BÀI TẬP CUỐI KỲ MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH tài liệu BÀI TẬP CUỐI KỲ MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Trang 1VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
BÀI TẬP CUỐI KỲ MÔN: LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Chủ đề 4: Anh/chị hãy bình luận các quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án
hành chính trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015? Qua đó, hãy đưa ra một
số kiến nghị để đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ
án hành chính trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015
Họ và tên sinh viên: Lý Thị Hằng
Lào Cai, 06/2021
Trang 2MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ 1
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I Cơ sở lý luận 2
1 Khái niệm thuật ngữ liên quan 2
II Quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính trong Luật TTHC 2015 2
1 Thời hiệu khởi kiện 2
2 Xác định thời điểm tính thời hiệu khởi kiện 5
3 Ngày gửi đơn khởi kiện 10
4 Thời hiệu khởi kiện có là căn cứ thụ lý đơn khởi kiện vụ án hành chính? 11
III Kiến nghị để đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015 12
C KẾT LUẬN 14
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 41
A ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực tế đời sống gặp rất nhiều các vấn đề liên quan đến các quyết định hành chính, hành vi hành chính như quyết định thu hồi đất, quyết định giải quyết vấn đề khiếu nại, hành vi tháo dỡ nhà, Nếu người dân không đồng ý với các quyết định hành chính, hành vi hành chính đã được ban hành và cho rằng quyết định, hành vi đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ thì có thể khiếu nại hoặc khởi kiện các quyết định, hành vi đó Mặc dù “dân kiện quan” có vẻ người dân sẽ có nhiều bất lợi và thậm chí không được giải quyết, tuy vậy pháp luật ban hành những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của người dân, đảm bảo việc xử lý đơn khiếu nại, khởi kiện của người dân khách quan Trên thực tế, nếu có sự xung đột lợi ích giữa dân và quan thì hầu hết người dân chọn con đường giải quyết tranh chấp là gửi đơn khởi kiện lên Tòa bởi rất ít đơn khiếu nại được giải quyết hoặc giải quyết không khách quan Quá trình khởi kiện chắc chắn phần lớn người dân đặc biệt là người dân miền núi, vùng sâu vùng
xa không để ý đến thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính dẫn đến việc nộp đơn khởi kiện đã quá thời hiệu khởi kiện, điều đó đồng nghĩa với việc họ mất quyền khởi kiện Vậy quy định của pháp luật như thế nào về thời hiệu khởi kiện, quá thời hiệu khởi kiện
có được khởi kiện hay không? Với những thắc mắc trên tôi quyết định lựa chọn chủ đề
tiểu luận: “Anh/chị hãy bình luận các quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015? Qua đó, hãy đưa ra một số kiến nghị để đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015.”
Trang 5
2
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lý luận
1 Khái niệm thuật ngữ liên quan
Vụ án hành chính là vụ án phát sinh giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc,… do cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền ban hành
Quyết định hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật TTHC năm 2015
là: “Văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.”
Hành vi hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật TTHC 2015 quy định:
“Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.”
Quyết định kỷ luật buộc thôi việc theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật TTHC
2015 quy định: “Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình.”
