“Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm liên quan đến căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà theo quan điểm của nhóm các phán quyết đưa ra trong bản án là chưa phù hợp.”A.Mở đầu5B.Nội dung5Câu 1. Từ bản án đã sưu tầm được, hãy tóm tắt nội dung vụ việc dưới dang tình huống5Câu 2. Hãy chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong bản án sơ thẩm mà nhóm đã sưu tầm được và giải thích tại sao nhóm lại cho rằng chưa phù hợp6Câu 3. Hãy đưa ra quan điểm của nhóm về việc giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của của pháp luật hiện hành9Câu 4. Từ phân tích vụ án, nhóm hãy đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành10C.Kết bài13
Trang 1“Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm liên quan đến căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà theo quan điểm của nhóm các phán quyết đưa ra trong bản án là chưa phù
hợp.”
Trang 2MỤC LỤC
A Mở đầu 5
B Nội dung 5
Câu 1 Từ bản án đã sưu tầm được, hãy tóm tắt nội dung vụ việc dưới dang tình huống 5 Câu 2 Hãy chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong bản án sơ thẩm mà nhóm đã sưu tầm được và giải thích tại sao nhóm lại cho rằng chưa phù hợp 6 Câu 3 Hãy đưa ra quan điểm của nhóm về việc giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của của pháp luật hiện hành 9 Câu 4 Từ phân tích vụ án, nhóm hãy đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành 10
C Kết bài 13
D Danh mục tài liệu tham khảo 15
Trang 3A Mở đầu
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định pháp lý xuất hiện sớm nhất trong lịch sử pháp luật dân sự trên thế giới trong đó có cả Việt Nam Đây là chế định nhằm điều chỉnh các quan hệ trong những trường hợp gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác mà không xuất hiện giao kết hợp đồng hoặc có hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc phạm vi hợp đồng đã giao kết Chính vì muốn đi sâu tìm hiểu về vấn đề này nên
nhóm xin lựa chọn đề số 16: “Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm liên quan đến căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà theo quan điểm của nhóm các phán quyết đưa ra trong bản án là chưa phù hợp.”
B Nội dung Câu 1 Từ bản án đã sưu tầm được, hãy tóm tắt nội dung vụ việc dưới dang tình huống.
1 Tóm tắt bản án
Tháng 12 năm 2015, Bùi Văn T (sinh năm 1970) phát hiện phần đất của mình
bị ngập nước do ông Trần Văn D (sinh năm 1950) xả nước vào làm ngập đậu đỏ và
ao cá tra của ông T Đậu đỏ còn 10 ngày nữa ông T sẽ thu hoạch với giá là 15.000.000 đồng Theo ông T, ao cá tra diện tích ngang 2m, dài 10m (đo đạc thực
tế chiều ngang ao 2,5m, dài 25m), tổng chi phí nuôi cá và con giống là 6.000.000 đồng Ông T yêu cầu ông D phải bồi thường cho mình số tiền đậu đỏ là 15.000.000 đồng và tiền cá tra là 6.000.000 đồng, tổng cộng 21.000.000 đồng Ông Nguyễn Văn Năm E – Đội dân phòng ấp X, xã P (nơi xảy ra sự việc trên) xác định: sau khi thiệt hại, ruộng đậu đỏ của ông T thu hoạch được 30% Bị đơn Trần Văn D không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn T, lý do nước tràn vào chỉ ngập một
số chỗ trũng thấp, đậu của ông T vẫn thu hoạch bình thường, số lượng cá không
Trang 4xác định được nhưng ao cá bị nước tràn thì ông T và con của ông T có kéo lại cá nên không bị thất thoát Tòa án xác định thiệt hại vườn đậu là 70% thiệt hại vườn
cá là 100% 2
2 Tòa án tuyên xử:
1 Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Văn T, buộc bị đơn Trần Văn D có nghĩa vụ bồi thường cho nguyên đơn số tiền 16.320.000 đồng
2 Bùi Văn T phải chịu thiệt hại 3% do chậm trễ trong việc khắc phục hậu quả
3 Tuyên về án phí theo mức thông thường đối với bị đơn Trần Văn D, chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự
Câu 2 Hãy chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong bản án sơ thẩm mà nhóm đã sưu tầm được và giải thích tại sao nhóm lại cho rằng chưa phù hợp.
Tại Bản án 06/2018/DS-ST ngày 16/01/2018 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, toà án sơ thẩm đã xét xử chưa phù hợp tại 2 nội dung sau:
1 Toà án sơ thẩm xử ông Trần Văn D bồi thường cho ông Bùi Văn T số tiền 16.320.1 là chưa hợp lý
a) Căn cứ pháp lý:
Khoản 4 điều 585 bộ luật dân sự quy định: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong
việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.”
Phần I tiểu mục a mục 5 NQ 03/2006/HĐTP_TANDTC quy định: “Người bị
thiệt hại yêu cầu bồi thường thiệt hại phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã
Trang 5xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại.”
b) Lý giải:
Toà xác định phần thiệt hại do lỗi của ông T chưa chính xác Khi phát hiện nước tràn ao cá bơi ra ruộng rồi theo ống bọng thoát nước ra ngoài ông T không làm gì để nhằm hạn chế thiệt hại mà chỉ kêu ông D lấy lưới chặn và kéo cá vào ao nhưng sau đó nhiều giờ ông D mới kéo cá dẫn đến cá bơi ra sông hết Việc ông T chậm trễ không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình trong điều kiện ông có thể làm cũng là nguyên nhân lớn dẫn đến thiệt hại hoàn toàn đàn cá tra Vì vậy việc toà xác định phần thiệt hại do lỗi của ông T là 3% là điều chưa hợp lý, phần thiệt hại do lỗi chậm trễ của ông T sẽ phải lớn hơn 3% Căn cứ khoản 4 điều 585 bộ luật dân sự 2015, ông T không được nhận bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra Vậy nên việc toà xác định phần thiệt hại do lỗi của ông T chưa chính xác dẫn đến số tiền bồi thường 16.320.000 là chưa hợp lý
Ông T không có chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế và các khoản chi phí
đã bỏ ra Theo ông Nguyễn Văn Năm E – Đội dân phòng ấp X, xã P xác định sau khi thiệt hại ruộng đậu đỏ của ông T thu hoạch được 30%, ông T xác định ruộng đậu đỏ của ông bị ảnh hưởng năng suất 99% là không có căn cứ Ông T không đưa
ra được chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, ông đưa
ra chi phí sản xuất gồm tiền thức ăn cho cá 4.000.000 đồng, 2.000.000 đồng tiền con giống, mua giống đậu đỏ 1.050.000 đồng đều không có giấy biên nhận hợp lệ, chỉ có người làm công (dọn đất, tỉa chậu) làm chứng ông T đã chi ra 3.600.000 để dọn đất tỉa chậu Căn cứ Phần I tiểu mục a mục 5 NQ 03/2006/HĐTP-TANDTC thì ông T yêu cầu bồi thường thiệt hại phải đưa ra được các giấy tờ chứng minh cụ thể Tuy nhiên, khi ông T không ra được chứng cứ chứng minh cụ thể mà toà vẫn
Trang 6chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường của ông T thì là chưa hợp lý Vậy nên, số tiền 16.320.000 toà xử ông D phải bồi thường ông T là không đúng
Từ hai lẽ trên ta thấy, toà án sơ thẩm xử ông Trần Văn D bồi thường cho ông Bùi văn T số tiền 16.320.000 là chưa hợp lý
2 Tòa án sơ thẩm không dùng luật người cao tuổi 2009 để xác định ông D là người cao tuổi mà vẫn giữ nguyên mức án phí thông thường là sai vì bị đơn thuộc diện người cao tuổi
a) Căn cứ pháp lý:
Điều 2 Luật người cao tuổi 2009: “Người cao tuổi được quy định trong Luật
này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên.”
Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016: Miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí
Tòa án: “Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ.”
b) Lý giải:
Bị đơn Trần Văn D sinh năm 1950, do ông D là người cao tuổi theo điều 2 Luật người cao tuổi 2009 Căn cứ Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 thì ông D có đủ quyền được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí, lệ phí Tòa án Cho nên việc tòa sơ thẩm quyết định yêu cầu ông D phải nộp án phí là chưa hợp lí
Trang 7Câu 3 Hãy đưa ra quan điểm của nhóm về việc giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của của pháp luật hiện hành.
1 Cơ sở pháp lý
Khoản 4 Điều 585 BLDS 2015 quy định: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong
việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.”
Phần I tiểu mục a mục 5 NQ 03/2006/HĐTP-TANDTC quy định: “Người bị
thiệt hại yêu cầu bồi thường thiệt hại phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại.”
Điều 2 Luật người cao tuổi 2009: “Người cao tuổi được quy định trong Luật
này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”.
Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016: Miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí
Tòa án: “Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ.”
2 Về xác định lỗi thiệt hại 3% của ông T
Trong tình huống trên, nếu ông T áp dụng nhanh chóng, kịp thời biện pháp khắc phục hậu quả thì thiệt hại về tài sản của ông sẽ giảm thiểu một cách đáng kể Tuy nhiên, khi tình huống xảy ra, ông T lại không làm gì mà chỉ kêu ông D một mình khắc phục Chính ông T không chủ động trong việc giảm thiểu thiệt hại cho tài sản của mình, trong khi ông đủ điều kiện và khả năng để làm việc đó, điều này khiến ông bị thất thoát đi một tài sản đáng kể Do vậy, lỗi thiệt hại trong trường
Trang 8hợp này không chỉ một mình ông D mà ông T cũng phải có trách nhiệm đối với hành vi không hành động và sự chậm trễ của chính mình Việc Tòa án sơ thẩm xác định thiệt hại lỗi của ông T 3% là chưa hợp lý và chính xác Lỗi của ông T trong trường hợp trên phải chịu một phần thiệt hại tương đương 30% thiệt hại
3 Về cung cấp chứng cứ chứng minh thiệt hại
Yêu cầu ông T phải cung cấp đầy đủ chứng cứ như biên lai, giấy tờ, liên quan đến tài sản thiệt hại để Tòa án có thể xác định đúng số tiền bồi thường Tòa
án phải cho cử người đến kiểm tra, đo đạc, thu thập đầy đủ mọi chứng cứ để chứng minh số tài sản thiệt hại Cụ thể, phải có sự xác nhận của người lập biên bản tại nơi xảy ra thiệt hại là ông Nguyễn Văn Năm E Đối chiếu với công văn của Chi cục trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh để làm cơ sở xác định khi trong trường hợp không xác định được thiệt hại thực tế
4 Về án phí
Bị đơn Trần Văn D sinh năm 1950, do ông D là người cao tuổi theo điều 2 Luật người cao tuổi 2009 Căn cứ Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 thì ông D có đủ quyền được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí, lệ phí Tòa án Do vậy, Tòa
án phải miễn thu án phí đối với ông D Bên cạnh đó, Ông Bùi Văn T phải chịu án phí trên phần thiệt hại yêu cầu không được chấp nhận
Câu 4 Từ phân tích vụ án, nhóm hãy đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành.
1 Về yếu tố gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về một căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật" Ngoài
ra, tại Mục II.A.2 của Thông tư số 173-TANDTC ngày 23/3/1972 của TANDTC
Trang 9hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng3 ban hành ngày và Mục I.1.1.2 của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC4 đều có quy định rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải dựa trên hành vi trái pháp luật Nhận thấy, tại các văn bản pháp luật nêu trên đều không có định nghĩa về “hành vi trái pháp luật” mà chỉ liệt kê các hành vi
cụ thể như xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của chủ thể khác mà gây thiệt hại Việc quy định mang tính liệt kê nêu trên được các nhà làm luật diễn giải là với mục đích hướng tới hậu quả của hành vi trái pháp luật5 Bên cạnh đó, tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP quy định tính trái pháp luật cần được xem xét trong bản chất của chính hành vi đó Sự xâm phạm nêu trên là một yếu tố riêng rẽ với yếu tố “trái pháp luật” và chỉ nên xem xét sự xâm phạm đó khi bàn về thiệt hại Điều này thể hiện ở việc các yếu tố xâm phạm trong Nghị quyết chỉ được nhắc đến ở những quy định về thiệt hại mà không phải ở các quy định về “hành vi trái pháp luật”
Qua thực tiễn áp dụng pháp luật thời gian qua tồn tại những cách hiểu khác nhau về tính trái pháp luật có thể dẫn đến sự không thống nhất trong xét xử khi đánh giá các chứng cứ liên quan đến hành vi trái pháp luật Về mặt luật thực định
và tính thống nhất của BLDS, nhóm cho rằng giữa hai cách hiểu trên thì nên áp dụng cách diễn giải thứ nhất, tính trái pháp luật trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hướng tới hậu quả sẽ phù hợp với chức năng của chế định từ góc nhìn lý thuyết bù đắp thiệt hại trong trường hợp chủ thể bị xâm hại quyền và lợi ích
đồng.
năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
thực tiễn, Luật văn thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.76.
Trang 10hợp pháp Như trong vụ việc của ông T và ông D trong bản án mà nhóm đề cập cũng không xác đinh được rõ hành vi trái pháp luật của ông D
Vì thế pháp luật cần quy định thống nhất, rõ ràng hơn về "hành vi trái pháp luật" trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
2 Về thiệt hại thực tế
Một nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là “Thiệt hại thực tế phải
được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” 6(Khoản 1 Điều 585 BLDS 2015) Tuy nhiên, Bộ luật dân sự hiện nay không có hướng dẫn cụ thể thế nào là thiệt hại thực tế và cơ sở để xác định thiệt hại thực tế dựa trên nguồn nào, tuy nhiên tùy từng vụ án thì Tòa án thường có những đánh giá chứng cứ khác nhau Như trong vụ việc của ông T và ông D cũng không có căn cứ nào để xác định thật chính xác và đúng đắn về thiệt hại của ông T
về ruộng đậu đỏ và ao cá tra Việc xác định "thiệt hại xảy ra" là một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường trên thực tế còn gặp nhiều vướng mắc Chính vì thế, pháp luật cần có quy định hoặc những hướng dẫn cụ thể thế nào
là thiệt hại thực tế, cơ sở để xác định thiệt hại thực tế
3 Về mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại phải là nguyên nhân gây ra thiệt hại thì người gây thiệt hại mới phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể rất khó xác định mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại, đặc biệt là đối với những trường hợp gây ô nhiễm môi trường Như vậy, khi xác định nguyên nhân của một
Trang 11thiệt hại, sự cần thiết phải phân biệt các nguyên nhân khác nhau để có sự đánh giá một cách toàn diện khi xác định hành vi nào là nguyên nhân của thiệt hại Cụ thể hơn là trong bản án về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của ông T
và ông D mà nhóm nêu bên trên, đã có những tranh cãi về nguyên nhân dẫn đến ruộng đậu đỏ của ông T ngập nước và tràn qua ao cá tra là do cống của ông T đậy không khít hay do ông D xả nước vào làm ngập đậu đỏ và ao cá tra của ông T Vì thế không thể chắc chắn được rằng nguyên nhân dẫn đến thiệt hại và hành vi trái pháp luật trong trường hợp này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Vì lẽ đó, pháp luật cần có những quy định cụ thể, những hướng dẫn chi tiết để xác định chính xác về mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật
4 Về căn cứ xác định lỗi
Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra Với lý lẽ công bằng, gây thiệt hại đến đâu bồi thường đến đó, nhưng trong nhiều trường hợp bên bị thiệt hại lại là bên có phần lỗi dẫn đến thiệt hại Luật quy định bên bị thiệt hại sẽ không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra Vậy, thiệt hại không được bồi thường ở đây được hiểu như thế nào cho đúng? Trong vụ việc giữa ông D và ông T trong bản án
mà nhóm nêu ở trên cũng khó xác định được phần lỗi mà ông T phải chịu trong thiệt hại của chính mình do đã không kịp thời khắc phục hậu quả
Vì vậy, pháp luật cần quy định rõ ràng việc xác định trách nhiệm hỗn hợp căn
cứ vào mức độ lỗi của mỗi bên trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng
C Kết bài
Trên đây là ý kiến và phân tích của nhóm về những điều không phù hợp của bản án, đồng thời kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật Cần khang định