Đặc biệt khó khăn hơn cả là việc sử dụng những kênh hình trong SGK lớp 7.Khi bắt tay vào thiết kế bài dạy , tôi rất lúng túng trong việc tiếp cận với những hình ảnh , sơđồ, lược đồ trong
Trang 1Báo cáo sáng kiến kinh nghiệm :
Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử qua việc sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử lớp7
“Muốn xõy dựng chủ nghĩa xó hội, trước hết cần cú những người
xó hội chủ nghĩa” “Vỡ lợi ớch mười năm thỡ phải trồng cõy, vỡ lợi ớch trăm năm thỡ phải trồng người” Những tư tưởng lớn, cũng là đạo đức lớn ấy của Bỏc mói mói định hướng cho việc xõy dựng con người Việt Nam hụm nay và mai sau.
Trồng người trong thời đại chỳng ta ngày nay là xõy dựng con người mới xó hội chủ nghĩa Đú là những con người yờu nước nồng nàn, cú tư tưởng xó hội chủ nghĩa, cú đạo đức, lối sống và tỏc phong xó hội chủ nghĩa, cú năng lực để làm chủ bản thõn, gia đỡnh, cụng việc mà mỡnh đảm nhận, đồng thời, để với tư cỏch là cụng dõn, tham gia cú hiệu quả vào việc làm chủ nhà nước và xó hội Trong sự nghiệp trồng người, trực tiếp là chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ, Bỏc Hồ luụn xỏc định vị trớ, vai trũ to lớn của giỏo dục và đào tạo.
“Muốn xõy dựng chủ nghĩa xó hội, trước hết cần cú những người xó hội chủ nghĩa” “Vỡ lợi ớch mười năm thỡ phải trồng cõy, vỡ lợi ớch trăm năm thỡ phải trồng người”.
Những tư tưởng lớn, cũng là đạo đức lớn ấy của Bỏc mói mói định hướng cho việc xõy dựng con người Việt Nam hụm nay và mai sau.
Trồng người trong thời đại chỳng ta ngày nay là xõy dựng con người mới xó hội chủ nghĩa Đú là những con người yờu nước nồng nàn, cú tư tưởng xó hội chủ nghĩa, cú đạo đức, lối sống và tỏc phong xó hội chủ nghĩa, cú năng lực để làm chủ bản thõn, gia đỡnh, cụng việc mà mỡnh đảm nhận, đồng thời, để với tư cỏch là cụng dõn, tham gia cú hiệu quả vào việc làm chủ nhà nước và xó hội Trong sự nghiệp trồng người, trực tiếp là chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ, Bỏc Hồ luụn xỏc định vị trớ, vai trũ to lớn của giỏo dục và đào tạo.
1 Những khó khăn khi nhận nhiệm vụ:
Khó khăn nhất đối với tôi là tôi được đào tạo chuyên nghành về văn - tiếng Việt lại phải dạy kiêm nhiệm môn lịch sử lớp 7 Chính vì không được
đào tạo chuyên sâu về môn học này nên khi giảng dạy tôi gặp không ít khó khăn : từ khâu thiết kế giáo án đến khâu giảng bài cho học sinh Đặc biệt khó khăn hơn cả là việc sử dụng những kênh hình trong SGK lớp 7.Khi bắt tay vào thiết kế bài dạy , tôi rất lúng túng trong việc tiếp cận với những hình ảnh , sơđồ, lược đồ trong SGK.Nhiều hình ảnh tôi chưa hiểu rõ xuất xứ , nội dung ,
ý nghĩa nên rất hạn chế trong việc giảng bài cho HS Trong các đợt bồi dưỡng thay SGK mới, chúng tôi hầu như chỉ được giải thích về cấu tạo chương trình, những đổi mới về nội dung SGK ( kênh chữ ) mà không bồi dưỡng cụ thể về kênh hình Mặc dù số lượng hình trong SGK Lịch sử hiện hành ,tăng lên đáng
kể so với trước.Nghiên cứu các tài liệu về môn học , tôi thấy đã có nhiều cách giải đáp khác nhau trong việc sử dụng SGK trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông nhằm nâng cao hiệu quả giờ học Hầu hết chúng ta đều thống nhất rằng chỉ có thể sử dụng tốt SGK khi cả GV và HS hiểu sâu sắc nội dung bài viết (kênh chữ) cũng như tranh ảnh , lược đồ , sơ đồ ( kênh hình ) của SGK.Tuy
Trang 2nhiên , việc khai thác nội dung kênh hình trong SGK là biện pháp quan trọng
để nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử ở trường THCS.Nhận thức được điều
đó , tôi biết mình đang đứng trước khó khăn rất lớn : khó khăn từ thiết kế giáo
án đến việc truyền thụ tri thức Lịch sử cho HS
Bên cạnh khó khăn vì không được đào tạo chuyên sâu về lịch sử , tôi còn gặp khó khăn về đối tượng HS Trường Tống Văn Trân của tôi đứng chân trên địa bàn 2 phường : Cửa Bắc và Trần Đăng Ninh.Đây là địa bàn dân cư tương đối phức tạp của thành phố.Nơi có nhiều tụ điểm buôn bán ma tuý, nhiều hàng điện tử , nhiều hàng thuê truyện dễ lôi cuốn hấp dẫn HS hơn là việc học tập.Phụ huynh có con cái học ở trường phần lớn làm nghề tự do ,cuộc sống không ổn định Họ chỉ chú tâm nhiều vào việc lo toan cuộc sống thường nhật , ít quan tâm tới con cái Hầu như lớp nào trong trường tôi cũng có học sinh bố mất hoặc mẹ mất do ma tuý, do li hôn Các em phải sống với ông bà hoặc bác thiếu vắng tình yêu thương , sự quan tâm của cha mẹ Bởi vậy, việc dạy học lịch sử cho những đối tượng này càng khó khăn hơn Mặt khác, nhiều phụ huynh và cả HS có tư tưởng coi nhẹ môn học Lịch sử cho rằng đó là môn học phụ ít khi thi, không đáng quan tâm.Họ chỉ cho con em mình lao vào học toán , văn , ngoại ngữ - những môn học hay thi cử, ít để ý tới môn học này
Tóm lại, khi nhận nhiệm vụ của cấp trên giao cho về việc dạy môn Lịch
sử lớp 7 , tôi đứng trước nhiều khó khăn : khó khăn từ chuyên môn , từ đối tượng HS Là một GV tôi luôn trăn trở với ý nghĩ : Làm thế nào để tháo gỡ
được khó khăn từ việc thiết kế giáo án đến việc truyền thụ tri thức Lịch sử cho
HS, làm thế nào để HS yêu thích môn học Lịch sử , có niềm say mê khám phá những điều kì diệu của các hình ảnh , sơ đồ, lược đồ.??? Những câu hỏi đó đã thôi thúc tôi tìm tòi đổi mới phương pháp dạy học lịch sử lớp 7 Cụ thể là tìm tòi cách tiếp cận, tìm hiểu nội dung, ý nghĩa những hình ảnh (kênh hình) trong SGK lịch sử lớp 7 để giảng dạy đạt hiệu quả
2.Cơ sở thực hiện sáng kiến
a, Nhận thức quan điểm về chủ trương đổi mới PPDH
Như chúng ta đã biết đổi mới phương pháp dạy học tuy đã được Bộ GDĐT phát động thành một phong trào rộng khắp ở các trường học trên cả nước , bắt đầu từ phong trào" chống dạy chay ",chống lối dạy "thầy đọc trò chép" đến việc dùng các phương tiện và thiết bị hiện đại để giảng dạy Song
đến nay câu hỏi : Đổi mới dạy học là gì ? Đổi mới như thế nào ? thì đối với một số GV đã nhiều năm giảng dạy vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng
Theo cách hiểu của tôi thì đổi mới phương pháp dạy học không phải là lên án cách dạy truyền thống, vứt bỏ và thay chúng bằng cách dạy mới khác với cách dạy trước đây Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu mà làm cho mục tiêu ấy thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn với những bước đi và biện pháp thích hợp hơn Đúng như nghị quyết của BCH Trung
ương Đảng đã chỉ rõ :" Coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân văn nhất là tiếng Việt, lịch sử dân tộc, địa lí ,văn hoá Việt nam Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo , khắc phục lối truyền thụ kiến thức một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo cho người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học cho HS "
Trang 3Từ đó, mỗi GV cần nhận thức được rằng đổi mới PPDH không phải người dạy tìm ra và thực hiện một cách làm mới hoàn toàn mà là biết vận dụng một cách có sáng tạo có hiệu quả những cách thức , những con đường tổ chức hoạt động nhận thức cho HS nhằm đạt được mục tiêu dạy học và qua đó thực hiện những thủ pháp dạy học của mình.Trong quá trình đó, GV đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn quản lí ; HS giữ vai trò chủ động sáng tạo trong việc tiếp nhận tri thức Như vậy đổi mới PPDH phải được hiểu là vận dụng sáng tạo các phương pháp, các biện pháp, thủ thuật dạy học truyền thống kết hợp các biện pháp , phương tiện , công nghệ và các thư pháp dạy học hiện đại phù hợp với đối tượng và nội dung chương trình, điều kiện dạy học nhằm làm cho người học chủ động ,sáng tạo trong việc tiếp thu và sử lí tri thức
b, Những cơ sở thực hiện sáng kiến
* Cơ sở lí luận :
Qua việc tìm hiểu môn học Lịch sử , tôi hiểu rằng: lịch sử xã hội loài người bắt đầu từ khi con người xuất hiện Ngay từ buổi đầu sơ khai ấy , con người đã có ý thức về lịch sử , tìm cách lưu lại cho đời sau những hiểu biết của quá trình đi lên của xã hội loài người Trước khi chữ viết ra đời , một số quan niệm về lịch sử đã tồn tại và ẩn hiện trong các trong các truyền thuyết dân gian , được truyền lại dưới hình thức tư liệu truyền miệng , có sức thuyết phục cao , song tác dụng giáo dục về độ chính xác bị hạn chế Trải qua năm tháng nghành sử học ra đời và cùng với nó , việc giáo dục lịch sử ở nhà trường cũng bắt đầu được tiến hành Cùng với các hệ thống môn học ở trường phổ thông , môn lịch sử có ý nghĩa , vị trí , vai trò rất quan trọng Với việc học lịch sử học sinh sẽ hiểu biết về quá khứ , nắm được quá trình đi lên của xã hội loài người , hiểu rõ cội nguồn dân tộc và quá trình lao động sáng tạo của tổ tiên trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Qua đó vừa tiếp thu được những thành tựu kì diệu của nền văn minh nhân loại, vừa giữ được truyền thống quý báu tốt đẹp của văn hoá dân tộc Qua việc học lịch sử, các em sẽ kế thừa và phát huy một cách sáng tạo những truyền thống tốt đẹp của dân tộc , đúc rút ra những quy luật phát triển của xã hội từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống hiện tại
* Cơ sở thực tiễn :
Thực hiện nghị quyết của Đảng, dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của các nhà khoa học , các cấp quản lí từ Bộ GDĐT đến các cơ quan chức năng theo nghành dọc, các giáo viên bộ môn lịch sử nói riêng và các bộ môn khác nói chung đã đẩy mạnh việc cải tiến, đổi mới phương pháp dạy và học để nâng cao hiêụ quả giáo dục của bộ môn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới và thực hiện tốt những mục tiêu giáo dục mà Đảng đã đề ra
Trong những năm gần đây, nghành giáo dục đào tạo đã tiến hành thay sách giáo khoa mới cho HS tiểu học đến THCS đồng thời tích cực triển khai công tác đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực chủ
động sáng tạo và năng lực tự học của HS Trong phong trào chung ấy ,bộ môn lịch sử đã tiến hành đổi mới nhiều khâu cơ bản của quá trình dạy học, kế thừa phương pháp dạy học truyền thống kết hợp với phương pháp dạy học mới.Nhiều cuộc hội nghị chuyên đề , hội thảo chuyên môn , hội giảng các cấp, nhiều cuộc thi viết sáng kiến kinh nghiệm, nhiều tiết dạy thể nghiệm, nhiều
Trang 4tiết dạy hội giảng mang lại nhiều khám phá mới mẻ và những định hướng cụ thể cho GV dạy môn lịch sử ,tạo cho HS tâm thế độc lập sáng tạo, vì thế mà chất lượng của môn học không ngừng được nâng cao Qua các cuộc thi , hội thảo CM , năng lực sư phạm, tay nghề của đội ngũ GV được nâng lên rõ rệt,
số GV đạt giờ dạy khá giỏi ngày càng nhiều, chất lượng bài làm của HS qua các kì thi cũng được nâng lên, càng ngày HS càng hứng thú hơn trong việc học tập môn lịch sử
* Thực trạng của việc dạy - học môn lịch sử hiện nay
