sưu tầm một bản án sơ thẩm liên quan đến bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà theo quan điểm của nhóm các phán quyết đưa ra trong bản án là chưa phù hợpA.MỞ ĐẦU3B.NỘI DUNG CHÍNH31.TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC32.PHÁN QUYẾT MÀ TÒA ÁN ĐƯA RA CHƯA PHÙ HỢP43.QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÙ HỢP VỚI QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH74.KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH9 C. KẾT LUẬN10D.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO11E.TRÍCH DẪN NHỮNG ĐIỀU LUẬT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG BÀI. 11F.BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM18
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM LUẬT DÂN SỰ 2
Đề số 28:
Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm liên quan đến bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà theo quan điểm của nhóm các phán quyết đưa ra trong bản án là chưa phù hợp.
Hà Nội, 2021
Trang 2BÀI TẬP NHÓM LUẬT DÂN SỰ 2
NHÓM 04 – LỚP N11.TL1
2
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 3
B NỘI DUNG CHÍNH 3
1 TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC 3
2 PHÁN QUYẾT MÀ TÒA ÁN ĐƯA RA CHƯA PHÙ HỢP 4
3 QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÙ HỢP VỚI QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 7
4 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH9 C KẾT LUẬN 10
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
E TRÍCH DẪN NHỮNG ĐIỀU LUẬT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG BÀI 11 F BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM 18
Trang 3A MỞ ĐẦU
Cuộc sống hiện nay luôn tiềm ẩn những nguy cơ, rủi ro mà con người khó
có thể kiểm soát hết được Trong nhiều trường hợp, dù người sử dụng nguồnnguy hiểm cao độ đã tìm mọi cách để phòng ngừa, cũng như vận hành chúngmột cách an toàn nhất tuy nhiên thì trên thực tế, vẫn có những thiệt hại kháchquan bất ngờ xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát đó Để bảo vệ quyền và lợi ích củanhững người bị thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, pháp luật dân sự đãquy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều tranh cãi xoay quanh những quy định pháp luật hiệnhành Nhận thấy đây là vấn đề cấp thiết, mang tính ứng dụng cao, nhóm chúngtôi lựa chọn nghiên cứu
Đề số 28: “Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm liên quan đến bồi thường thiệt
hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà theo quan điểm của nhóm các phán quyết đưa ra trong bản án là chưa phù hợp.”
B NỘI DUNG CHÍNH
1 TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC
Bản án 02/2018/ST-DS ngày 18/06/2018.
Vào ngày 3/4/2016, anh Nông Văn L điều khiển xe mô tô BKS 23D1-02038
đi đám cưới bạn và có uống rượu tại thị trấn A, huyện A, tỉnh Hà Giang Sau đótiếp tục điều khiển phương tiện tham gia giao thông Đến 12 giờ 40 phút cùngngày, xe mô tô của anh L va chạm với xe ô tô BKS 34K-1416 của anh PhùngĐình H đi chở công cụ xây dựng nhà tại thị trấn A, huyện A, tỉnh Hà Giang Hai
xe va chạm nhau tại km18 cổng nghĩa trang Liệt sỹ huyện A Khi anh H pháthiện xe mình va chạm với xe anh L, xe mô tô ở dưới gầm xe còn anh H thì bịvăng ra ngoài đường Sau đó, anh H đã hô hoán mọi người xung quanh để đưa
Trang 4anh L đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa huyện A, tỉnh Hà Giang Do vết thươngquá nặng nên anh
Trang 5Nông Văn L đã chết Vì quá lo sợ nên anh H đã bỏ trốn và xe của anh H bị tạmgiữ tại cơ quan công an Đến ngày 4/4/2016, anh H đã ra cơ quan công an trìnhbáo sự việc Sau khi sự việc anh L chết, gia đình anh Phùng Đình H có đưa chochị H (vợ của anh L) 10 triệu đồng tiền phí mai táng Sau 3 tháng, anh H cóxuống trao đổi và có nói đưa gia đình chị H số tiền 50 triệu đồng Tuy nhiên, anh
H chỉ nói và không thấy đưa tiền nên chị H đã làm đơn kiện anh H lên Tòa ánnhân dân huyện A, tỉnh Hà Giang, yêu cầu giải quyết anh H phải có trách nhiệmbồi thường tiền viện phí, tiền mai táng, tiền tổn thất về tinh thần và tiền nuôidưỡng con anh H từ 6 tháng tuổi đến khi đủ 18 tuổi với tổng số tiền là432.431.000 đồng
Tòa sơ thẩm tuyên: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “đòi bồi thường thiệt
hại về tính mạng bị xâm phạm do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” của chịHoàng Thị Kim H, buộc anh Phùng Đình H bồi thường với các khoản bồi thườngtòa quy định tại phiên sơ thẩm
2 PHÁN QUYẾT MÀ TÒA ÁN ĐƯA RA CHƯA PHÙ HỢP
Thứ nhất, về trách nhiệm dân sự trong vụ án này, việc Toà án áp dụng Điều 601 BLDS 2015 để buộc anh Phùng Đình H phải bồi thường cho thân nhân gia đình anh Nông Văn L là không đúng qui định của pháp luật.
