1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam. TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TÂM LINH CỦA NGƯỜI VIỆT

22 37 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 294,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một hình thức tín ngưỡng dân gian có từ lâu đời, khá phổ biến ở hầu hết các dân tộc ở nước ta. Đây hình thức tín ngưỡng xuất phát từ việc đề cao vai trò và địa vị của người phụ nữ, có chức năng sáng tạo, bảo trợ và bảo vệ cuộc sống của con người. Tín ngưỡng thờ Mẫu có nhiều thăng trầm (có khi bị cấm đoán và bị coi là mê tín dị đoan) nhưng nó vẫn âm thầm tồn tại và phát triển, bất chấp mọi đe dọa, định kiến, đồn thổi của xã hội. Hiện nay, nó đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và được người dân cả nước ta thừa nhận và coi trọng. Tín ngưỡng thờ Mẫu là một hoạt động tín ngưỡng của địa phương, nó sản sinh và tích hợp nhiều giá trị văn hóa, nghệ thuật (văn học, diễn xướng dân gian, trang phục ...), đặc biệt là nâng cao vai trò, vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.

Trang 1

Ý NGHĨA CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TÂM LINH CỦA

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 Khái quát chung về tín ngưỡng thờ mẫu 2

1.1 Khái niệm 2

1.2 Nguồn gốc 2

2 Bản chất 4

3 Đối tượng thờ cúng 5

3.1 Thờ mẫu ở miền bắc 5

3.2 Thờ mẫu ở miền trung 6

3.3 Thờ Mẫu ở Miền Nam 6

4 Cơ sở thờ tự 7

5 Nghi lễ của tín ngưỡng thờ mẫu 8

6 Vai trò của tín ngưỡng thờ Mẫu trong đời sống tâm linh của người Việt 12

7 Ý nghĩa 16

KẾT LUẬN 18

Trang 3

MỞ ĐẦU

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một hình thức tín ngưỡng dân gian có từ lâu đời,khá phổ biến ở hầu hết các dân tộc ở nước ta Đây hình thức tín ngưỡng xuất phát

từ việc đề cao vai trò và địa vị của người phụ nữ, có chức năng sáng tạo, bảo trợ

và bảo vệ cuộc sống của con người Tín ngưỡng thờ Mẫu có nhiều thăng trầm (cókhi bị cấm đoán và bị coi là mê tín dị đoan) nhưng nó vẫn âm thầm tồn tại và pháttriển, bất chấp mọi đe dọa, định kiến, đồn thổi của xã hội Hiện nay, nó đang ngàycàng phát triển mạnh mẽ và được người dân cả nước ta thừa nhận và coi trọng.Tín ngưỡng thờ Mẫu là một hoạt động tín ngưỡng của địa phương, nó sản sinh vàtích hợp nhiều giá trị văn hóa, nghệ thuật (văn học, diễn xướng dân gian, trangphục ), đặc biệt là nâng cao vai trò, vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xãhội

Vì vậy em xin chọn đề tài “nguồn gốc, bản chất, đối tượng thờ cúng,

cơ sở thờ tự, nghi lễ của tín ngưỡng thờ mẫu,vai trò, ý nghĩa của tínngưỡng thờ mẫu đối với đời sống tâm linh của người Việt” Bài được vậndụng những kiến thức được học trong học phần tín ngưỡng và tôn giáo ở ViệtNam để tìm hiểu về tín ngưỡng thờ mẫu để chỉ ra vai trò, ý nghĩa của tín ngưỡngthờ mẫu đối với đời sống tâm linh của người Việt

Trang 4

vị trí quan trọng trong gia đình.

Đó là tập tục thờ các vị nữ thần có từ thời nguyên thuỷ đại diện cho thiênnhiên như mẹ Đất, mẹ Nước, mẹ Lúa… bởi trong quá trình mưu sinh tìm nguồnsống, con người luôn phải dựa vào thiên nhiên nên họ đã tôn thờ các hiện tượng

tự nhiên như đấng tối cao là Mẫu và thờ Mẫu, với mong muốn Mẫu sẽ bảo trợ

và che chở cho cuộc sống của họ Do đó, tín ngưỡng thờ Mẫu lúc này là sự tintưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị nữ thần được cho là có khảnăng siêu phàm, có thể điều khiển được các hiện tượng tự nhiên mang tính quyluật nhằm che chở cho sự sống của con người

1.2 Nguồn gốc

Tín ngưỡng thờ Mẫu bắt nguồn từ vai trò và vị trí hết sức to lớn của ngườiphụ nữ Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước Điều này lại được quyđịnh bởi 2 vấn đề chính đó là cơ sở kinh tế xã hội và lịch sử