Bên cạnh những mặt mạnh như trên, việc dạy học môn lịch sử vẫn còn một số tồn tại cần phải khắc phục ngay như : Một bộ phận nhỏ GV chưa tích cực trong việc tìm tòi đổi mới phương pháp, chưa thấy được những ưu việt của phương pháp mới cho rằng phức tạp mất thời gian, việc đổi mới chưa thường xuyên liên tục.Nhiều GV chưa thực sự giác ngộ ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp trong mục tiêu đào tạo lớp người mới, năng động sáng tạo phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nên chưa quyết tâm từ bỏ thói quen dạy học cũ truyền đạt kiến thức thụ động Đặc biệt là tình trạng GV dạy chay, không sử dụng thiết bị sẵn có của nhà trường.Chỉ khi có đoàn thanh tra hoặc kiểm tra mới sử dụng thiết bị dạy học nên rất lúng túng.Ơ nơi này nơi khác vẫn còn hiện tượng thầy đọc trò chép một cách thụ động Không những thế nhiều GV còn có ý coi nhẹ môn học này cho đó là môn học phụ, chưa giành nhiều thời gian tâm huyết đầu tư công sức trí tuệ vào khâu thiết kế giáo án, soạn chiếu lệ đối phó làm cho các bài giảng hời hợt,nông cạn,buồn tẻ không kích thích được tư duy, sự độc lập sáng tạo của HS
Một số HS coi nhẹ môn lịch sử, coi là môn học phụ , học đối phó chiếu
lệ giành ít thời gian cho môn học này nên chất lượng không cao
Phần II: Các giải pháp thực hiện
Để tháo gỡ khó khăn khi nhận nhiệm vụ dạy môn Lịch sử lớp 7, tôi đã tìm hiểu kĩ tâm sinh lí học sinh Đây là lứa tuổi có sự chuyển biến về nhận thức và có sự nhảy vọt về thể chất.ở lứa tuổi này các em đang tập làm người lớn , các em luôn muốn khẳng định mình.Trong giờ dạy tôi thường giao việc cho từng học sinh tuỳ theo khả năng của các em, gắn việc tìm hiểu phần kênh chữ kết hợp với việc tìm hiểu phần kênh hình để làm sáng tỏ nội dung bài học.Tôi thường xuyên khen thưởng động viên, khích lệ các em khi các em thực hiện tốt Để nắm vững hơn bài tôi thường xuyên đọc kĩ SGK, Sách GV, tư liệu lịch sử có liên quan tới bài giảng, đọc các giáo trình về phương pháp dạy học lịch sử, cập nhật thường xuyên các thông tin trên mạng Sau khi nghiên cứu kĩ SGK lịch sử lớp 7 , tôi quan tâm những kênh hình trong sách , tìm hiểu
kĩ rồi phân loại các kênh hình đó Chẳng hạn như : tranh, ảnh chân dung các nhân vật lịch sử; bản đồ, lược đồ; các mẫu vật phục chế Từng loại tôi lựa chọn phương pháp soạn giảng thích hợp Khi giảng dạy lịch sử GVcó thể sử dụng kết hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau: như phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp tổ chức dạy học theo nhóm nhưng việc sử dụng phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan (kênh hình ) là một trong những phương pháp nhằm phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của HS Đây là phương pháp rất đặc trưng của bộ môn, vì lịch sử là tất cả những gì đã trải qua trong quá khứ HS rất khó hình dung , tái hiện trong
Trang 5quá trình học tập Do đó để tạo ra những biểu tượng cụ thể bằng hình ảnh , lược đồ , bản đồ để giúp HS hình dung ra được những sự vật hiện tượng, sự kiện lịch sử thì việc sử dụng các kênh hình là thật sự cần thiết và vô cùng quan trọng Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình soạn giảng, tôi tìm hiểu đặc
điểm chương trình sách giáo khoa lớp7 mới liên quan tới các kênh hình Một
đặc điểm nổi bật của chương trình SGK lịch sử mới lớp 7 là việc đổi mới các kênh thông tin Bên cạnh hệ thống kênh chữ, SGK rất chú trọng đến hệ thống kênh hình Kênh hình không chỉ minh hoạ cho nội dung trình bày trong bài viết như trước đây mà kênh hình được coi là nguồn kiến thức, là một bộ phận hữu cơ của bài học Kênh hình có vai trò bổ sung , nâng cao nội dung bài học
Do đó, nó được coi là cơ sở để GV và HS trao đổi, phát hiện HS phải làm việc trực tiếp với kênh hình để nắm vững nội dung bài học, từ đó nâng cao kĩ thuật quan sát và phát triển tư duy độc lập của các em
Bài 14 - Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên.