Về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra, để có thể áp dụng Điều 601 BLDS 2015 về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, cần xác định rõ: Thiệt hại có phải do “tự
thân” nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hay không?
Đối với vụ án trên, anh H điều khiển ô tô mang BKS 30K-1416 đi chở công
cụ xây dựng nhà ở tại thị trấn A, huyện A, tỉnh Hà Giang đi bốc các công cụ vật
Trang 6liệu để xây nhà, khi bốc xong anh Hòa tiếp tục điều khiển xe đi đến km18 cổngnghĩa trang Liệt sỹ huyện A, anh H bật xi nhan, tín hiệu đèn xi nhan xe xin quay
Trang 7đầu xe sang đường thì nghe tiếng đâm vào xe của mình, khi đó anh dừng xe, tắtmáy xuống xe thì thấy xe máy của anh L va vào dưới gầm xe, còn người thì văng
ra ngoài đường Như vậy, anh H đang điều khiển xe ô tô bật xi nhan tín hiệu xexin quay đầu xe sang đường, nhưng do không quan sát an toàn rồi mới chuyểnhướng nên đã khiến anh L đâm vào xe mình Theo quy tắc đường bộ, anh H từbên lề đường đi ra, khi quay đầu và chuyển hướng phải nhường đường cho xeđang lưu thông trên đường đi trước, nếu thấy đủ an toàn thì mới được đi Trongtrường hợp này, có thể vì không biết anh L đang lái xe trong tình trạng say rượunên anh H nghĩ anh L sẽ đi chậm hoặc dừng lại nhường cho mình quay đầu Tuynhiên do anh L say rượu không kiểm soát được tốc độ nên đã đâm vào xe anh H
Do đó, về mặt lỗi gây thiệt hại ở đây hoàn toàn do sự điều khiển của anh H chứkhông phải “tự thân” chiếc ô tô gây ra
Vì vậy, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi, do hành vi của người điềukhiển nguồn nguy hiểm cao độ tức anh H thì không áp dụng trách nhiệm bồithường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà sẽ áp dụng trách nhiệmbồi thường thiệt hại nói chung Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
vụ án này là trách nhiệm bồi thường thiệt hại thông thường do hành vi trái phápluật của anh H khi không chú ý quan sát trong lúc tham gia giao thông đường bộgây ra chứ không phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Thứ hai, về mặt chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Toà án chưa xác định ô tô mang BKS 30K-1416 có phải trực tiếp thuộc sở hữu của anh H hay không.
Theo Điểm 2 mục III Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP quy định: “Nếu chủ
sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đã giao nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác mà gây thiệt hại thì phải xác định trong trường hợp cụ thể đó người được
Trang 8giao nguồn nguy hiểm cao độ có phải là người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm
Trang 9cao độ hay không để xác định ai có trách nhiệm bồi thường thiệt hại” Áp dụng
trong trường hợp này, nếu anh H chỉ là người vận chuyển thuê cho một công tyvận chuyển vật tư xây dựng, chiếc ô tô mang BKS 30K-1416 là tài sản thuộc sởhữu của công ty vận chuyển vật tư xây dựng và anh H chỉ được giao chiếm hữuchiếc xe để vận chuyển vật tư xây dựng cho công ty, thì trách nhiệm bồi thường
sẽ không chỉ một mình anh H phải chịu mà công ty vận chuyển vật tư xây dựngcũng sẽ phải cùng anh H chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho thân nhân giađình anh Nông Văn L
Thứ ba, sau khi biết anh L đã chết, anh H không lập tức quay lại hiện trường làm việc với cơ quan công an để trình báo về vụ việc mà lại có hành vi
bỏ trốn vì sợ hãi trách nhiệm, dù ngay sáng hôm sau anh H đã ra đầu thú.