- Cơ sở kinh tế - xã hội:

+ Nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng nhiệt đới gió mùa Đó

là nền kinh tế trọng âm, các khâu công việc trong trồng cấy lúa đều gắn liền vớingười phụ nữ Trong đồng áng, kỹ thuật canh tác qua nhiều công đoạn như cày,bừa, gieo, vãi, tỉa, cấy, trồng, gặt, đập, tháo nước, tát nước… luôn đòi hỏi sự tỉ

mỉ, khéo léo, chuyên cần Trong đó, phần nhiều đều có sự quán xuyến của ngườiphụ nữ Ngoài ra, việc buôn bán, giao thương hay các công việc thủ công khác

Trang 5

như đan lát, thêu thùa, trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải, chăn nuôi… đều cầnđến bàn tay và đầu óc khéo léo của nữ giới Theo đó, người phụ nữ đã góp phầnđáng kể vào việc sản xuất và phát triển kinh tế gia đình.

+ Đất - nước - cây lúa trở thành những biểu tượng thiêng liêng mang tính

nữ Người phụ nữ được khẳng định và coi trong ở nhiều phương diện: tạo lập vũtrụ (từ trong thần thoại, truyền thuyết: nữ thần Mặt trời, Mặt trăng, bà Nữ oa ) lànhững vị thần tự nhiên tạo mưa (Tứ pháp), Mẹ lúa, biểu tượng cho quê hương đấtnước (mẹ Âu Cơ, bà mẹ xứ sở Chăm ), sáng tạo ra các giá trị văn hóa (tổ sư, tổnghề)

- Cơ sở xã hội:

+ Chế độ mẫu hệ và mẫu quyền đã từng tồn tại ở nước ta để lại những tàn

dư rõ nét trên nhiều bình diện: huyền thoại, truyền thuyết, thờ cúng, pháp luật,quan hệ hôn nhân, gia đình, quan hệ làng xã

Có thể hiểu Chế độ mẫu hệ là dấu vết của mối quan hệ họ hàng qua dòng

nữ Nó cũng có thể tương quan với một hệ thống xã hội trong đó mỗi ngườiđược xác định bằng mẫu hệ – mẹ của họ - dòng dõi của bên mẹ - và có thể liênquan đến việc thừa kế tài sản và/hoặc quyền sở hữu Mẫu hệ là dòng dõi từ tổtiên nữ đến hậu duệ (thuộc giới tính), trong đó các cá nhân trong tất cả các thế

hệ can thiệp đều là mẹ, nói cách khác là "dòng mẹ" Trong một hệ thống dòngdõi mẫu hệ, một cá nhân được coi là thuộc cùng một nhóm gốc với mẹ của họ.Mẫu hệ trong lịch sử tầng lớp quý tộc còn gọi là tổ tiên cùng mẹ khác cha

(uterine), tương ứng với tổ tiên phụ hệ ("agnatic")

Còn chế độ mẫu quyền là một hình thái tổ chức xã hội mà trong đó người

mẹ hoặc người phụ nữ lớn tuổi nhất đứng đầu một gia đình hoặc gia tộc Cácmối liên hệ và hậu duệ được xác định qua dòng nữ, cũng như việc quản trị haycai trị do phụ nữ nắm giữ Cách định nghĩa khái niệm này có thể khác biệt trongmột số khía cạnh theo các nhà nhân chủng học và nữ giới chủ nghĩa

+ Lịch sử chống ngoại xâm: người phụ nữ một mặt trở thành hậu phương

Trang 6

vững chắc (chăm lo gia đình, con cái ), mặt khác tham gia đấu tranh chống giặc(Hai Bà Trưng, Bà Triệu ).

Trong bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, phụ nữ đã có nhiều đónggóp to lớn trong việc xây dựng, giữ gìn, tu dưỡng, kế thừa và phát huy nhữngphẩm chất đạo đức tốt đẹp từ đời này sang đời khác Họ là một hậu phươngvũng chắc không chỉ biết chăm sóc cho gia đình mà đã đứng lên lãnh đạo khởinghĩa giải phóng dân tộc trong đó có cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (Trưng Trắc

và Trưng Nhị) nổ ra vào mùa xuân năm Canh Tý (40 Công nguyên) là cuộc khởinghĩa đầu tiên của nhân dân Âu Lạc toàn diện và rộng khắp, chống lại thế lựcphong kiến phương Bắc ở đầu Công nguyên Ở đây người phụ nữ đã thể hiệnđược vai trò lãnh đạo toàn diện và phát huy được phẩm chất năng lực của mình.Phụ nữ luôn có vai trò quan trọng trong suối lịch sử chống ngoại xâm của dântộc ta Vai trò của người phụ nữ rất quan trọng, họ là những người lao động cần

cù, thông minh và sáng tạo, là hậu thuẫn vững chắc ở tuyến đầu Họ là nhữngngười bảo vệ nòi giống và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Họ đã sinh racác thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng

+ Hiện nay phụ nữ vẫn giữ những vị trí, vai trò quan trọng trong gia đình

và xã hội

Có thể thấy vai trò của người phụ nữ từ xưa rất quan trọng và hiện nayvận vậy, trong cuộc sống hiện đại, người phụ nữ có vai trò rất lớn Gia đình lànơi thể hiện thực chất sự bình đẳng và nâng cao địa vị của người phụ nữ Bêncạnh đó, người phụ nữ của thời hiện đại càng không thể tách rời với thực tế giađình và xã hội Phụ nữ ở bất cứ thời đại nào, quốc gia, dân tộc nào cũng giữ vaitrò trọng yếu trong việc sáng tạo, giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của

mỗi dân tộc 2 Bản chất

- Tín ngưỡng thờ Mẫu khẳng định, đề cao vai trò, vị trí của người phụ nữtrong gia đình, ngoài xã hội, trên mọi mặt của đời sống Ở Việt Nam, tín ngưỡngthờ Mẫu là tín ngưỡng mang đậm chất bản địa và nguyên thuỷ Bởi vì tínngưỡng thờ Mẫu có nguồn gốc sâu xa từ chế độ Mẫu hệ, trong đó người mẹ,

Trang 7

người vợ giữ vị trí quan trọng trong gia đình Do vậy, trong cuộc sống hàngngày cũng như trong văn chương nghệ thuật thì chữ “Mẫu”, chữ “Mẹ”, chữ

“Cái” vẫn giữ nguyên giá trị như nó vốn có cho đến bây giờ Cũng như thế, ýnghĩa của chữ Mẫu - Mẹ trong các danh từ đền Mẫu, Thánh Mẫu trong tínngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam cũng không nằm ngoài ý nghĩa đó

- Tín ngưỡng thờ Mẫu rất hiện sinh, quan tâm tới cuộc sống con ngườithực tại (đến với Mẫu để cầu sức khỏe, tài lộc) hơn là hướng về cuộc sống saukhi chết như các tín ngưỡng tôn giáo khác Sự thâm nhập và ảnh hưởng lẫnnhau giữa đạo Phật và tín ngưỡng thờ Mẫu theo khuynh hướng dân gian hóa

là điều dễ hiểu bởi lẽ, đó là tín ngưỡng dân dã của người dân, cùng hướng vềcái từ bi bác ái, tinh thần cộng đồng, khuyến thiện trừ ác vốn là nền tảngtrong nguyên tắc ứng xử của xã hội cổ truyền Hai thứ tín ngưỡng này bổsung cho nhau đáp ứng nhu cầu tâm linh của người nông dân: Theo Phật để tunhân tích đức cho đời, kiếp sau được lên cõi Niết Bàn để cuộc sống tươi sánghơn, tự do hơn, còn theo đạo Mẫu là mong được sự phù hộ độ trì đem lại sứckhỏe, tài lộc, may mắn cho đời sống thường ngày

Từ khoảng thế kỷ XV trở đi, hình thức thờ mẫu Tam phủ, Tứphủ được định hình và phát triển mạnh, đây cũng là thời kỳ xuất hiện các

Trang 8

nhân vật như Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, CôĐôi Thượng Ngàn, với các nghi thức một phần ảnh hưởng từ Đạo giáo

3.2 Thờ mẫu ở miền trung

Dạng thức thờ Mẫu này chủ yếu ở khu vực nam Trung bộ, đặc trưng cơbản của dạng thức thờ Mẫu ở đây là tín ngưỡng thờ Mẫu không có sự hiện diệncủa mẫu Tam phủ, Tứ phủ mà chỉ có hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần Hìnhthức thờ Nữ thần như thờ Tứ vị Thánh nương, Bà Ngũ Hành và hình thức thờThánh Mẫu như thờ Thiên Y A Na, Po Nagar