(thế kỷ XIII)
Hình 29 - Hình vẽ quân Mông Cổ
Nội dung
Đây là ảnh chụp lại bức tranh trong bản soạn thảo Tập sử biên niên của
Ra-siat U-đin (1247 - 1318) một sử gia Ba Tư chuyên nghiên cứu và viết về lịch sử người Mông Cổ Nhìn vào bức tranh ta thấy có hai phần tranh và ba
đoạn chữ giải thích các hình vẽ, nhằm giới thiệu sức mạnh, tổ chức quân đội, trang bị vũ khí, chiến thuật và cách đánh của người Mông Cổ Hình trên cùng, giới thiệu đội quân xâm lược Mông Cổ chiến đấu trên lương ngựa với vũ khí chủ yếu là ngọn giáo và cung tên Trên các vũ khí, binh sĩ Mông Cổ buộc dải vải với nhiều màu sắc, phấp phới bay trong gió, thể hiện các chiến binh đang xông pha trận mạc Hình dưới thể hiện chiến thuật, cách đánh và sức mạnh
của kị binh Mông Cổ: "Quân Mông Cổ rất thiện chiến Quân Mông Cổ đặc
biệt biết lợi dụng điều kiện, hành động nhanh chóng, mẫn tiệp của kị đội Về
đánh trận, họ lợi ở dã chiến, không thấy lợi không tiến quân Trăm quân kị quay vòng có thể bọc được vạn người, nghìn quân kị tản ra, có thể dài đến trăm dặm Địch phân tất phân, địch hợp tất hợp, cho nên kị đội là ưu thế của họ, hoặc xa hoặc gần, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc tụ hoặc tán, hoặc hiện hoặc ẩn, đến như trên trời rơi xuống, đi như chớp giật" Với đội quân mạnh
mẽ đó, Thành Cát Tư Hãn và những người kế tục đã liên tiếp mở các cuộc chiến tranh xâm lược, chinh phục thế giới Vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu nhà cửa đổ nát, thành trì tan hoang, nhân dân bị giết hoặc bị bắt làm nô lệ đến
đó
Phương pháp sử dụng.
Hình 29 được sử dụng khi dạy mục I, ý 1 - Âm mưu xâm lược Đại Việt
của Mông Cổ Trước hết, GV hướng dẫn HS quan sát toàn bộ bức tranh, từ trái
qua phải, từ trên xuống dưới và gợi mở bằng một số câu hỏi:
Trang 6Quan sát bức tranh, em thấy có những hình ảnh gì? Qua đó cho thấy quân Mông Cổ chủ yếu là lực lượng nào? Những hình vẽ trong tranh nói lên
điều gì? (thể hiện sức mạnh của quân Mông Cổ)
Trên cơ sở HS thảo luận, GV bổ sung và chốt lại những ý cơ bản theo nội dung trên
Hình 30 - Lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mong Cổ (1258)
Nội dung:
Tháng 1 - 1258, ba vạn quân Mông Cổ do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy tiến vào xâm lược nước ta Quân giặc theo đường sông Thao tiến xuống Bạch Hạc (Việt Trì - Phú Thọ), rồi tiến về vùng Bình Lệ Nguyên (Vĩnh Phúc) Tại đây, quân ta do Trần Thái Tông chỉ huy đã chiến đấu hết sức dũng cảm Nhưng trước thế giặc đang mạnh, quân ta chủ động rút lui theo sông Cà Lồ về Phủ Lỗ, rồi tiếp tục rút khỏi kinh thành Thăng Long, xuôi theo sông Thiên Mạc về vùng Thiên Trường (Nam Định) để bảo toàn lực lượng
Khi giặc tràn vào Thăng Long thì phố phường đã vắng lặng, không một
bóng người, không một hạt thóc, vì nhân dân đã thực hiện kế "thanh dã"
(vườn không, nhà trống) Chúng điên cuồng cướp phá, nhưng tình thế ngày càng nguy khốn Trước tình hình đó, ta mở cuộc phản công lớn ở Đông Bộ
Đầu (bến Sông Hồng, ở phố Hàng Than, Hà Nội ngày nay) Ngày 29 - 1 -
1258, quân Mông Cổ bị đánh bật ra khỏi thành Thăng Long Trên đường rút chạy, chúng bị quân đội nhà Trần truy kích Đến vùng Quy Hoá (Yên Bái, Lào Cai) bị dân binh của Hà Bổng chặn đánh, khiến người, ngựa chết ngổn ngang Quân giặc hoảng loạn tháo chạy về nước Cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi trong vòng chưa đấy một tháng
Phương pháp sử dụng.
Lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ
(1258) được sử dụng khi dạy mục I, ý 2 -Nhà Trần chuẩn bị và tiến hành
kháng chiến chống quân Mông Cổ GV cần vẽ phóng to lược đồ theo đúng yêu
cầu của bản đồ lịch sử, hoặc sử dụng lược đồ có sẵn Khi sử dụng, GV giới thiệu toàn bộ lược đồ, giải thích cho HS nắm được các kí hiệu trên lược đồ, yêu cầu HS quan sát, kết hợp với phần kênh chữ trong SGK, gợi mở bằng một
số câu hỏi để HS tìm hiểu:
Trên cơ sở ý kiến phát biểu của HS, GV tường thuật chốt lại (như nội dung trên) Kết thúc, GV có thể cho HS thảo luận: "Vì sao quân Mông Cổ mạnh mà vẫn bị quân ta đánh bại?" Nếu thời gian không cho phép, GV có thể tường thuật diễn biến của cuộc kháng chiến thông qua lược đồ, sau đó cho HS thảo luận nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến (chuẩn bị chu đáo, có quyết tâm cao, kế sách đúng )
Hình 31 - Lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân Nguyên (1285)
Trang 7Nội dung
Cuối tháng 1 - 1285, khoảng 50 vạn quân Nguyên do Thoát Hoan làm tổng chỉ huy theo hai đường tràn vào xâm lược nước ta Phí bắc, quân thuỷ xuôi theo đường Sông Hồng và quân bộ qua Chi Lăng tiến về Thăng Long;
phía nam, Tao Đô từ Chiêm Thàng tiến lên mặt nam của Đại Việt (kí hiệu
bằng các mũi tên đen trên lược đồ) Thế giặc rất mạnh Sau một số trận chiến
đấu chặn giặc ở vùng biên giới (kí hiệu bằng mũi tên xanh trên lược đồ), Trần
Quốc Tuấn cho quân lui về Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương) Trước thế giặc mạnh, quân Trần tiếp tục thực hiện kế "vườn không nhà trống", rút lui khỏi
Thăng Long về Thiên Trường (Nam Định) Giống như lần trước, quân Thoát Hoan kéo vào Kinh thành Thăng Long vắng lặng, nên chúng không dám ở trong thành mà phải dựng doanh trại ở phía bắc Sông Hồng
Lúc này, Thoát Hoan mở cuộc tấn công lớn xuống phía nam, Toa Đô
được lệnh từ Chăm-pa đánh ra Nghệ An - Thanh Hoá, tạo thế "hai gọng kìm"
hòng tiêu diệt quân chủ lực của ta Tình thế vô cùng căng thẳng, Trần Quốc Tuấn hạ lệnh cho quân tiếp tục rút lui đẻ củng cố lực lượng và chuẩn bị phản công khi có thời cơ Bị thất bại trong âm mưu bắt sống vua Trần và tiêu diệt quân chủ lực của ta, Thoát Hoan cho quân lui về Thăng Long Thời gian qua, quân địch lâm vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng
Tháng 5 - 1285, nhận thấy thời cơ dã đến, Trần Quốc Tuấn hạ lệnh cho quân ta tổng phản công quyết liệt Tại Tây Kết, Hàm Tử, Cương Dương, quân
ta đánh giặc tan tành Nhân đà thắng lợi, ta tiến thẳng về giải phóng Thăng Long Quân giặc hoảng loạn tháo chạy, bị quân ta chặn đánh khắp nơi, đặc biệt ở Vạn Kiếp, quân địch rơi vào trận đia phục kích của ta, xác giặc chết ngổn ngang Tại Phù Ninh, Chi Lăng, Khả Li quân giặc tiếp tục bị phục kích và tiêu diệt Thoát Hoan phải chui vào ống đồng, bắt lính khiêng qua biên giới để thoát thân Lúc này, Toa Đô ở phía nam không hay biết gì, kếo quân từ Châu ái (Thanh Hoá) ra Thăng Long bị phục kích ở Tây Kết, Toa Đô bị chém
đầu Như vậy, sau hai tháng liên tục phản công, hơn 50 vạn quân Nguyên bị
đánh tan tành Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai thắng lợi rực rỡ
Phương pháp sử dụng
Lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân Nguyên
(1285) được sử dụng khi dạy mục II, ý 3 - Diễn biến và kết quả của cuộc
kháng chiến Để tiện cho HS theo dõi, GV cần phóng to lược đồ trong SGK
(theo đùng yêu cầu của bản đồ lịch sử), hoặc sử dụng lược đồ có sẵn khi sử dụng GV giới thiệu khái quát lược đồ; yêu cầu HS quan sát lược đồ, kết hợp với SGK đrr thảo luận một số câu hỏi do giáo viên đưa ra
Sau khi HS trao đổi, GV tường thuật chốt lại (theo nội dung trên) Kết thúc, GV cho HS thảo luận về nguyên nhân thắng lợi cuả cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai Nếu thời gian không cho phép, GV có thể tường thuật diễn biến của cuộc kháng chiến trên lược đồ và sau đó cho HS thảo luận cáhc đánh của ta và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến
Trang 8Hình 32- Lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân Nguyên (1287 - 1288)
Nội dung
Sau hai lần xâm lược Đại Việt đều thất bại, vua Nguyên càng tức giận nên quyết tâm đánh Đại Việt lần thứ ba để trả thù Cuối năm 1287, quân giặc chia làm hai đường tiến vào nước ta Quân bộ gồm 50 vạn quân do Thoát Hoan chỉ hu vượt qua biên giới vào Lạng Sơn, rồi tiến xuống phía nam (kí hiệu bằng mũi tên đen trên lược đồ) Bị quân ta chặn đánh ở nhiều nơi, nhưng chúng vẫn đến xuống Vạn Kiếp, xây dựng căn cứ và chủ trương đánh lâu dài viới ta Đồng thời đạo quân thuỷ gồm 600 chiến thuyền do Ô Mã Nhi chỉ huy, theo đường biển qua Vân Đồn tiến vào nước ta Phó tươngd Trần Khánh Dư mang quân chặn đánh nhưng bị thất bại, quân giặc hùng hổ tiến qua sông Bạch Đằng, hội quân với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp
Đoán biết đoàn thuyền lương của giặc thế nào cũng đến sau, Trần Khánh Dư chuẩn bị lực lượng tổ chức trận phục kích mới Quả nhiên, sau mấy ngày, đoàn thuyền lương của giặc do Trường Văn Hổ chỉ huy nặng nề tiến qua Vân Đồn Đợi cho quân địch lọt vào trận địa phục kích, Trần Khánh Dư hạ lệnh cho quân từ nhiều phía đổ ra đánh rất dữ dội Phần lớn thuyền địch bị
đắm, số còn lại bị ta chiếm
Chờ mãi không thấy thuyền lương đến Vạn Kiếp, tháng 2 - 1288, Thoát Hoan xua quân tiến đánh Thăng Long Giống như hai lần trước, Thăng Long vắng lặng Đại quân của Thoát Hoan rơi vào tình cảnh khốn quẫn, chúng phải rút về Vạn Kiếp Thời gian trôi qua, quân giặc lâm vào thế bị cô lập, thiếu lương thực, thời tiết xấu nên buộc phải rút về nước Trên đường rút quân, chúng rơi vào trận địa phục kích của ta ở sông Bạch Đằng
Phương pháp sử dụng
Lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quan Nguyên
(1287 - 1288) được sử dụng khi dạy học mục III, ý 1 - Nhà Nguyên xâm lược
Đại Việt và ý 2 - Trận Vân Đồn tiêu diệt đoạn thuyền lương của Trương Văn
Hổ GV phóng to lược đồ, hoặc sử dụng lược đồ có sẵn (nếu có) Khi sử dụng,
GV giải thích hệ thống ký hiệu trên lược đồ; dựa vào lược đồ kết hợp miêu tả, lược thuật diễn biến cuộc kháng chiến Nếu có thời gian, GV nên gợi mở một
số câu hỏi để HS thảo luận:
Quân Nguyên tràn vào nước ta theo đường nào, thế giặc ra sao? Em hãy cho biết ý đồ tiến quân của giặc Ta đã tiêu diệt đoàn thuyền lương của địch ở
đâu? ý nghĩa của chiến thắng đó Sau trận Vân Đồn, tình thế quân Nguyên như thế nào?
Sau khi HS phát biểu, GV lược chốt lại những nội dung cơ bản như trên
Trang 9Hình 33 - Lược đồ chiến thắng Bạch Đằng - năm 1288.
Nội dung
Nhìn vào lược đồ ta thấy, Bạch Đảng là con sông lớn, do sông Đá Bạc, sông Giá và nhiều nhánh khác đổ vào Lòng sông rộng mênh mông, bên phải
có dãy núi đá vôi Tràng Kênh ăn sát ra bờ sông, bên trái là rừng um tùm Nắm
được kế hoạch rút quân của địch, Trần Quốc Tuấn huy động quân dân đẽo nhọn cọc gõ (lim, táu), rồi bịt sắt ở đầu cọc, đem cắm xuống lòng sông tạo thành trận địa cọc ngầm khổng lồ Thuỷ quân của ta mai phục trong các nhánh
và vũng sông; bộ binh giấu kín trong núi đá Tràng Kênh và rừng rậm bên trái sông Bạch Đằng; đại quân do vua Trần và Trần Quốc Tuấn chỉ huy sẵn sàng tiếp ứng cho trận quyết chiến lược
Sáng sớm 9-4-1288, đoàn thuyền giặc do Ô Mã Nhi chỉ huy, có bộ binh
hộ tống từ Vạn Kiếp tiến ra cửa sông Bạch Đằng về nước Một đội thuyền của
ta ra khiêu chiến , rồi vờ thua chạy Ô Mã Nhi ra lệnh cho quân đuổi theo Khi quân địch lọt vào trận địa mai phục, quân ta bất ngờ quay lại phản công Cùng lúc đó nước triều rút xuống, thuyền địch bị dồn về bãi cọc ngầm, một số va vào cọc nhọn vỡ và đắm Quân ta từ hai bờ sông đổ ra đánh, những bè lửa
được phóng vào đốt cháy thuyền địch Đồng thời, hàng trăm chiệc thuyền của
ta từ các nhánh sông nhất loạt lao tới Quân địch không tở tay kịp, chết rất nhiều Chiều tối, toàn bộ thuỷ quân địch bị tiêu diệt, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp
bị bắt sống Chiến thắng Bạch Đằng làm quân địch khiếp sợ, phải từ bỏ mộng xâm lược nước ta
Phương pháp sử dụng.