Trong lời khai của chính anh H có chi tiết: “…anh dừng xe, tắt máy xuống
thấy xe máy của anh L va vào dưới gầm xe, còn người thì văng ra ngoài đường, sau đó anh H hô hoán mọi người xung quanh để đưa anh L đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa huyện A, tỉnh Hà Giang Do bị thương nặng anh Nông Văn L đã chết Do sợ hãi anh H đã bỏ trốn…” Rõ ràng, việc lái xe rời bỏ hiện trường với
lý do hoảng loạn, thấy người bị nạn nằm bất tỉnh hay sợ phải bồi thường… đều
là trái pháp luật Tuy trong phần nhận định, Toà có nhắc đến tình tiết này nhưngtrong phần tuyên phạt không có hình phạt dành cho hành vi này của anh H Nhưvậy, Toà án cũng cần xem xét về hành vi bỏ trốn của anh H sau khi gây tai nạnlàm chết người và đưa ra mức phạt thích đáng
Thứ tư, về trách nhiệm bồi thường, theo điều tra của cơ quan công an,
“anh L đến nhà anh Hoàng Thế D trú tại thôn L, xã N, huyện A ăn cưới, trong khi ăn anh L có uống rượu, sau đó khoảng 11 giờ 30 phút anh L một mình điều khiển xe mô tô BKS 23D1-020.38 rời khỏi nhà anh D Khoảng 12 giờ 40 phút
Trang 10anh L điều khiển xe mô tô đi đến Km18 Quốc lộ 2 theo hướng Tuyên Quang –
Hà Giang đâm
Trang 11vào xe ô tô BKS 30K-1416 phía trước đang quay đầu xe” Như vậy, anh L đã sử
dụng chất kích thích sau đó tiếp tục lái xe rồi gây tai nạn giao thông thì như vậyhậu quả hoàn toàn là do lỗi cố ý của anh L khi đã sử dụng chất kích thích khi
tham gia giao thông Căn cứ vào Điểm 2 mục III Nghị quyết
03/2006/NQ-HĐTP đưa ra ví dụ để hướng dẫn cho trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu
nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra trong trường hợp “Xe ô tô đang tham gia giao thông theo đúng
quy định của pháp luật thì bất ngờ có người lao vào xe để tự tử và hậu quả là người này bị thương hoặc bị chết” Tương tự với tính chất của ví dụ trên trong
vụ việc, anh H đã rơi vào tình thế bất khả kháng nên anh H không có lỗi đối vớicái chết của nạn nhân L, từ đó sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệthại Việc giải quyết bồi thường thiệt hại liên quan đến phương tiện tham gia giaothông theo trường hợp: khi tai nạn xảy ra, xe lớn phải bồi thường cho xe nhỏ làkhông phù hợp với pháp luật, trừ khi chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ vàngười bị thiệt hại có thỏa thuận
3 QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÙ HỢP VỚI QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Thứ nhất, cần xác định lại trách nhiệm dân sự trong vụ án Với nhữngtình tiết được nêu trong bản án, do hành vi trái pháp luật của anh H khi khôngchú ý quan sát khi tham gia giao thông đường bộ gây ra, anh H phải chịu tráchnhiệm bồi thường thiệt hại thông thường chứ không là chịu trách nhiệm bồithường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Do đó phải áp dụng nội
dung Điều 584 BLDS 2015 để xử lí vi phạm trong vụ án chứ không phải Điều
601 BLDS 2015.
Trang 12Thứ hai, cần xác định lại trách nhiệm bồi thường thiệt hại của anh H Vềanh Nông Văn L, vào buổi trưa ngày 3/4/2016, khi điều khiển xe mô tô BKS23D1-
020.38 đi theo hướng Tuyên Quang – Hà Giang (trong hơi thở có nồng độ cồn, kết
Trang 13quả đo được là 0,59mg/l khí thở), không chú ý quan sát khi phía trước có xe ô tô
đi cùng chiều đang quay đầu, vượt ẩu là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn
giao thông, đã vi phạm Khoản 8, 11 Điều 8 Luật giao thông đường bộ 2008.
Sau khi xảy ra vụ án, anh L tức người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đãchết Tuy nhiên, hậu quả của vụ án có một phần do nguyên nhân đến từ chính
anh L, vậy nên căn cứ nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo Điều 585 BLDS
2015, trách nhiệm bồi thường của anh H được phép giảm đến mức độ nhất định.
Thứ ba, việc trì hoãn giải quyết vụ án của anh H cần được định tội Đốivới Phùng Đình H vào trưa ngày 3/4/2016 điều khiển xe ô tô BKS 30K-1416đang quay đầu trên đoạn đường được phép quay đầu (đoạn đường ngoài khu vựcđông dân cư), có bật tín hiệu báo rẽ Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, PhùngĐình H đã rời khỏi hiện trường (bỏ trốn đến ngày 4/4/2016 mới đến Cơ quan
Công an trình báo) đã vi phạm Khoản 17 Điều 8 Luật giao thông đường bộ
2008, hành vi này vẫn nên chịu trách nhiệm.
Thứ tư, do vụ án xảy ra đều xuất phát từ lỗi của anh H và anh L, nên khigiải quyết vụ án, xét từ góc độ khách quan, trách nhiệm bồi thường của anh H cần được suy xét kĩ lưỡng Cần căn cứ vào mức thu nhập của anh H để đưa ra
mức bồi thường hợp lí theo Khoản 2 Điều 585 BLDS 2015.
