ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------ TRẦN MINH QUANG Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI VÀ LỢN CON TẠI TRANG TRẠ
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
Như ta đã biết “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hơp ̣ nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004), bệnh ở đàn lợn thường phát sinh từ các nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc bệnh không truyền nhiễm hoặc sự kết hợp của hai yếu tố Nhiều biện pháp đã được đề xuất và áp dụng nhằm kiểm soát nguy cơ bùng phát và lây lan bệnh trên đàn lợn Hầu hết các biện pháp này tập trung vào giảm lan truyền của tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn.
Vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn tồn tại cả trong môi trường và đường tiêu hóa của vật chủ Khi điều kiện môi trường bị ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống và thức ăn bị nhiễm khuẩn, và sự thay đổi của điều kiện ngoại cảnh làm lợn giảm sức đề kháng, nguy cơ nhiễm E coli và bùng phát bệnh sẽ tăng lên, vì vậy khâu vệ sinh và chăm sóc có ý nghĩa lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi, việc tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật là yếu tố thiết yếu; chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những con vật khỏe mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật, ngược lại chăm sóc không đầy đủ sẽ dẫn tới dịch bệnh Chuồng lợn nái phải được vệ sinh và tiêu độc trước khi đẻ Nhiệt độ trong chuồng cần đảm bảo khoảng 27–30°C đối với lợn con mới sinh và 28–30°C đối với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín và ấm áp vào mùa đông và đầu xuân là rất quan trọng Nên dùng các thiết bị sưởi ấm hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi.
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [18], từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:
Chuồng trại phải được thiết kế phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông và có biện pháp cách ly với môi trường bên ngoài; sau mỗi lứa nuôi tiến hành tẩy uế bằng cách rửa sạch, làm khô và phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng phù hợp, để chuồng trống tối thiểu 15 ngày với vật nuôi thương phẩm và 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản; đối với chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh, cần vệ sinh tổng thể và triệt để Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y và phun sát trùng kỹ toàn bộ chuồng từ mái, dụng cụ đến môi trường xung quanh, để khô và dọn dẹp; các chất thải rắn trong chăn nuôi được thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng và nước rửa chuồng được thu gom để xử lý và không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1-2 lần mỗi tuần trong suốt thời gian trống chuồng, tối thiểu 30 ngày; các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi phải được rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng quanh chuồng nuôi là yếu tố thiết yếu để duy trì an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường nuôi.
Phòng bệnh bằng vaccine là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất
Vaccine là một chế phẩm sinh học chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hoặc vật liệu di truyền như RNA, DNA) và đã được làm giảm độc lực hoặc vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc bằng các phương pháp sinh học phân tử (vaccine thế hệ mới – vaccine công nghệ gen) Khi được tiêm vào cơ thể, vaccine không gây bệnh mà kích hoạt đáp ứng miễn dịch, giúp cơ thể có khả năng chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh tương ứng.
Khi đưa vaccine vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể phòng bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vaccine) mới có miễn dịch
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012) [ 9], nguyên tắc để điều trị bệnh là: Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
Để điều trị hiệu quả, cần đồng thời tiêu diệt mầm bệnh và tăng cường sức đề kháng của cơ thể Khi hệ miễn dịch hoạt động tốt, cơ thể có khả năng tự chống lại mầm bệnh, giúp bệnh nhanh chóng khỏi, ít tái phát và giảm thiểu biến chứng Nhờ đó, miễn dịch lâu bền được xây dựng, nâng cao sức khỏe tổng thể và ổn định sự phục hồi.
Trong chăm sóc gia súc, cần có một quan điểm rõ ràng về chữa bệnh: chỉ nên điều trị những con có khả năng hồi phục và không làm giảm sức kéo cũng như sản lượng sản phẩm Nếu quá trình chữa trị kéo dài và chi phí vượt quá giá trị của gia súc, thì không nên tiếp tục điều trị để bảo toàn lợi ích kinh tế và tránh lãng phí tài nguyên.
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012) [9], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
Hộ lý gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt, thoáng mát, sạch sẽ và yên tĩnh Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân và nước tiểu để phát hiện sớm biến chuyển của bệnh và kịp thời đối phó Cung cấp thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh nhằm duy trì sức khỏe và thúc đẩy tốc độ hồi phục cho gia súc.
