1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc

10 698 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ cấu gài số và cơ cấu an toàn của HSC
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ thuật Ô tô
Thể loại giáo trình
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi gài số người lái cũng tác động vào tay gài số, đầu dưới tay gài số đẩy các trục trượt gài số cùng các nỉa gài số dịch chuyển kéo theo sự dịch chuyển của bộ hòa đồng tốc, trước tiên b

Trang 1

số được rút ngắn và việc chuyển số được êm dịu, không gây ra va chạm giữ bộ phận gài số (bộ hòa đồng tốc) với bánh răng được gài (xem sơ đồ hình 3-2)

Khi gài số người lái cũng tác động vào tay gài số, đầu dưới tay gài số đẩy các trục trượt gài số cùng các nỉa gài số dịch chuyển kéo theo sự dịch chuyển của bộ hòa đồng tốc, trước tiên bề mặt ma sát của bộ hòa đồng tốc tiếp xúc với bề mặt nón của bánh răng được gài, kéo nó quay đồng tốc với trục gài số cho đến khi tốc độ hai phần tử tương đương nhau, vành răng ngoài của bánh răng sẽ vào ăn khớp với vành răng trong của bộ hòa đồng tốc, quá trình truyền mômen bắt đầu thực hiện

+ Cơ cấu điều khiển hộp số thông qua cần nối

Trên một số ôtô con, ôtô du lịch khi bố trí động cơ và hộp số cách xa ghế ngồi của người lái (động cơ lắp trên cầu sau chẳng hạn), việc điều khiển hộp số thường sử dụng cơ cấu điều khiển gián tiếp thông qua cần nối Có hai dạng điển hình sau:

- Cần số lắp trên trục tay lái của xe, ví dụ như trên xe CHEVROLET (hình 3- 4), ở

loại này cơ cấu điều khiển gồm cần số, đòn quay nằm trong ống trụ tay lái, các đòn nối, thanh gạt trục trượt gài số và nỉa gài số

- Cần gài số nối với dây cáp kéo

Trên hình 3-5 trình bày cơ cấu điều

khiển hộp số mà vị trí hộp số đặt xa người

lái, ví dụ trên xe HONDA Đầu dưới của

cần số liên kết với các tay đòn, đầu của các

tay đòn này nối bằng cáp tới trục trượt gài

số của hộp số Cấu tạo các loại đòn nối rất

đa dạng, phụ thuộc vào các hãng sản xuất,

nhưng khi lắp ráp các cơ cấu này cần thiết

phải điều chỉnh chiều dài đòn nối hay cáp

kéo sao cho: Vị trí cần số tương ứng với vị

trí ăn khớp hết bề rộng của các bánh răng

trong hộp số

3.3.3 Cơ cấu gài số và cơ cấu an

toàn của HSC

+ Cơ cấu gài số

Hình 3-5 Cơ cấu điều khiển chuyển số

xe HONDA

Cơ cấu gài số của hộp số cơ học

(hình 3-6 a) thường gồm các trục trượt gài

số 12 và 9 (trục gài số lùi) Trên các trục

này có cấu tạo đặc biệt, ở phía trên của

trục có cắt ba mặt cắt dạng nón, các mặt này tỳ vào cơ cấu khóa số như ở hình 3-6 b Các trục trượt gài số được dịch chuyển ở ba vị trí tương ứng là các vị trí: Trung gian (giữa) và hai vị trí gài số khác nhau Ở một đầu của trục 12 có làm các cửa sổ A (hình 3-6 a) hình chữ U, ở vị trí trung gian các cửa sổ này nằm thẳng hàng ngang với nhau Trên các trục trượt gài số được bắt chặt các nỉa gài số 6, 8,10… bằng bu lông Đầu dạng càng cua của các trục này ôm vào khe của các bánh răng di động (hoặc vào khe của bộ hòa đồng tốc) Ở mặt phẳng ngang giữa hai trục trượt gài số có lắp cơ cấu tránh gài hai số một lúc dạng chốt trụ

+ Cơ cấu khóa số

Cơ cấu này thường dùng trên máy kéo, nó gồm trục khóa số 1 (hình 3-6 b, c) có một mặt vát A, trục khóa số liên hệ với tay đòn và thanh kéo với bàn đạp ly hợp Khi ly hợp ở

Trang 2

trạng thái đóng, phần hình trụ của trục khóa số tỳ lên chốt định vị 2, đẩy cho mặt hình côn của chốt 2 ép vào một trong ba mặt cắt hình nón trên trục trượt gài số Muốn vào và ra số, người lái phải tác động lên bàn đạp ly hợp, cắt ly hợp hoàn toàn, khi đó trục khóa số xoay làm cho mặt vát A quay xuống dưới, khi đó chốt 2 giải phóng trục trượt 3, các trục trượt gài số mới có thể dịch chuyển được

Hình 3-6 Cơ cấu gài số a); Cơ cấu khóa số b, c)

- Cơ cấu tránh vào hai số một lúc

Hình 3-7 Cơ cấu tránh gài hai số một lúc: E- Trục trượt gài số; H- đầu dưới cần

gài số; G- lò xo định vị trong cốc định vị; S- khóa hãm dạng chốt

Để bảo đảm không thể cùng một lúc đẩy cả hai trục trượt gài số dịch chuyển đồng thời, như vậy có thể dẫn đến một lúc gài đồng thời hai số truyền nào đó, ở hộp số cơ học ăn khớp bánh răng, việc gài hai số một lúc sẽ dẫn đến hư hỏng hộp số Cơ cấu tránh gài hai số một lúc gồm có chốt trụ S đặt giữa hai trục trượt gài số (hình 3-7), khi các trục trượt gài số nằm ở vị trí trung gian (số không), hai lỗ khoan trên trục trượt phân bố đối diện nhau, chiều dài của chốt S bằng khoảng cách giữa hai mép trục trượt cộng với chiều sâu của một lỗ trên trục trượt gài số, vì vậy chỉ ở vị trí này, ta mới có thể dịch chuyển một trục trượt gài số về phía này hoặc phía kia Khi trục trượt gài số đã được đẩy đến đúng vị trí để các bánh răng của một số nào đó được gài ăn khớp hoàn toàn (trên hình vẽ là gài số 1) khi đó lò xo định vị của cốc định vị G sẽ nằm vào lỗ định vị trên hai trục, lúc này trục gài số 1 và số 2 ở một vị trí mà phần trục tròn của nó tỳ vào chốt trụ S, đầu kia của chốt trụ nằm vào lỗ của trục trượt gài số 3

và 4, trục trượt gài các số 3 và 4 này không thể dịch chuyển được, trừ khi người lái tác động

Trang 3

- Cơ cấu tránh gài số lùi

Trên cơ cấu gài số của ôtô còn trang bị một cơ cấu để tránh gài số lùi khi không muốn Người ta lắp vào phía trên trục trượt gài số lùi một tấm hãm 2 (hình 3-8) liên kết với một thân bên trong có lò xo 1, chốt tỳ 3 một đầu tựa vào lò xo, đầu kia nhô khỏi thân Khi muốn gài số lùi đầu dưới của cần gài số sẽ tỳ vào đầu chốt 3, muốn đưa đầu dưới của trục gài số vào rãnh gài số của trục số lùi, người lái phải đẩy tay gài số với một lực lớn hơn bình thường, nhờ đó sẽ tránh vào số lùi khi ta không muốn

Ở một số loại xe khác ví dụ trên các xe

con của hãng PEUGOEOT trục gài số lùi đặt thấp

hơn các trục gài số tiến một khoảng theo chiều

cao, khi muốn gài số lùi ta phải ấn vào đầu tay gài

số suống phía dưới, thì đầu dưới của nó mới với

tới được rãnh của trục gài số lùi

- Bộ hoà đồng tốc

Hình 3-8 Cơ cấu tránh vào số lùi:

1-Lò xo, 2-Tấm hãm, 3-Chốt tỳ

Bộ hòa đồng tốc được sử dụng trên tất cả

các hộp số ôtô điều khiển bằng tay và cả ở các

máy khác mà cần sang số khi xe đang chuyển

động Có nhiều kiểu hòa đồng tốc khác nhau, phổ

biến nhất hiện nay là bộ hòa đồng tốc kiểu tấm

trượt và bộ hòa đồng tốc kiểu bi hãm Tất cả các

bộ hòa đồng tốc đều thực hiện chức năng chung là

giúp cài các bánh răng nhờ làm đồng tốc độ của

bánh răng được gài và trục gài trước khi thực hiện việc kết nối chúng

Nguyên lý làm việc của các bộ hòa đồng tốc đều dùng lực ma sát sinh ra giữa các mặt nón của bộ hòa đồng tốc và của bánh răng được gài

Hình 3-9 Bộ hòa đồng tốc kiểu tấm trượt

Cấu tạo và làm việc của bộ hòa đồng tốc kiểu tấm trượt

Bộ hòa đồng tốc kiểu tấm trượt (hình 3-9) gồm có hai vòng chặn ở hai đầu, hai vòng khóa lò xo, moayơ, các tấm trượt và ống trượt ngoài dùng để gài Moayơ được lắp then hoa với trục chủ động, còn ống trượt ngoài được lắp lồng bên ngoài moayơ và chúng ăn khớp dạng răng với nhau, hai vòng khóa giữ cho các tấm trượt luôn tỳ vào mặt trong của ống trượt

Trang 4

ngoài Mặt trong của vòng chặn có hình nón và có thể tiếp xúc với mặt nón trên vai của các bánh răng được gài (hình 3-10) Các bề mặt nón này khi tiếp xúc với nhau tạo nên mômen ma sát kéo cho bánh răng được gài quay cùng tốc độ với moayơ và trục bộ gài đồng tốc

Hình 3-10 Quá trình gài số nhờ bộ hòa đồng tốc:

a) Khi chưa gài; b) Đang làm đồng tốc

Hình 3- 11 Bộ hòa đồng tốc đã gài xong số

Hoạt động của bộ gài như sau: Ở số không, bộ hòa đồng tốc nằm ở giữa hai bánh răng được gài như trình bày trên h 3-10 a Khi cần gài số, ống trượt ngoài được nỉa gài số đẩy về phía bánh răng được chọn, đẩy vòng chặn qua phải Vòng này tiếp xúc với vai của bánh răng được gài Do tốc độ của trục và

của bánh răng khác nhau nên

trên hai bề mặt ma sát xảy ra

trượt tương đối với nhau, ở đây

xuất hiện sự "san đều" tốc độ

giữa trục và bánh răng Quá

trình san đều tốc độ này phụ

thuộc vào sự sai lệch tốc độ

giữa trục, bánh răng gài số và

quán tính chuyển động của ôtô

tại thời điểm chuyển số, đồng

thời tạo nên phản lực dọc trục

tại bề mặt côn giữa bánh răng

và vành răng trong của ống

trượt gài, không cho phép ống

trượt gài dịch chuyển tiếp

Quá trình trượt xảy ra cho đến khi tốc độ giữa chúng được san đều bằng nhau Khi đó, lực dọc trục nói trên giảm nhỏ dần (hình 3-10 b), ống trượt ngoài vẫn ở trạng thái bị đẩy tiếp

do tác dụng của lực ép cần số từ tay người lái, lúc này các tấm trượt ép vòng khóa lại, ống trượt ngoài dịch chuyển tiếp, gài cả hai vành răng của vòng chặn và của bánh răng được gài với nhau, Quá trình gài số hoàn thành êm dịu (hình 3-11)

Bộ hòa đồng tốc kiểu bi hãm

Bộ hòa đồng tốc kiểu bi hãm cũng tương tự như bộ hòa đồng tốc kiểu tấm trượt nhưng cấu tạo đơn giản hơn (hình 3-12)

Trang 5

Moayơ 11 lắp then hoa với trục truyền lực 1 Ống trượt ngoài được lắp then hoa với moayơ và được định vị bằng lò xo và bi hãm 12 Các lò xo và bi hãm được bố trí hướng tâm xung quanh moayơ Hoạt động của bộ hòa đồng tốc cũng tương tự như loại có tấm trượt

Khi chuyển số người lái tác động lực ép lên cần gài số, qua cơ cấu gài số, nỉa gài số đẩy cần gạt 4 và ống trượt ngoài về phía bánh răng được gài (hình 3-12 a) Mặt nón ma sát 3 của moayơ 11 tiếp xúc với với mặt nón ma sát 9 của bánh răng được gài, làm tăng hoặc giảm tốc độ của bánh răng này bằng với tốc độ của bộ hòa đồng tốc

Do có sự khác nhau về tốc độ giữa hai mặt tiếp xúc nên hình thành phản lực dọc trục, không cho ống trượt ngoài đi vào tiếp, lực căng của lò xo giữ cho viên bi 12 nằm ở rãnh giữa của ống trượt ngoài Cùng với việc làm đồng đều tốc độ giữa bánh răng và bộ hòa đồng tốc, phản lực dọc trục giảm dần, lực ép từ tay người lái

thông qua cơ cấu điều khiển đẩy cho ống trượt ngoài

dịch chuyển tiếp sang trái, ép các viên bi và lò xo

xuống, đồng thời răng bên trong ống trượt ngoài vào ăn

khớp với vành răng của bánh răng được gài, việc sang

số được hoàn thành

Hình 3-12 Bộ hòa đồng tốc kiểu bi hãm: a) Đang chuyển số; b) Chuyển số xong;

1-Trục vào (chủ động); 2- Trục ra; 3- Các mặt nón ma sát của moayơ bằng đồng; 5-Vị trí mặt nón đang tiếp xúc; 6, 10- Ống trượt ngoài; 7-Hai vành răng của bánh răng và

ống trượt ăn khớp với nhau; 8-Bánh răng được gài; 9-Mặt nón ma sát của bánh

răng; 11-Ống trong; 12-Bi định vị

Trong quá trình sử dụng ôtô, khi vào số mà

người lái tác động vào tay gài số với lực quá lớn, có thể

dẫn đến làm hư hỏng vòng khóa, cháy hoặc mòn nhanh

mặt nón ma sát Khi đó sự chuyển số sẽ không còn êm

dịu nữa

Hình 3-13 Quan hệ động học giữa hai cầu chủ động

3.4 Hộp phân phối của ôtô máy kéo (HPP)

3.4.1 Ý nghĩa và công dụng của hộp phân phối

Hộp phân phối được sử dụng trên các xe nhiều cầu chủ động Công dụng của nó dùng

để phân phối mômen từ động cơ đến các cầu xe Trong HPP còn có thể bố trí thêm một số số

truyền nhằm làm tăng lực chủ động của các bánh xe đồng thời làm tăng thêm số số truyền của

Trang 6

hộp số, nhờ tổ hợp số trong hộp số chính và hộp phân phối (trường hợp này coi như hộp số phụ hay bộ phân bội số đặt trong hộp phân phối)

Khi máy kéo và ôtô sử dụng tất cả các cầu là chủ động thì toàn bộ trọng lượng của máy được sử dụng làm trọng lượng bám, nhờ đó có thể khai thác hết công suất của động cơ, tuy nhiên khi sử dụng tất cả các cầu là chủ động, nếu không đảm bảo tính tương thích động

học giữa các cầu chủ động thì sẽ sinh ra hiện tượng tuần hoàn công suất (công suất ký sinh),

làm tăng hao mòn các chi tiết và giảm hiệu suất cơ học của hệ thống truyền lực

Tính không tương thích động học được đánh giá bằng hệ số không tương thích động học k =vt2 /vt1; Trong đó vt2 và vt1 là vận tốc lý thuyết tương ứng của trục bánh sau và trục

bánh trước Khi di chuyển trên đường do vận tốc thực tế của hai cầu phải bằng nhau do đó nếu gọi độ trượt tương ứng của cầu chủ động sau và trước là δ2 và δ1 ta có:

vt1( 1- δ1) = vt2( 1- δ2) ; Từ đó ta có: δ1 = 1-k( 1- δ2); ( 3-1)

Hình 3- 14 Hộp phân phối một cấp số truyền:

a) Dạng một cấp có khớp gài; b) Dạng một cấp có vi sai bánh răng nón; c)

Dạng một cấp có vi sai bánh răng trụ.

Theo công thức này ta có quan hệ động học

giữa hai cầu như trên hình 3-13 Từ hình vẽ ta thấy:

Nếu k =1 thì độ trượt của hai cầu luôn luôn bằng

nhau, tính chất kéo bám của hai cầu được sử dụng tốt

nhất, tuy nhên điều này rất khó thực hiện do nhiều

nguyên nhân, như công nghệ chế tạo, điều kiện sử

dụng Khi tồn tại sự không tương thích động học, giả

sử trong trường hợp ( k>1) thì chất lượng kéo bám

của máy hai cầu chỉ phát huy tác dụng khi δ2>1-1/k,

khi đó cả bánh trước và bánh sau đều trượt quay,

nếu δ2<1-1/k thì lúc này các bánh chủ động trước bị

trượt lê ( δ1<0) và cầu chủ động trước bị cầu chủ

động sau đẩy về phía trước, trong hệ thống truyền lực

bắt đầu phát sinh tuần hoàn công suất hay còn gọi là

công suất ký sinh

Hình 3-15 Các dạng HPP hai

cấp

Để tránh hiện tượng tuần hoàn công suất,

thường người ta đặt hộp vi sai giữa hai cầu chủ động

và gọi là vi sai cầu Ở trên một số máy kéo hai cầu

chủ động, để không sinh ra công suất ký sinh, người

ta dùng khớp ma sát hay còn gọi là khớp 1 chiều,

Trang 7

trị nhất định, nhờ vậy mà không cần dùng vi sai cầu Hộp phân phối thường lắp chung ngay trong hộp số chính hoặc lắp trong một thân riêng, trong trường hợp này, nối từ trục thứ cấp hộp số đến hộp phân phối thường thực hiện nhờ trục cacđăng nhằm tránh ảnh hưởng của sai lệch đường tâm trục

3.4.2 Phân loại HPP

HPP có thể được phân loại theo các dấu hiệu sau:

+ Theo cấp số truyền

+ HPP có một cấp số truyền (hình 3-14);

+ HPP có hai cấp số truyền (hình 3-15), trong đó thường có một cấp số truyền với tỷ

số truyền i 1 và một cấp số truyền Khi cần tăng lực kéo ta sử dụng số truyền có tỷ số truyền lớn hay còn gọi là số truyền thấp

+ Theo tỷ lệ phân chia mômen ra các cầu

- Tỷ lệ phân chia bằng 1: Loại này mômen truyền đến các cầu luôn bằng nhau, nó

thường sử dụng trên ôtô con

- Tỷ lệ phân chia khác 1: Loại này thường dùng trên các xe có tải trọng phân bố trên

các cầu khác nhau như máy kéo, ôtô vận tải Hộp phân phối thường sử dụng cơ cấu hành tinh kiểu bánh răng trụ hoặc bánh răng nón đối xứng hoặc không đối xứng

+ Theo dạng điều khiển nối một hay hai cầu

- HPP có cơ cấu điều khiển nối các cầu bằng tay;

- HPP điều khiển bằng điện từ;

- HPP điều khiển tự động

Ngoài ra người ta còn có thể phân chia HPP theo các dấu hiệu khác nữa

3.4.3 Hộp phân phối dùng khớp một chiều gài tự động trên ôtô máy kéo

Trên một số ôtô máy kéo hai cầu chủ động, để tránh hiện tượng tuần hoàn công suất khi xe máy chuyển động trên các đường tốt và đủ bám, hộp phân phối ở các xe này thường sử

dụng loại khớp ma sát hay còn gọi là khớp một chiều, tự động ngắt cầu trước ra khỏi HTTL

Cấu tạo của HPP kiểu này đơn giản, làm việc tin cậy và có khả năng tự động điều khiển

Một dạng cấu tạo hộp phân phối dùng khớp một chiều gài cầu trước chủ động được sử dụng trên máy kéo MTZ-52, MTZ-82 được trình bày trên hình 3-16 Cấu tạo hộp phân phối dùng khớp một chiều gồm các bộ phận chính sau: Trục 10 và moayơ 14 có then hoa với nhau, gọi là phần bị động Phần chủ động gồm vành răng 7 liên kết với bạc B, hai bộ phận chủ động

và bị động liên hệ với nhau qua các bi đũa 6 nằm trong các hốc có khe hở dạng nêm của bạc

B, các bi đũa này dưới tác dụng của lò xo 4 luôn có xu hướng bị đẩy ra vị trí rộng trong khe của bạc B Vành răng 7 nhận chuyển động và mômen từ bánh răng trung gian 2, bánh răng này ăn khớp với bánh răng trên trục thứ cấp hộp số Khi xe chuyển động ở bất kỳ số truyền nào, vành răng 7 và bạc B luôn quay đồng tốc với trục thứ cấp hộp số tức là với bánh chủ động sau của ôtô máy kéo

Làm việc của hộp phân phối như sau: Khi các bánh chủ động phía sau không bị trượt, hoặc trượt với mức độ nhỏ, vận tốc góc của vành răng 7 khi đó được tính toán nhỏ hơn vận tốc góc của moayơ 14 (ω2 <ω1), chú ý rằng trục 10 nối đến các bánh chủ động trước, lúc này đang quay với tốc độ truyền ngược từ bánh chủ động trước đến Khi đó các viên bi đũa 6 bị ép vào phần rãnh rộng trong bạc B, các lò xo 4 bị nén lại, giữa bạc B và moayơ không liên kết với nhau, mômen không được truyền đến cầu trước Máy kéo làm việc như máy kéo một cầu sau chủ động

Trang 8

Khi các bánh chủ động sau bị trượt vượt quá một giới hạn cho trước (khoảng 7÷8 %), khi đó vận tốc góc của vành răng 7 và bạc B trở nên lớn hơn vận tốc góc của moayơ 14 (ω2 >ω1), các bi đũa 6 dần dần bị đẩy ra phần rãnh hẹp của bạc dưới tác dụng của lực ma sát

và lò xo 4, lúc này hai phần chủ động và bị động được liên kết cứng với nhau, mômen được truyền từ trục thứ cấp hộp số qua hộp phân phối đến trục chủ động trước, máy kéo làm việc với hai cầu chủ động

Như vậy việc gài và cắt cầu trước của các loại máy kéo này được thực hiện tự động phụ thuộc vào mức độ trượt của các bánh chủ động phía sau Ngoài ra trong hộp phân phối còn bố trí một cơ cấu cưỡng bức gài cầu trước khi cần thiết Để gài cưỡng bức cầu trước, người lái chỉ cần đạp vào bàn đạp điều khiển 17, qua cơ cấu diều khiển, khi đẩy bánh răng 9 vào ăn khớp với vành răng trong của bạc B, lúc này khớp một chiều bị khóa cứng, giữa phần chủ động và bị động liên kết cứng với nhau, Máy kéo luôn làm việc với hai cầu chủ động

Hình 3-16 Hộp phân phối của máy kéo MTZ-52, MTZ-82:

1-Bánh răng trên trục thứ cấp hộp số chính; 2-Bánh răng trung gian; 3-Trục trung gian; 4 -Lò xo; 5 -Chốt tỳ; 6-Bi đũa; 7-Bánh răng bị động; 8-Thân khớp một chiều; 9-Bánh răng khóa cưỡng bức khớp một chiều; 10-Trục hộp phân phối; 11- Nỉa gài; 12-Trục; 13,15, 17-Cơ cấu điều khiển gài cưỡng bức cầu trước; 14 Moayơ; 16 -Lò xo.

3.4.4 Nguyên lý kết cấu một số hộp phân phối dùng trên ôtô máy kéo

+ HPP của ôtô Ural 375

Xe ôtô Ural 375 là loại ôtô vận tải nặng với sơ đồ bánh 6X6, hộp phân phối là loại hai

số có vi sai bánh răng trụ Tỷ số truyền ở số truyền I là i1=1,07 và ở số truyền II là i2=2,13