Thứ năm, nếu vụ án là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra thì theo Mục 2 phần III Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP, cần phải làm rõ trường hợp: anh H được giao chiếm hữu chiếc xe để vận chuyển vật tư xây dựng cho công ty hay chiếc xe thuộc sở hữu của anh H Nếu trong vụ án, chiếc
xe ô tô BKS 34K-1416 do anh H điều khiển được xác định là nguồn nguy hiểmcao độ; như vậy, khi vụ án xảy ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại liệu có chỉthuộc về anh H hay cả công ty?
Trang 144 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Thứ nhất, trong Điều 601 BLDS 2015 chưa có khái niệm rõ ràng về nguồn nguy hiểm cao độ mà mới chỉ liệt kê những sự vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ Nhưng trên thực tế còn có nhiều sự vật khác có thể được xếpvào nguồn nguy hiểm cao độ nhưng chưa được liệt kê vào Ví dụ như trongKhoản 1, nguồn nguy hiểm cao độ gồm có các phương tiện giao thông cơ giớinhưng các loại xe như xe ủi, cần cẩu cũng được phép lưu thông trên đườngnhưng lại không nằm trong kiểm soát của điều này mặc dù nó đáp ứng đầy đủyếu tố trở thành nguồn nguy hiểm cao độ Vậy nên, khi những loại máy thi công
đó gây ra thiệt hại thì phải xử lí trách nhiệm bồi thường như thế nào? Từ đó cóthể thấy, việc liệt kê nguồn nguy hiểm cao độ như vậy là chưa phù hợp, không
mang tính khái quát cao Hơn nữa, việc quy định về nguồn nguy hiểm cao độ ở
quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật mà chưa đưa ra những tiêu chí cụ thể sẽ khiến cho những người thực thi pháp luật lúng túng trong việc áp dụng pháp luật cũng như gây khó khăn cho mọi người khi tìm hiểu về vấn đề này Vì thế,
nên có những văn bản pháp luật quy định cụ thể hơn những tiêu chí để xác địnhnguồn nguy hiểm cao độ một cách rõ ràng, dễ nắm bắt hơn như tiêu chí về mức
độ nguy hiểm, tiêu chí về khả năng kiểm soát của con người đối với tài sản đó,
Thứ hai, một trong những điều kiện để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là khi tự thân nó gây thiệt hại.
Đây là điều kiện quan trọng, tuy nhiên trong luật lại không đề cập chi tiết vấn đềnày nên dễ dẫn đến xảy ra sai sót khi áp dụng pháp luật Có nhiều trường hợp cứthấy có thiệt hại liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ là áp dụng trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, bất kể nguyên nhân gây
Trang 15thiệt hại là do con người hay do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Vì thế
nên cần
Trang 16có những quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồnnguy hiểm cao độ gây ra chỉ phát sinh khi thiệt hại là do sự tác động tự thân củanguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Thứ ba, pháp luật cần phải bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với những thiệt hại của các trường hợp bị thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ trong tự nhiên gây ra (ví dụ như cây bị đổ đè chết
người đi đường, ) Hay như việc Nhà nước cần có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại trong trường hợp mà các cơ quan Nhà nước chiếm hữu, sử dụng nguồn nguyhiểm cao độ thuộc sở hữu của các cá nhân, tổ chức để phục vụ lợi ích công cộng
C KẾT LUẬN
Hiện nay, quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra tại Điều 601 BLDS 2015 vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót và bất cập, gây nên
tranh cãi Việc xác định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ratrong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn do trong nhiều trường hợp, ta gặp khókhăn trong việc xác định thiệt hại là do người chủ sở hữu, chiếm hữu, sử dụnghay do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, và nếu do tự thân nó thì nên xử lýnhư thế nào? Vậy nên, để khắc phục những điều này, bản thân chúng ta cần chủđộng trang bị cho mình những kiến thức luật pháp về bồi thường thiệt hại donguồn nguy hiểm cao độ gây ra, chú ý tránh xa những nguồn nguy hiểm đó đểtránh xảy ra rủi ro; những người là chủ sở hữu, chiếm hữu, sử dụng cần cẩn trọnghơn nữa để không phải gánh khoản phí bồi thường thiệt hại quá lớn Ngoài ra,các nhà làm luật cũng cần tiếp tục dựa trên thực tiễn cuộc sống nghiên cứu thêm
để bổ sung, sửa đổi các điều luật liên quan đến quy định về bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm gây ra để vấn đề này ngày càng chặt chẽ, rõ ràng, góp phầncủng cố, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam