cháy hoàn toàn như nước và CO2 ra, trong khí xả còn có
một số chất chưa cháy hết như CO1H2HC… Để xác định hàm lượng các chất cần
kiểm tra người ta đã sử dụng phương pháp đốt cháy tiếp các sản phẩm chưa cháy
hoàn toàn có trong khí xả Một lượng khí xả xác định được trộn với không khí và đi
qua sợi đốt Platin đã được nung nóng từ trước Chất chưa cháy hết có trong khí xả
sẽ được đốt cháy hết tại đây và làm cho sơi Platin nóng thêm: việc thay đổi nhiệt
độ của sợi đốt sẽ làm thay đổi điện trở của nó Mức độ thay đổi tỷ lệ thuận với
lượng chất cháy chưa hết có trong khí xả
Vì nhiệt độ của CO và H2 xấp xỉ nhau (CO = 65,7 Kcal/mol; H2 = 68,4
Kcal/mol) nên loại thiết bị này chỉ thích hợp cho trường hợp lượng H2 có trong khí
xả thấp
Trong trường hợp HC có trong khí xả cao cũng dễ gây sai số lớn khi xác
định CO chính vì lý do trên mặc dù có kết cấu đơn giản nhưng ngày nay nó ít được
sử dụng để xác định chất độc có trong khí xả
4.6.2 Thiết bị dựa vào khả năng truyền nhiệt
Nguyên lý làm việc của nó dựa vào khả năng truyền nhiệt khác nhau của
các chất có trong khí xả
Trang 4Về kết cấu, loại thiết bị này có bộ phận chính tương tự như thiết bị sử dụng
nguồn nhiệt thừa, chỉ có điều ở đây không xảy ra sự đốt cháy các chất chưa cháy
hết có trong khí xả Người ta cho một lượng khí xả xác định đi qua một nhánh của
mach cầu Whealson, nhánh còn lại được đặt trong khoang chứa khí chuẩn Cả hai
nhánh này đều được làm bằng cùng một loại vật liệu và có điện trở như nhau Từ
sự khác biệt về khả năng truyền dẫn nhiệt của khí xả có lượng các chất chưa cháy
hết khác nhau sẽ dẫn đến sự thay đội về nhiệt độ và điện trở Dựa vào đó người ta
có thể biết được lượng các chất cần xác định có trong khí xả
Loại thiết bị này cũng có các nhược điểm như loại thiết bị đã nêu trên nên
hiện nay ít được sử dụng
4.6.3 Thiết bị phân tích khí xả dùng tia hồng ngoại
Đây là loại thiết bị có đỗ chính xác cao, cho phép xác định được nhiều thành
phần khí khác nhau có trong khí xả Vì thế loại thiết bị sử dụng tia hồng ngoại được
sử dụng rộng rãi ở nhiều nước để kiểm tra các thành phần có trong khí xả
Nguyên lý và kết cấu
Thiết bị phân tích khí xả sử dụng tia hồng ngoại đưa vào tính chất hấp thu
ánh sáng của các chất khí khi có tia hồng ngoại chiếu qua Tuỳ theo kết cấu, thiết
bị có thể cho phép xác định được một hoặc nhiều thành phần khí khác nhau ví dụ
CO hoặc CO/HC/CO2
Các bộ phận chính của thiết bị gồm:
Bộ phát tia hồng ngoại, buồng chứa khí chuẩn, buồng chứa khí xả, bộ cảm
ứng, bộ vi xử lý và bộ hiển thị
Với nhiệt độ sợi đốt khoảng 700 0C, bộ phát tia phát ra tia hồng ngoại chiếu
qua các buồng chứa khí tới bộ cảm ứng Trong buồng chứa khí chuẩn, người ta nạp
đầy loại khí không có tính chất hấp thụ ánh sáng với tia hồng ngoại, ví vụ Nitơ Do
tính chất hấp thụ tia hồng ngoaiï, thành phần khí có trong các buồng chứa khí xả sẽ
làm thay đổi tính chất của các tia chiếu qua đó so với các tia chiếu qua buồng khí
chuẩn Khi đĩa 2 quay với vận tốc đều, các lỗ trên đĩa sẽ làm cho tia chiếu tới bộ
cảm ứng biến đổi tuần hoàn, làm thay đổi áp suất và nhiệt độ trong hai khoang
chứa khí của bộ cảm ứng Tuỳ thuộc vào mức biến đổi, màn ngăn giữa hai khoang
biến dạng nhiều hay ít Các tín hiệu từ bộ cảm ứng được sinh ra do sự biến dạng
của màn ngăn được truyền về bộ vi xử lý và chuyển thành các giá trị tương ứng
trên bộ hiển thị
Trang 5Sơ đồ nguyên lý thiết bị đo khí xả dùng tia hồng ngoại
4.3.6.4 Thiết bị phân tích khí xả HERMANN
Thiết bị phân tích khí xả MHC 222 của hãng HERMENN CHLB Đức là loại
thiết bị hiện nay đang được sử dụng rộng rãi ở các trạm đăng kiểm phương tiện cơ
giới đường bộ
MHC 222 là thiết bị để đo các thành phần khí xả từ các động cơ xăng, chúng
gồm: Carbon monoxide: CO; Carbon dioxide: CO2; Hydro carbon: HC; Oxygen:O2’
MHC 222 cũng được dùng để đo hệ số dư lượng không khí, tốc độ quay của động
cơ, góc đánh lửa sớm, nhiệt độ dầu…
Trang 6CHƯƠNG 5: ỨNG DỤNG CÁC THIẾT BỊ (BĂNG THỬ CD 48)
ĐỂ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ÔTÔ
5.1 Giới thiệu tổng quan về băng thử động cơ ôtô
5.1.1 Chức năng của băng thử
Băng thử CD 48” cĩ thể thực hiện thử nghiệm ơ tơ với các chức năng sau:
− Đo tính năng động lực học ơ tơ (lực kéo, cơng suất, mơ men, khả năng tăng
tốc, vận tốc cực đại, …)
− Đo và mơ phỏng lực quán tính và lực cản mặt đường
− Đo suất tiêu hao nhiên liệu ơ tơ
− Đo khí thải
− Kiểm tra các đồng hồ chỉ thị trên xe
5 1.2 Thơng số kỹ thuật của bệ thử
− Khối lượng quán tính của xe mơ phỏn 450 – 5448 kg
− Tải trọng tối đa của cầu chủ động 4500kg
− Công suất hấp thụ cực đại: 150kW từ 92km/h 200km/h
− Khối lượng quán tính của 2 rulô: 1680kg
Trang 75.1.3 Sơ đồ hệ thống bệ thử
Máy tính điều khiển MMI
(Man-Machine-Interface)
Bộ điều khiển trung tâm
(RRR)
Bộ điều khiển từ xa
(Remote Control)
Máy điện AC (Dynamometer)
Cảm biến lực
(Load-cell)
& Mạch khuếch đại
Cảm biến tốc độ
(Encoder)
Bộ biến tần Phanh khí nén
RS232
RS232
Lực điện từ Tốc độ
Digita l
Chuỗi xung
5.1.4 Các thiết bị sử dụng trong bệ thử
1 Dynamometer:
Trang 8− Là một máy điện AC 3 pha, không đồng bộ, rotor lồng sóc, có thể hoạt
động như một động cơ hay một máy phát điện
− Rotor của máy gắn đồng trục với 2 con lăn
− Ở chế độ động cơ, rotor kéo 2 con lăn quay, công suất điện của máy
chuyển thành công suất cơ
− Ở chế độ máy phát, bánh xe kéo 2 con lăn quay từ đó kéo rotor quay,
công suất cơ của xe chuyển thành công suất điện của máy phát
− Máy điện AC có stator xoay được, stator xoay theo nguyên tắc cân bằng
moment điện từ (lực điện từ) trong máy điện Nhờ đó, có thể sử dụng một cảm biến
lực để đo lực điện từ của máy điện AC tạo ra
− Moment điện từ của máy được điều khiển bởi bộ biến tần
− Để giảm tổn hao do ma sát của ổ bi khi stator xoay, 2 ổ bi của stator được
xoay với vận tốc chậm
2 Con lăn:
− Đường kính 48”
− Gắn đồng trục với rotor của máy điện
AC
− Là bộ phận truyền công suất của xe cho máy điện AC và ngược lại
3 Bộ biến tần
− Nằm ở tầng trên của phòng thử phanh trong cabine công suất (Power Cabinet LRS)
− Điều khiển moment điện từ của dyno khi dyno là motor hay generator
− Được điều khiển trực tiếp bởi bộ điều khiển trung tâm RRR qua giao tiếp nối tiếp RS232
4 Load-cell & mạch khuếch đại:
− Đo lực do stator xoay tác động vào
− Tín hiệu từ load-cell sau khi qua bộ khuếch đại được chuyển thành tín hiệu số truyền về bộ điều khiển trung tâm RRR bằng chuẩn RS232
Trang 95 Encoder:
− Cảm biến đo tốc độ nối đồng trục với con lăn
− Encoder phát 10000 xung/vòng quay
− Có khả năng nhận biết chiều quay của con lăn
− Encoder truyền tín hiệu về bộ điều khiển trung tâm RRR Ngoài ra, encoder còn truyền tín hiệu về bộ biến tần để kích hoạt Quick Stop khi tốc độ vượt quá giới hạn cho phép
6 Phanh khí nén:
− Nằm ở mặt trong của 2 con lăn
− Phanh hãm cứng 2 con lăn khi có Emergency Stop, Quick Stop hay khi được yêu cầu
− Khí nén cần cung cấp có áp suất 4,5…10 bar
− Nếu áp suất khí nén không đủ, Quick Stop sẽ được kích hoạt và bệ thử không hoạt động được
− Phanh được điều khiển bởi bộ điều khiển trung tâm RRR qua cabin khí nén treo trên tường phòng thử
7 Bộ điều khiển từ xa:
− Sử dụng trong phòng thử
− Truyền lệnh cho bộ điều khiển trung tâm RRR và hiển thị giá trị đo
− Remote Control Unit kết nối với bộ điều khiển RRR bằng chuẩn RS232 qua hộp kết nối (Interface Box) treo trên tường phòng thử
Trang 108 MMI-PC:
− Máy tính điều khiển trong phòng điều khiển với chương trình Zưller
− Hiển thị các kết quả đo
− Nhập các thông số cần thiết (cho tiến trình thử, thông số của xe…)
− Truyền lệnh cho bộ điều khiển trung tâm RRR
− Điều khiển bệ thử với nhiều chức năng đã định
− Zưller là một chương trình độc lập, có khả năng lưu trữ dữ liệu để sau đó
xử lý bằng Excel
9 Bộ điều khiển trung tâm RRR:
− Nằm trong cabin điều khiển trung tâm ZSS ở tầng trên của phòng thử
phanh
− Là bộ điều khiển chính của phòng thử MMI-PC và Remote Control Unit
chỉ có chức năng truyền lệnh yêu cầu chứ không thể điều khiển trực tiếp các thiết
bị
− Điều khiển trực tiếp tất cả các thiết bị của bệ thử CD 48”
− Giám sát hoạt động của tất cả các thiết bị của bệ thử CD 48”
− RRR còn truyền tín hiệu tốc độ, lực kéo, công suất cho hệ thống thu thập
dữ liệu PUMA để thuận tiện trong việc xử lý, báo cáo, lưu trữ Tín hiệu truyền là
tín hệu analog, được đưa vào hệ thống PUMA bằng FEM-A
Điềm cần chú ý:
Tại một thời điểm, chỉ có một bộ điều khiển gởi lệnh đến cho RRR (Remote Control Unit hay MMI-PC)
Bộ điều khiển nào muốn gởi lệnh đến RRR, bộ đó phải giữ kênh điều khiển (command channel)
Khi bộ điều khiển khác muốn giữ command channel, bộ điều khiển đang giữ command channel phải trả lại quyền giữ command channel
10 Ngoài các thiết bị đã nêu (standard), bệ thử CD 48” còn có một số thiết bị
hỗ trợ (option):
10.a Bộ giữ cầu xe bị động (holding device) gồm 2 bộ giữ cầu xe và 2 bộ
cable giữ đầu xe không bị trượt ngang khi đang chạy trên bệ thử
10.b Bốn tấm che giúp cân chỉnh xe được thẳng (centering device) và che
bệ thử để đảm bảo an toàn khi vận hành bệ thử không có xe Được điều khiển trực
tiếp bởi RRR