Dùng kháng huyết thanh chủ yếu để chữa bệnh đặc hiệu, thường được áp dụng trong ổ dịch và để điều trị cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố).
Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, trong khi một số loại có tác dụng đặc hiệu nhằm chữa căn nguyên và nhắm đúng mầm bệnh Để đạt hiệu quả điều trị, hóa dược cần tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ và có nguy cơ phát triển đề kháng cũng như lây truyền tính kháng thuốc sang các thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, bởi nếu một loại thuốc chưa tác động đến mầm bệnh thì một loại khác có thể mang lại hiệu quả tốt hơn.
Kháng sinh là các thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản hoặc tiêu diệt vi khuẩn, nhưng việc sử dụng kháng sinh có thể gây tai biến do độc tính của thuốc, do phản ứng dị ứng, hoặc khi tiêu diệt nhiều vi khuẩn cùng lúc làm giải phóng lượng độc tố và làm suy giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Dùng kháng sinh bừa bãi còn dẫn tới hiện tượng kháng thuốc, làm giảm hiệu quả chữa bệnh Vì vậy, khi dùng kháng sinh cần tuân thủ các nguyên tắc an toàn và sử dụng đúng chỉ định của bác sĩ, đồng thời tuân thủ liều lượng và thời gian điều trị để hạn chế kháng thuốc và bảo vệ sức khỏe.
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã được xác định và bắt đầu điều trị với liều cao ngay từ đầu để tối ưu hiệu quả Các đợt điều trị sau có thể giảm liều lượng để duy trì hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ.
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
Việc phối hợp nhiều loại kháng sinh giúp giảm liều lượng và độc tính của từng loại thuốc, đồng thời mở rộng phổ tác động để diệt được nhiều chủng vi khuẩn hơn Nhờ đó, liệu pháp kết hợp tăng hiệu quả điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc, mang lại lợi ích cho quá trình hồi phục và giảm biến chứng nhiễm khuẩn.
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.2.2 Những hiểu biết về một số bệnh gặp tại cơ sở
Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước
Phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” nhấn mạnh vai trò của công tác phòng ngừa trong việc hạn chế tối đa sự xuất hiện của bệnh tật Khi phòng bệnh được triển khai hiệu quả, rủi ro mắc bệnh sẽ được giảm thiểu và sức khỏe cộng đồng được bảo đảm Vì vậy, phòng bệnh và chữa bệnh cần được kết hợp với nhiều biện pháp đồng bộ, từ giáo dục sức khỏe, tiêm chủng, vệ sinh cá nhân đến kiểm tra định kỳ và điều trị kịp thời.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cộng sự (2000) [11], viêm tử cung ở lợn do nhiễm khuẩn Streptococcus và Colibacillus có thể lây từ lợn con sang lợn mẹ qua cuống rốn, đặc biệt khi đẻ khó và nhốt chật khiến lợn mẹ và lợn con tiếp xúc gần, hoặc qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây trầy xước, từ đó hình thành các ổ viêm nhiễm trong tử cung và âm đạo.
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)
Theo tác giả Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [8], khi gia súc bị bệnh viêm tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ
Theo Phạm Hữu Doanh và cs, (2003) [6], trước khi đẻ lau, xoa vú và tắm cho nái Cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1h đẻ, cắt răng nanh lợn con Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt Tiêm kháng sinh: Penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 10ml nước cất tiêm quanh vú Nếu nhiều vú bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20 ml nước cất, tiêm xung quanh các vú viêm Tiêm trong 3 ngày liên tục
Theo Trần Tiến Dũng và các cộng sự (2002) [8], bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỉ lệ cao từ 30–50%, trong đó viêm các cơ quan bên ngoài ít hơn, chiếm khoảng 20%, còn lại 80% là viêm tử cung Viêm tử cung là một bệnh lý thường gặp ở gia súc cái sau sinh Quá trình viêm làm hỏng tế bào và tổ chức của các lớp hay tầng tử cung, gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái và có thể làm giảm hoặc mất khả năng sinh sản.
Trong quá trình mang thai, lợn nái ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như Leptospirosis (bệnh xoắn khuẩn) và Brucellosis (bệnh sảy thai truyền nhiễm), cùng với một số bệnh truyền nhiễm khác khiến cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến sảy thai, đẻ non và thai chết lưu, từ đó gây viêm tử cung và ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản cũng như năng suất của đàn lợn (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004).
Nguyên nhân chính gây viêm tử cung ở nái là thiếu dinh dưỡng, chăm sóc và quản lý chuồng nuôi kém, vệ sinh không tốt, tiểu khí hậu chuồng nuôi bất lợi, tuổi tác và số lứa đẻ, tình trạng sức khỏe và rối loạn nội tiết tố, cũng như nhiễm khuẩn sau khi sinh Những yếu tố này tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển trong tử cung, dẫn đến viêm nhiễm sau sinh Từ đó, các biện pháp phòng bệnh viêm tử cung ở nái tập trung vào cải thiện dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe, nâng cao quản lý chuồng nuôi và vệ sinh, điều chỉnh tiểu khí hậu chuồng nuôi, theo dõi tuổi và lứa đẻ, kiểm soát tình trạng sức khỏe và sự cân bằng nội tiết tố, đồng thời tăng cường kiểm soát nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn hậu sinh để giảm nguy cơ mắc bệnh.
Staphylococcus và Streptococcus là các tác nhân chính gây viêm vú ở lợn nái, thường xuất hiện khi vú bị xây xát do răng nanh của lợn con, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập Lợn nái nuôi nhiều con bú dễ gặp tình trạng sữa bị ứ đọng sau sinh do không hết sữa, từ đó hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn và gây viêm vú Trong nhiều trường hợp, lợn nái cho con bú ở một bên vú, trong khi bên kia bị căng sữa quá mức dẫn tới viêm vú ở phía vú bị quá tải.
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn trên thế giới đang rất phát triển, các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Tuy nhiên vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết, đặc biệt là bệnh viêm đường sinh dục Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh viêm đường sinh dục và đã đưa ra các kết luận giúp cho người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao
Tuy nhiên, các nghiên cứu của các tác giả khác lại ghi nhận các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung là các vi khuẩn cơ hội thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợn nái sinh cổ tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh Do đó theo Gardner J.A.A (1990) [27]; Smith (1995) [28]; Taylor (1995) [30], tăng cường vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa nhiễm trùng sau khi sinh Khi mổ khám những lợn vô sinh đã xác định được nguyên nhân do cơ quan sinh sản là 52,5%, lợn nái đẻ lứa đầu là 32,1%, lợn nái cơ bản có những biến đổi bệnh lý viêm vòi tử cung có mủ
Các nghiên cứu của Trekaxova A.V (1983) về chữa bệnh viêm vú ở lợn nái đề xuất phương pháp chữa kết hợp gồm phong bế thần kinh tuyến sữa bằng Novocain và điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả dùng dung dịch Novocain 0,5% với liều 30–40 ml cho mỗi túi vú, tiêm sâu 8–10 cm vào từng thuỳ vú bị bệnh Dung dịch Novocain được bổ sung 100–200 nghìn đơn vị Penicillin hoặc kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh với dung dịch Novocain này, liều 400–600 đơn vị, thực hiện 2–3 lần mỗi ngày.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Đàn lợn nái ngoại CP909 (Landrace × Yorkshire) đang nuôi trong giai đoạn sinh sản tại trang trại Hiệp Thịnh.
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Trang trại lợn Hiệp Thịnh, xã Tân Kim, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian: Từ ngày 18/11/2019 đến ngày 30/5/2020
Nội dung thực hiện
- Đánh giá tình hình chăn nuôi của trại
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn của trang trại
- Thực hiện quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn của trang trại.
Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi
- Cơ cấu đàn lợn tại thời điểm thực tập
- Khối lượng công việc vệ sinh, sát trùng chuồng trại
- Khối lượng công việc nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn
- Số lượng lợn được chẩn đoán và điều trị bệnh
- Số lượng con được tiêm vacine phòng bệnh
3.4.2.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Để đánh giá được tình hình chăn nuôi của trại tôi đã tiến hành theo dõi trực tiếp và thu thập thông tin từ cán bộ phụ trách kĩ thuật và công nhân của trang trại Trang trại đã kết thúc hợp đồng gia công vào tháng 12/ 2018 và hoạt động riêng biệt được 6 tháng tính từ thời điểm bắt đầu thực tập cuả tôi
3.4.2.2 Quy trình vệ sinh chuồng nuôi hàng ngày
Hàng ngày thực hiện quy trình vệ sinh chuồng nuôi theo sự hướng dẫn của kĩ sư tại trại và quy trình của trang trại
3.4.2.3 Chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái và lợn con tại trại
Do cán bộ kỹ thuật trại không thường xuyên ở trại nên các vấn đề dưới chuồng được người phụ trách chuồng quản lý và theo dõi để kịp thời chẩn đoán và điều trị Việc ghi chép sổ sách theo dõi được thực hiện đầy đủ và sau đó số liệu được báo cáo hàng ngày cho kỹ thuật viên và quản lý của trại nhằm đảm bảo thông tin cập nhật và nâng cao hiệu quả quản lý chuồng trại, chăm sóc sức khỏe đàn vật nuôi.
Một số bệnh và phương pháp điều trị cho đàn lợn của trại như :
* Đối với bệnh viêm tử cung lợn
- Nguyên nhân: Trong quá trình chửa lợn nái ít vận động
Việc can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ trợ sản trong chăm sóc lợn mẹ đẻ có thể gây tổn thương tử cung, tạo điều kiện cho vi khuẩn bên ngoài xâm nhập và gây viêm Điều này khiến quá trình điều trị khó khăn hơn và dễ bị bỏ sót các trường hợp viêm âm đạo trong chu kỳ chăm sóc nái tại chuồng đẻ sau khi đẻ hoặc trong giai đoạn lợn đang lên giống ở chuồng bầu, từ đó làm tăng nguy cơ viêm tử cung Để giảm rủi ro, cần hạn chế can thiệp thô bạo, đảm bảo vệ sinh dụng cụ và theo dõi sát các dấu hiệu bất thường để phát hiện sớm và điều trị kịp thời các bệnh viêm âm đạo và viêm tử cung ở nái.
Triệu chứng nổi bật ở lợn gồm âm hộ sưng đỏ, sốt cao trên 40°C, ăn uống giảm và lượng sữa giảm; đi tiểu khó và thỉnh thoảng cong lưng rặn Từ cơ quan sinh dục xuất hiện chất dịch màu trắng đục, mùi hôi tanh, dịch dính lan quanh mông và gốc đuôi.
Chúng em đã tiến hành điều trị bệnh viêm tử cung tại trang trại bằng ba phác đồ điều trị như sau:
Phác đồ 1: Thụt rửa tử cung: Sử dụng dung dịch thuốc sát trùng Han -
Iodine 10% (pha 10 ml dung dịch thuốc sát trùng với 1000 ml nước sôi để nguội, mỗi ngày thụt 1000-2000 ml dung dịch đã pha/2 lần/ ngày)
Enzaprost: 1 ml/con (sử dụng 1 lần trong liệu trình điều trị)
Liệu trình 3-5 ngày, tiêm bắp
- Phác đồ 2: Thụt rửa tử cung giống phác đồ 1
Liệu trình 3-5 ngày, tiêm bắp
- Phác đồ 3: Điều trị không thụ rửa, đây cũng là phác đồ chủ yếu cuả trang trại
Dufamox 15% hoặc Penstrep 15% LA: 1ml/20 kg TT
Liệu trình 3-5 ngày, tiêm bắp Đã tiến hành trên 52 lợn nái, đạt hiệu quả 84,6104% khỏi bệnh
* Đối với bệnh viêm vú
+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn, Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú
Việc cho lợn nái ăn thức ăn không phù hợp và không giảm khẩu phần trước khi đẻ một tuần có thể làm lượng sữa tiết ra quá nhiều, dẫn tới tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa tồn đọng trở thành môi trường thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm vú ở lợn nái, với các tác nhân phổ biến như E coli, Streptococcus, Staphylococcus và Klebsiella Vì vậy cần quản lý dinh dưỡng và khẩu phần hợp lý cho lợn nái trước sinh, theo dõi việc bú của lợn con và chăm sóc vú để giảm nguy cơ tắc sữa và nhiễm trùng, từ đó bảo vệ sức khỏe đàn lợn và tối ưu sản lượng sữa.
Lợn con mới đẻ có răng nanh và khi bú nếu không được mài hoặc cắt, chúng có thể gây xây sát vú mẹ Những vết xây sát này tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và hình thành các ổ viêm nhiễm ở bầu vú Viêm vú ở lợn mẹ có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của mẹ và sản lượng sữa của đàn, đồng thời làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn lan rộng Để ngăn ngừa, cần chăm sóc vú mẹ sạch sẽ, kiểm tra răng nanh cho lợn con và thực hiện mài hoặc cắt đúng cách, đồng thời duy trì chuồng trại thông thoáng và vệ sinh để hạn chế sự phát triển của vi khuẩn và ổ viêm nhiễm.
Việc cho lợn con bú chỉ một hàng vú khiến các hàng vú còn lại bị căng quá và dễ viêm vú Thời tiết đột ngột thay đổi, lạnh quá hoặc nóng quá, cùng với thức ăn khó tiêu cũng làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn con.
Triệu chứng của bệnh viêm vú ở lợn nái xuất hiện sau khi đẻ từ 4–5 giờ đến 7–10 ngày, có thể kéo dài tới một tháng Viêm vú thường bắt đầu ở một vài vú nhưng đôi khi lan ra toàn bộ các vú; vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng và khi ấn vào lợn nái sẽ có phản ứng đau.
Lợn nái giảm ăn, nếu bị nặng thì bỏ ăn, nằm một chỗ, sốt cao 40,5 0 C -
42 0 C kéo dài trong suốt thời gian viêm Sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú.
Việc vắt sữa từ vú bị viêm cho thấy sữa thường loãng, kèm theo cặn và các cục sữa vón lại Trong sữa có thể xuất hiện các cục casein màu vàng hoặc xanh lợn cợn, đôi khi có mủ và thậm chí máu.
Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy nhanh, tỷ lệ chết cao từ 30 đến 100%
Cục bộ: Biện pháp giảm đau và sưng cho vú gồm chườm lạnh để giảm sưng và đau, hoặc phong bế đầu vú bằng novocain theo chỉ định y tế; mỗi ngày vắt sữa từ vú viêm 4–5 lần để ngăn ngừa lây lan sang vú khác.
ENzaprost: 2 ml/con Đặt viên kháng sinh Anti-gate vào tử cung
- Liệu trình: 3-5 ngày sau đẻ, tiêm bắp 1 lần/ ngày
Mỗi ngày tiêm một lần quanh vú bị viêm cho tới khi khỏi hẳn Sau khi đã vắt cạn sữa ở vú bị viêm, tiêm dung dịch Tetramycin vào vú qua lỗ sữa.
Liệu trình 3-5 ngày, tiêm bắp
* Đối với bệnh sẩy thai
Bệnh brucellosis do vi khuẩn Brucella suis gây ra ở lợn nái Ở lợn nái, vi khuẩn xâm nhập qua đường sinh dục rồi lan ra nhau thai và thai, gây sảy thai và hiện tượng sót nhau.
Lây qua quá trình giao phối hay thụ tinh có thể gây sảy thai ở giai đoạn sớm Nếu nhiễm muộn hơn, nguy cơ này thường tăng lên và có thể dẫn tới chết lưu thai, sảy thai, đẻ non hoặc đẻ con với tỷ lệ tử vong cao và khó nuôi.
Trước khi sảy thai ở lợn nái xảy ra, lợn nái có triệu chứng mệt mỏi, bỏ ăn, tiêu chảy, âm hộ sưng và tiết nhiều dịch màu vàng hoặc có máu từ âm hộ; những dấu hiệu này thường liên quan đến nhiễm bệnh và lợn nái có thể sảy thai từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 12 của thai kỳ.
Enzaprost: 2ml/con để lợn rặn hết thai đã sảy ra ngoài
Dùng kháng sinh: Hitamox LA
Tiêm bắp thịt 1ml/12 - 15kg TT/ngày Điều trị: 3 - 5 ngày liên tục
Không nhập con giống từ nơi có bệnh
Nếu trong đàn phát hiện thấy có hiện tượng sảy thai cần cách ly theo dõi để tìm ra nguyên nhân
- Khi đã chẩn đoán chính xác là bệnh sảy thai truyền nhiễm thì nên giết bỏ con vật có bệnh vì việc chữa bệnh không kinh tế và khó hồi phục khả năng sản xuất của chúng
3.4.2.4 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc, xuất bán lợn tại trại