Thời hiệu khởi kiện theo khoản 1 Điều 116 Luật TTHC 2015: “là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”
II Quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính trong Luật TTHC
2015
Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính quy định tại Điều 116 Luật TTHC 2015, theo đó thời hiệu khởi kiện ban hành nhằm đảm bảo quyền lợi của cá nhân, tổ chức, xã hội, đảm bảo việc xử lý vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật
1 Thời hiệu khởi kiện
Theo Điều 116 Luật TTHC 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện đối với từng đối tượng khởi kiện cụ thể:
Trang 63
- 1 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
- 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử
lý cạnh tranh;
- Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày
- 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;
- 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật
mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại;
- Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính đối với chủ thể trước đó không lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp theo con đường khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện xác định theo khoản 1,2 Điều 116 [1]
Đối với chủ thể trước đó đã tiến hành giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định tại khoản 3 Điều 116 Đây là điểm mới của Luật TTHC 2015 mới so với năm 2010 có bổ sung đối với trường hợp khi đương sự có khiếu nại đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và muốn giải quyết tiếp tục theo con đường Tòa án Theo quy định về thời hiệu khởi kiện theo Điều 104 Luật TTHC
2010 chỉ đưa ra quy định về thời hiệu khởi kiện chung mà không có quy định cụ thể đối với trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn khiếu nại trước đó Như vậy nếu
cơ quan, tổ chức, cá nhân lựa chọn việc khiếu nại để giải quyết tranh chấp nhưng phải chờ đợi trong thời gian dài vẫn không được giải quyết hoặc đã giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại và đã hết thời hiệu khởi kiện theo Điều 104 Luật TTHC năm 2010 thì họ sẽ mất quyền khởi kiện Luật TTHC năm 2015 bổ sung thêm quy định tại khoản 3 đã khắc phục những bất cập trong việc xác định thời hiệu khởi
Trang 74
kiện Thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp đã gửi đơn khiếu nại trước đó và muốn thực hiện việc giải quyết theo thủ tục tố tụng xác định như sau:
Thời hiệu khởi kiện là 1 năm với khiếu nại đã được giải quyết, khiếu nại chưa được giải quyết nhưng đã hết thời hạn giải quyết khiếu nại Thời hạn giải quyết khiếu nại theo Luật Khiếu nại năm 2011 quy định tại Điều 28 về thời hạn khiếu nại lần đầu:
“Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với
vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày,
kể từ ngày thụ lý; Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết
có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.”
Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai quy định tại Điều 37 Luật Khiếu nại năm
2011: “Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý.”
Đối với quy định tại khoản 4 Điều 116: “Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện.” Theo
hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP hướng dẫn về trường hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan tại khoản 2 Điều 12 như sau:
“a) Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan như thiên tai, địch họa, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc do lỗi của cơ quan nhà nước làm cho chủ thể
có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu khởi kiện;
b) Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; c) Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết.”
Trang 85
Như các trường hợp như trên gây ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền khởi kiện
sẽ không tính vào thời hiệu khởi kiện Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của người bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp, xuất phát từ nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Luật TTHC , quy định tạo điều kiện tốt nhất cho cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu giải quyết vụ án hành chính [2] Ví dụ: Ngày 28/4/2017 ông A nhận được Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 10/11/2016 của
Ủy ban nhân dân huyện B về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tuy nhiên, ngày 30/8/2017 xảy ra bão lũ to gây đường xá ngập lụt khiến nhà ông A bị cô lập không thể di chuyển đến Tòa án để tiến hành khởi kiện Quyết định số 21/QĐ-UBND, cho đến ngày 10/9/2017 đường xá được khơi thông, di chuyển bình thường Như vậy trong thời gian từ 30/8/2017 đến ngày 10/9/2017 được coi là trở ngại khách quan và thời gian này không tính vào thời hiệu khởi kiện
Cách xác định thời hạn, thời hiệu trong luật TTHC năm 2015 được áp dụng theo Chương X Bộ luật dân sự năm 2015
2 Xác định thời điểm tính thời hiệu khởi kiện
Một trong những nguyên nhân khiến việc xác định thời hiệu khởi kiện trong vụ
án hành chính có những sai sót đó là xác định thời điểm tính thời hiệu khởi kiện không đúng dẫn đến quyền lợi của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng
Theo Điều 116 Luật TTHC 2015 thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai Đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì thời điểm tính thời hiệu khởi kiện kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại đó Khiếu kiện là thông báo giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri thì thời điểm tính thời hiệu khởi kiện là ngày nhận được thông báo hoặc nếu không nhận được thông báo thì thời điểm tính thời hiệu khởi kiện là ngày kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại [2]
Đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định lập danh sách cử tri bầu
cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nếu không đồng ý với quyết định trên, cơ quan, tổ chức, cá nhân không thể khởi kiện các quyết định này mà buộc phải khiếu nại các quyết định trên, sau đó mới tiến hành khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại nếu không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại Đối với quyết định
Trang 96
giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, thì trong thời hạn 30 ngày
từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện [2] Tuy nhiên nếu hết hạn giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà vẫn chưa nhận được quyết định giải quyết khiếu nại thì làm thế nào
để bảo vệ quyền lợi của người khiếu nại khi cơ quan có thẩm quyền không giải quyết khiếu nại? Vấn đề này chưa được pháp luật điều chỉnh vì vậy sẽ là “lỗ hổng” khiến quyền lợi của cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa được bảo vệ tối đa Đối với khiếu kiện liên quan đến quyết định lập danh sách cử tri thì thời điểm tính thời hiệu khởi kiện là ngày nhận thông báo giải quyết khiếu nại về quyết định lập danh sách cử tri Trong trường hợp không nhận được thông báo thì thời điểm tính thời hiệu khởi kiện là ngày kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại và thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày hết hạn giải quyết khiếu nại đến trước 5 ngày của ngày bầu cử [2] Ví dụ ngày bầu cử là ngày 23/5/2021, khi đó danh sách cử tri phải được niêm yết chậm nhất vào ngày 13/4/2021 (40 ngày trước ngày bầu cử) Ông A nhận thấy trong danh sách cử tri không có trên mình mặc dù đầy đủ năng lực hành vi và đủ tuổi bầu cử, vì vậy ngày 20/4/2021 ông A gửi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã K để khiếu nại về quyết định lập danh sách
cử tri của xã Tuy nhiên đến ngày 25/4/2021 (5 ngày từ ngày nhận khiếu nại) ông A không nhận được thông báo giải quyết khiếu nại, vì vậy ông A có quyền gửi đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân huyện Như vậy thời điểm tính thời hiệu khởi kiện là ngày hết hạn giải quyết khiếu nại, tức ngày 25/4/2021 Và thời hiệu khởi kiện tính từ ngày /4/2021 đến 18/5/2021 (5 ngày trước ngày bầu cử)
Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày “nhận được hoặc biết được” quyết định, cần làm rõ về cách xác định ngày nhận được, ngày biết được các đổi tượng khởi kiện này Theo Điều 12 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính giải thích về cách tính thời điểm tính thời hiệu khởi kiện cụ thể:
i Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và họ là đối tượng được nhận quyết định thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày họ nhận được quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc (được cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi
Trang 107
việc giao trực tiếp, được nhận qua nhân viên bưu điện, qua chính quyền địa phương hoặc những người khác theo quy định của pháp luật)
Đối với trường hợp này cơ quan, tổ chức, cá nhân là người chịu tác động trực tiếp từ các quyết định hành chính Vì thế họ sẽ trực tiếp được nhận các quyết định thông qua nhân viên bưu điện, chính quyền địa phương, người khác có liên quan
Ví dụ: Ngày 18/05/2016, ông H nhận được Quyết định số: 193/QĐ-TTr của Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường về việc xử phạt vi phạm hành chính do ông H
xả thải ra sông gây ô nhiễm môi trường nước Như vậy thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên là ngày ông H nhận được quyết định hành chính, cụ thể là ngày 18/05/2017
ii Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không phải là đối tượng bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và họ không phải là đối tượng được nhận quyết định và thực tế là họ không nhận được quyết định đó thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày
họ biết được quyết định đó
Trong trường hợp này cơ quan, tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng quyền lợi tuy nhiên lại không phải là đối tượng bị tác động trực tiếp và không được nhận quyết định hành chính trên thực tế
Ví dụ: Ngày 28/4/2017 ông A nhận được Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 10/11/2016 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ngày 19/10/2018 ông B tiến hành xây dựng nhà ở trên phần đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lúc này ông N mới nhận thấy ông A đã xây dựng trên
cả phần đất thuộc sở hữu của ông N, sau khi ông A cho ông N xem sổ đỏ mới biết được Ủy ban nhân dân huyện B đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất không chính xác Vì vậy ông N hoàn toàn có quyền khởi kiện quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện B, trường hợp này thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày ông N biết được quyết định trên, tức ngày 19/10/2018
iii Trường hợp hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày hành vi hành chính đó được thực hiện (nếu cá nhân, cơ