Phật Giáo là một tín ngưỡng dân gian của Huế, tích hợp Đạo giáo TrungHoa đã thoái hóa với tín ngưỡng thờ Mẫu và nhiều tôn giáo, tín ngưỡng kháccủa người Việt Sự ra đời của tín ngưỡng Thiên Tiên Thánh giáo ở Huế xuấtphát từ sự gắn kết của Hội Sơn Nam với ngôi điện Huệ Nam thời Nguyễn HộiSơn Nam là những người dân từ Nam Định di cư vào Huế từ thời tiền Nguyễn.Tín ngưỡng đặc trưng của hội này là tín ngưỡng thờ Mẫu kết hợp với việc thờĐạo giáo đã thoái hóa Còn Huệ Nam điện vốn là ngôi đền thờ PoNagar củangười Chăm Tiếp nhận từ người Chăm một di tích tôn giáo độc đáo, người Việt

đã “bản địa hóa” nữ thần PoNagar thành nữ thần Thiên Y A Na, tôn làm

"thượng đẳng thần"

3.3 Thờ Mẫu ở Miền Nam

So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất địnhvới biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam

Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiệntượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của ngườiViệt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếpnhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranhkhông chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Trang 9

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vịThánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô, và những Mẫu thầnđược thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,

4 Cơ sở thờ tự

* Cơ sở thờ tự của tín ngưỡng thờ mẫu:

+ Phủ: Đây là một đơn vị hành chính thời phong kiến tại Đông Á bắtnguồn từ Trung Quốc thời Nhà Tống Tại Việt Nam, phủ là đơn vị hành chínhtrực thuộc trấn (thời Trần) hoặc tỉnh (thời Nguyễn), mỗi phủ gồm một số huyện.Đến cuối thời Nguyễn, dưới phủ có thể không có huyện mà chỉ có xã, thôn (khi

đó, phủ tương đương cấp huyện nhưng có vị trí quan trọng hơn)

Một số đền thờ Mẫu được gọi là phủ: Ví dụ như Phủ Giày (Nam Định),phủ Tây Hồ (Hà Nội), Phủ Sòng Sơn (Thanh Hóa - còn gọi là đền Sòng Sơn)

+ Đền: Đền thờ là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vịthần hoặc một danh nhân quá cố

+ Điện: Điện là một hình thức của Đền, nơi thờ Thánh, Phật, Mẫu, Tam tứphủ, các vị thần trong tín ngưỡng dân gian của Việt Nam Điện thờ có quy mônhỏ hơn Đền và Phủ thờ, lớn hơn Miếu Thờ Ngoài ra, điện còn là sảnhđường cao lớn nơi chỗ Vua Chúa ở, Thần Thánh ngự Điện thờ có thể của cộngđồng hoặc tư gia Trên bàn thờ điện (Ban thờ) thường có ngai, bài vị, khám thờ,tượng chư vị thánh thần và các đồ thờ khác như: tam sơn, bát hương, cây nến(bộ tam sự), đài, lọ hoa, vàng mã, khánh

 Nhìn chung thì cả phủ, đền và điện thờ đều là nơi thờ phụng các thầnlinh của đạo Mẫu, cũng là nơi diễn ra nghi lễ hầu đồng

+ Vị trí cảnh quan: Trong tâm thức dân gian của cư dân nông nghiệp,dòng sông, con suối, hồ nước… tức là những nơi có nước mang tính nữ (Âm)

Vì vậy hầu hết các điện Mẫu thường được xây dựng cạnh sông, cạnh suối, cạnh

hồ, cạnh cửa biển… và các cửa điện Mẫu bao giờ cũng được đặt quay về phíanguồn nước, những nơi tụ thủy tụ phúc, những mong làm ăn phát đạt

Trang 10

Cho nên, nếu như không chọn được cái thế đất lành tự nhiên có sông hồ

ôm bọc… thì trong khuôn viên dựng điện Mẫu, người ta sẽ phải làm hồ, ao,giếng để dựng lại một không gian cần phải có, ứng với thuật phong thủy củangười xưa

Cũng để tạo tính âm, nhiều điện Mẫu ở vùng cao thường được dựng trongcác hang động, hoặc xây dựng thêm nhiều các hòn non bộ, với những ngọn đá lô

xô mọc lên từ đất hoặc dầm chân trong nước

Cấu trúc không gian trong các điện thờ Mẫu, vị trí chư vị thần thánh đượcbài trí sắp xếp theo ba tầng: tầng trên không, tầng ngang trên ban, bệ thờ và tầngtrệt Đây là một điều rất riêng vì không có tôn giáo tín ngưỡng nào bài trí nhưvậy