Lược đồ chiến thắng Bạch Đằng - năm 1288 được sử dụng khi dạy học
mục III, ý 3 - Chiến thắng Bạch Đằng Để tiện cho HS theo dõi, GV phóng to
lược đồ hoặc sử dụng bản đồ có sẵn (nếu có) Khi sử dụng, trước hết GV giới thiệu hệ thống kí hiệu trên lược đồ, yêu cầu HS quan sát, kết hợp với theo dõi nội dung SGK và gợi mở một số câu hỏi:
Nhìn trên lược đồ em có nhận xét gì về vị trí sông Bạch Đằng: Đoán
được âm mưu rút quân của địch bằng đường thuỷ qua sông Bạch Đằng, Trần Quốc Tuấn đã làm gì? Khi thuyền giặc đến gần bãi cọc quân ta đã làm gì? Kết quả của trận đánh ra sao?
Sau khi HS thảo luận, GV tường thuật chốt lại nội dung trận đánh (như trên) Kết thúc tường thuật, GV yêu cầu HS thảo luận: ý nghĩa chiến thắng Bạch Đằng năm 1288
Trang 10Hình 34 - Tượng Trần Hưng Đạo (Nam Định)
Nội dung
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, vị tướng tài, vị anh hùng dân tộc, người đã có công lao rất lớn trong ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược dưới thời Trần Sau khi ông mất, ông đã được nhân dân suy tôn là Đức thánh Trần và lập đền thờ ở rất nhiều nơi
Bức ảnh trong SGK chụp từ phía chính diện bước tượng Trần Hưng
Đạo, đặt tại phố Nguyễn Du, trung tâm thành phố Nam Định Công trình này
được khánh thành vào ngày 20 - 8 - 2000 (âm lịch), nhân ngày giỗ Trần Hưng
Đạo
Phương pháp sử dụng
Bức ảnh Tượng Trần Hưng Đạo được sử dụng khi nói về những đóng góp của Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông
- Nguyên ở mục IV, ý 1 -Nguiyên nhân thắng lợi.
Bài 15- Sự phát triển kinh tế và văn hoá thời Trần.
Hình 35- Thạp gốm hoa nâu (thế kỉ XIII - XIV)
Nội dung
Bước ảnh trong SGK chụp lại chiếc thạp gốm hoa nâu (thế kỉ XIII - XIV) được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Đây là chiếc thạp gốm hoa nâu được tìm thấy ở khu đèn Trần, khoảng năm 1972 Chiếc thạp cao 57 cm,
đường kính miệng thạp 38 cm Dáng thạp to, vững chắc, cốt gốm dày dặn, chất đất thô xốp hơn gốm men ngọc, mặt trong của thạp không tráng men thấy
rõ được cả vết miết thành gốm, mặt ngoài thạp phủ một lớp men màu vàng ngà Quanh miệng thạp trang trí đắp nổi một vòng cánh sen dày dặn, bốn góc vai thạp gắn bốn núm tai cách đều nhau Thân thạp trang trí hoa văn theo lối khắc hoạ tô nâu, giản dị, thoáng đạt Quanh phần chân thạp, khắc vẽ những
đường cong đơn giản hình móc câu nối tiếp, uốn lượn nhấp nhô Thạp gốm hoa nâu nói riêng, đồ gốm hoa nâu nói chung sản xuất ra chủ yếu phục vụ trong nước chứ không bán ra nước ngoài Gốm hoa nâu không chỉ có giá trị sử dụng mà về nghệ thuật cũng rất độc đáo, tạo nên một phong cách rất Việt Nam và mang đậm nét nghệ thuật dân gian
Phương pháp sử dụng
Bước ảnh Thạp gốm hoa nâu (thế kỉ XIII - XIV) được sử dụng khi nói
về thủ công nghiệp thời Trần, trong mục I, ý 1 - Tình hình kinh tế sau chiến
tranh GV cho HS quan sát kĩ bức tranh và miêu tả hình dáng, hoa văn, giá trị