Trang 9

(hình 3-17 a) Tỷ số mômen truyền đến cầu trước và tổng mômen cầu sau và cầu giữa được tính toán theo tỷ lệ trọng lượng phân bố lên cầu trước và tổng trọng lượng phân bố lên cầu sau

và cầu giữa Tỷ số mômen này được thực hiện nhờ tỷ số giữa số răng của bánh răng bán trục của trục 4 và vành răng trên bánh răng hình chậu của trục 3 Từ trục 3 mômen được truyền đến hộp phân phối thứ hai, hộp phân phối này có nhiệm vụ phân mômen cho cầu giữa và cầu sau Ở ôtô Ural 375 tỷ số mômen giữa cầu giữa và cầu sau là bằng 1, vì vậy hộp phân phối thứ hai sử dụng vi sai bánh răng nón đối xứng (trên hình vẽ không giới thiệu HPP thứ hai này)

Hình 3-17 Sơ đồ động học và nguyên lý cấu tạo HPP hai số truyền có

vi sai giữa các cầu: a) HPP xe UAZ 2121; b) HPP xe Ural 375;

1- Trục vào HPP; 2- Trục trung gian; 3- Trục dẫn động cầu sau; 4-Trục

dẫn động cầu trước; 5- Khóa vi sai giữa các cầu

Khi có sự xuất hiện sự trượt giữa các cầu, người lái có thể cưỡng bức khóa vi sai của hộp phân phối lại nhờ cơ cấu khóa cơ học, qua tay đòn 5 ta đẩy khớp răng cho vành răng trên thân bộ vi sai ăn khớp với bánh răng hình trụ trên trục 4, lúc này trục 4 được nối cứng với vỏ

vi sai, trục 3 và trục 4 quay cùng một tốc độ với vỏ vi sai

HPP của xe UAZ 2121 là hộp phân phối dùng vi sai bánh răng nón (h 3-17 b), mômen truyền đến cầu trước và cầu sau luôn bằng nhau Cơ cấu khóa vi sai giống của xe Ural 375

Bộ điều khiển trung tâm ECU 4WD

Đèn báo khóa

vi sai

Công tắc khóa

vi sai HPP

Cảm biến tốc độ

Công tắc báo

4WD Công tắc báo

Công tắc báo

Bộ khóa cầu sau

Bộ khóa cầu trước

Hình 3-18 Hệ thống truyền lực và sơ đồ hệ thống điều khiển điện tử HPP

Trang 10

+ HPP của xe ôtô TOYOTA LAND CRUISER 4WD

Trên các xe con thế hệ những năm gần đây, do công nghệ điện tử phát triển nhanh, các

bộ phận và hệ thống của xe đã được ứng dụng điều khiển điện và điện tử, vì vậy đã nâng cao tính năng kỹ thuật và sử dụng của xe máy Sơ đồ hệ thống truyền lực, hộp phân phối với điều khiển điện tử của xe được trình bày trên hình 3-18 HPP lắp sau hộp số chính, cầu trước và cầu sau được phân phối tỷ số mômen bằng nhau, nhờ cơ cấu vi sai cầu kiểu hành tinh nón đối xứng, Các vi sai trong truyền lực chính của các cầu cũng như trong hộp phân phối được giám sát và điều khiển nhờ các cảm biến và máy tính điện tử

Hộp phân phối của xe ôtô du lịch TOYOTA LAND CRUISER 4WD là loại có hai số truyền, ở số truyền cao H có tỷ

số truyền i=1; ở số truyền thấp

L có i=2,488 Cấu tạo của hộp

phân phối của loại xe này giới

thiệu trên hình 3-19 còn sơ đồ

động học được trình bày trên

hình 3-20

Ở hình 3-20 ta thấy,

trục chủ động 1 có bố trí thêm

một bánh răng trụ 3 để dẫn

động cho trục thu công suất,

khi trên xe có bố trí tời kéo

Hình 3-19 Cấu tạo HPP xe TOYOTA CRUSER 4WD

Trục trung gian 5 lắp

một bánh răng lớn 15 cố định

với trục và quay cùng trục, còn

bánh răng nhỏ 4 nằm phía sau

dùng để dẫn động trục thứ cấp,

nó được quay trơn trên trục

Bánh răng nhỏ được liên kết với trục nhờ khớp gài răng 14 Khi khớp gài nằm ở vị trí H, bánh răng nhỏ quay không tải Khi khớp gài nằm ở vị trí L, bánh răng nhỏ truyền tải đến bánh răng

6 của hộp vi sai Khớp gài được dẫn động nhờ một nỉa dạng càng cua kép nhằm thực hiện gài đồng thời số truyền trên trục trung gian và trục thứ cấp (xem sơ đồ động học hình 3-20)

Hình 3-20 Sơ đồ động học HPP xe ôtô TOYOTA LAND CRUSER 4W4:

1-Trục chủ động; 2-Bánh răng chủ động; 3-Bánh răng truyền động cho tời; 4, 15-Bánh răng trung gian nhỏ và lớn; 5-Trục trung gian; 6-Bánh răng gài số truyền nhỏ i>1; 7, 12-Trục ra cầu sau, cầu trước ( thứ cấp); 8-Vỏ vi sai; 10-Khớp gài đồng tốc; 11-Khớp răng khóa vi sai; 13-Bánh răng gài số trực tiếp i=1; 14-Khớp gài và nỉa gài

ba vị trí H, N, L;

Ngày đăng: 27/01/2014, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3-7. Cơ cấu tránh gài hai số một lúc: E- Trục trượt gài số; H- đầu dưới cần - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 7. Cơ cấu tránh gài hai số một lúc: E- Trục trượt gài số; H- đầu dưới cần (Trang 2)
Hình 3-6. Cơ cấu gài số a); Cơ cấu khóa số b, c) - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 6. Cơ cấu gài số a); Cơ cấu khóa số b, c) (Trang 2)
Hình 3-9. Bộ hòa đồng tốc kiểu tấm trượt - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 9. Bộ hòa đồng tốc kiểu tấm trượt (Trang 3)
Hình 3-8. Cơ cấu tránh vào số lùi:  1-Lò xo, 2-Tấm hãm, 3-Chốt tỳ. - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 8. Cơ cấu tránh vào số lùi: 1-Lò xo, 2-Tấm hãm, 3-Chốt tỳ (Trang 3)
Hình 3-10. Quá trình gài số nhờ bộ hòa đồng tốc: - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 10. Quá trình gài số nhờ bộ hòa đồng tốc: (Trang 4)
Hình 3- 11. Bộ hòa đồng tốc đã gài xong số - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 11. Bộ hòa đồng tốc đã gài xong số (Trang 4)
Hình 3-12. Bộ hòa đồng tốc kiểu bi hãm: a) Đang chuyển số; b) Chuyển số xong;  1-Trục vào (chủ động); 2- Trục ra; 3- Các mặt nón ma sát của moayơ bằng đồng; 5-Vị  trí mặt nón đang tiếp xúc; 6, 10- Ống trượt ngoài; 7-Hai vành răng của bánh răng và  ống trư - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 12. Bộ hòa đồng tốc kiểu bi hãm: a) Đang chuyển số; b) Chuyển số xong; 1-Trục vào (chủ động); 2- Trục ra; 3- Các mặt nón ma sát của moayơ bằng đồng; 5-Vị trí mặt nón đang tiếp xúc; 6, 10- Ống trượt ngoài; 7-Hai vành răng của bánh răng và ống trư (Trang 5)
Hình 3-13. Quan hệ động học   giữa hai cầu chủ động - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 13. Quan hệ động học giữa hai cầu chủ động (Trang 5)
Hình 3- 14. Hộp phân phối một cấp số truyền: - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 14. Hộp phân phối một cấp số truyền: (Trang 6)
Hình 3-16. Hộp phân phối của máy kéo MTZ-52, MTZ-82: - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 16. Hộp phân phối của máy kéo MTZ-52, MTZ-82: (Trang 8)
Hình 3-17. Sơ đồ động học và nguyên lý cấu tạo HPP  hai số truyền có - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 17. Sơ đồ động học và nguyên lý cấu tạo HPP hai số truyền có (Trang 9)
Hình 3-18. Hệ thống truyền lực và sơ đồ  hệ thống điều khiển điện tử HPP - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 18. Hệ thống truyền lực và sơ đồ hệ thống điều khiển điện tử HPP (Trang 9)
Hình 3-19. Cấu tạo HPP xe TOYOTA CRUSER 4WD - Tài liệu Ô tô máy kéo và xe chuyên dụng P2 doc
Hình 3 19. Cấu tạo HPP xe TOYOTA CRUSER 4WD (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w