Ở tầng không là sự hiện diện của đôi mãng xà (còn gọi là Ông Lốt) tượngtrưng cho quan lớn Tuần Tranh Một con màu trắng, một con màu sẫm quấn trên

xà ngang phía trái, bên trên ban thờ

5 Nghi lễ của tín ngưỡng thờ mẫu

Đền là nơi thờ cúng các vị có công với dân, với nước, được nhân dân vàcác triều đại ban sắc, phong Thánh Đó là những vị Thánh của dân tộc ViệtNam, ngự trị trong tâm linh, tâm hồn của người Việt, được người Việt từ thế hệnày qua thế hệ khác ngưỡng mộ, tôn thờ Nghi thức thờ cúng trong các đền thờThánh Mẫu được gọi là hầu

* Hầu có 2 dạng là hầu bóng và hầu đồng

- Hầu bóng (còn gọi là hầu mát): Hầu bóng là nghi thức thờ cúng đơnthuần, người hầu thực hiện các nghi lễ theo trình tự bài bản từ xưa để lại

- Hầu đồng: Cũng diễn ra theo các trình tự như hầu mát, nhưng được quanniệm là người hầu đã có phần hồn của các vị Thánh Linh giáng vào, nhập vào

Diễn trình của nghi lễ hầu đồng:

+ Nghi lễ mở đầu: nghi lễ dâng sớ, cúng chúng sinh

Trang 11

+ Nghi lễ lên đồng: Mỗi một giá đồng bao gồm các khâu: Thánh giáng, thánhnhập, làm việc quan (nhảy múa, ban lộc, nghe chầu văn, phán truyền), thánh thăng.

Như trên đã nói, đền thờ Thánh ở Việt Nam chia làm 2 hệ thống: Tứ phủ

và Tam phủ, tức là một hệ đền thờ Thánh Mẫu, và một hệ đền thờ Hưng ĐạoĐại Vương và các tướng lĩnh, gia thân của nhà Trần Hai hệ đền thờ ấy, ngườiViệt còn gọi một cách thân mật giản dị là đền thờ Cha và đền thờ Mẹ Trong cácđền thờ Thánh Mẫu thì đứng đầu là Mẫu Đệ Nhất (công chúa Liễu Hạnh) Tiếpđến là Mẫu Đệ Nhị, Mẫu Đệ Tam… tiếp đến các Chầu (tức là các Mẫu thuộccác dân tộc thiểu số anh em), từ Chầu Bà đến Chầu Bé, 12 Chầu Sau 12 Chầu là

12 quan lớn cũng gọi theo thứ tự Quan Lớn Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam…Sau 12Quan Lớn là 12 ông Hoàng, gọi theo thứ tự Hoàng Nhất, Hoàng Đôi, HoàngBảy, Hoàng Mười…Các Quan Lớn, các Ông Hoàng đều có thần phả, một số vịcòn có gốc tích nhân thần, quê quán, sắc phong của các triều đại

* Ví dụ: Ông Hoàng Bảy có đền thờ riêng ở Lào Cai, ông Hoàng Mười ởNghệ An.v.v Sau các ông Hoàng là các Cô, các Cậu Các Cô, các Cậu cũng lànhững nhân vật lịch sử, một số vị còn có đền thờ riêng ở các địa phương trongnước Ví dụ: Cô Bơ có đền thờ ở Thanh Hóa, Cậu Út có đền thờ ở Cửa Sót, HàTĩnh…

Như vậy ta có thể hiểu nghi thức thờ cúng trong các đền thờ Thánh Mẫu ởViệt Nam được gọi là hầu Chữ hầu này cũng có nghĩa như chữ hầu dùng tronggiao tiếp thường ngày, ví như khi ta nói, hầu ông, hầu bà, hầu cha, hầu mẹ, hầuquan… Trong nghi thức thờ cúng ở các đền thờ Thánh Mẫu, chữ hầu này cónghĩa là hầu Mẫu, hầu Thánh Khi nói đến chữ hầu là ta nói đến nghi thức thờcúng ở trong các đền thờ Thánh Mẫu Trong đền thờ Thánh Mẫu, thay vì việcđọc văn thì người hầu Thánh sẽ hát văn Thay vì việc cúng bái, người hầuThánh lại biểu thị bằng các động tác múa – Những động tác múa được bắt nguồn

từ lao động cách điệu theo đời sống lao động thường ngày như múa chèothuyền, múa đi ngựa, múa gươm, múa đao, múa chăn tằm dệt vải, múa “lên rừnghái lộc tìm hoa”…

Ngày đăng: 24/03/2022, 12:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w