ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ HỒNG Tên chuyên đề: “ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN, PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH NGOÀI DA THƯỜNG GẶP Ở CHÓ TẠI PHÒNG MẠCH THÚ
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Điều kiện cơ sở nơi thực tập
Phòng mạch thú y Vi Hoàng An nằm ở trung tâm thành phố Thái Nguyên Địa chỉ của phòng mạch là số 12 đường Hoàng Hoa Thám, phường Hoàng Văn Thụ, sát trường THPT Lương Ngọc Quyến.
Phòng mạch thú y Vi Hoàng An, nằm trên địa bàn thành phố Thái
Khí hậu của tỉnh Thái Nguyên mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa với bốn mùa rõ rệt, tạo nền cho hoạt động của các cơ sở thú y và chăm sóc thú cưng Nhiệt độ và độ ẩm thay đổi theo mùa ảnh hưởng đến sức khỏe động vật và kế hoạch chăm sóc như tiêm phòng, khám định kỳ và dinh dưỡng Mùa xuân ấm áp và có mưa, mùa hè nóng và nhiều mưa, mùa thu se lạnh và khô ráo, mùa đông lạnh và ít mưa, với chu kỳ thời tiết này đòi hỏi sự điều chỉnh linh hoạt trong quản lý thú y tại Thái Nguyên.
Xuân - Hạ - Thu - Đông song chủ yếu là hai mùa chính: mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 - 10, nhiệt độ trung bình dao động từ 25 -
Trong điều kiện khí hậu 30°C, độ ẩm tương đối từ 80–85% và lượng mưa trung bình khoảng 160 mm/tháng, tập trung chủ yếu vào các tháng 5–8, sức khỏe và năng suất của đàn vật nuôi dễ bị ảnh hưởng Với đặc điểm nhiệt độ và độ ẩm như vậy, công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi cần được chú trọng ngay từ giai đoạn này, bao gồm tăng cường vệ sinh chuồng trại, kiểm soát nguồn nước và thức ăn, tiêm phòng đầy đủ, quản lý dịch bệnh và giám sát sức khỏe đàn vật nuôi để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo hiệu quả chăn nuôi.
Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mang theo khí hậu lạnh và khô với nhiệt độ dao động từ 12–26°C và độ ẩm 70–80% Vào mùa Đông, gió mùa Đông Bắc gây rét và sương muối, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của vật nuôi.
Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên, đồng thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, y tế, du lịch và dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên và vùng trung du miền núi phía Bắc Nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 80 km, thành phố có tổng diện tích tự nhiên là 18.970,48 ha.
• Phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương
• Phía Đông giáp thành phố Sông Công
• Phía Tây giáp huyện Đại Từ
• Phía Nam giáp thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình
Thành phố Thái Nguyên có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú
So với diện tích đất tự nhiên, tổng diện tích đất phù sa không được bồi hàng năm với độ trung tính ít chua là 312,35 ha, chiếm 17,65% tổng diện tích đất tự nhiên; đất phù sa không được bồi hàng năm có 100,19 ha, chiếm 0,75% tổng diện tích đất tự nhiên và được phân bổ chủ yếu ở phường Phú Xá; đất phù sa ít được bồi hàng năm, ở mức trung tính ít chua, có diện tích 379,84 ha, chiếm 2,35% tổng diện tích đất tự nhiên; đất bạc màu phát triển trên nền phù sa cũ có feralit trên nền cơ giới nhẹ là 271,3 ha, chiếm 1,53%; đất bạc màu phát triển trên nền phù sa có feralit trên nền cơ giới nặng là 545,6 ha, chiếm 3,08%.
Rừng ở Thái Nguyên chủ yếu là rừng nhân tạo và rừng trồng theo chương trình 327, rừng trồng theo chương trình PAM, tập trung ở vùng chè Tân Cương và các loại cây trồng của người dân như nhãn, vải, quýt, chanh Cây lương thực chủ yếu là lúa nước, ngô và đậu, thích nghi với đất bằng trên các loại đất phù sa, đất mới phát triển và đất trung tính ít chua.
Hai tuyến sông lớn chảy qua (sông Cầu và sông Công), do đó cung cấp cho thành phố một lượng cát, sỏi phục vụ xây dựng khá lớn, đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng cho toàn thành phố Thành phố nằm trong vùng sinh khoáng
5 Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Mỏ than nội địa Khánh Hoà thuộc xã Phúc Hà có trữ lượng than rất lớn
Hai bên bờ sông của khu vực Đồng Bẩm, Túc Duyên có lượng nước ngầm phong phú
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Dân cư: Thành phố Thái Nguyên có tổng dân số là 317.580 người trong đó phường Hoàng Văn Thụ dân số 22.549 người, trên địa bàn hiện có hơn 1.000 hộ kinh doanh cá thể, gần 200 cơ quan, doanh nghiệp, trường học và nhiều công trình kiến trúc văn hóa, tín ngưỡng, di tích lịch sử
Thành phố Thái Nguyên là trung tâm y tế của vùng trung du miền núi Bắc Bộ, nơi tập trung nhiều bệnh viện lớn có trình độ chuyên môn cao và các trung tâm khám chữa bệnh tư nhân Trạm y tế phường Hoàng Văn Thụ hoạt động với nhiều trang thiết bị hiện đại, là địa chỉ khám chữa bệnh thường xuyên và chăm sóc sức khỏe cho người dân, đặc biệt là người già, phụ nữ và trẻ em.
Giáo dục và đào tạo tại thành phố Thái Nguyên phát triển mạnh nhờ hệ thống đông đảo trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp và các cơ sở dạy nghề cùng viện nghiên cứu khoa học Trong khu vực phường Hoàng Văn Thụ tập trung nhiều trường nổi bật như Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên, Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên và thành phố Thái Nguyên, Trường Bưu Chính Viễn thông và Công nghệ Thông tin, Trường THPT Lương Ngọc Quyến, Trường THCS Nguyễn Du, Trường THCS Chu Văn An và Trường Tiểu học Đội Cấn, tạo điều kiện thuận lợi cho học tập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương.
Khu vực thương mại của thành phố tập trung nhiều tòa nhà cao tầng nổi bật, như tòa Victory, tòa Đông Á, tòa nhà trung tâm thương mại Sao Việt, tòa Quang Đạt New World và tòa FCC Các hoạt động thương mại ở đây diễn ra nhộn nhịp, với văn phòng và dịch vụ thương mại phong phú phục vụ nhu cầu mua sắm, làm việc và kinh doanh của cư dân cũng như doanh nghiệp.
6 khá phát triển với nhiều tuyến phố thương mại như: Hoàng Văn Thụ, Bắc Kạn, Lương Ngọc Quyến, Minh Cầu, Phủ Liễn,
Thành phố Thái Nguyên nằm trong vùng phát triển kinh tế năng động của tỉnh Thái Nguyên, gồm thành phố Thái Nguyên, thành phố Sông Công và thị xã Phổ Yên, và là trung tâm công nghiệp lâu đời với nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú Điều kiện khí hậu thuận lợi thúc đẩy phát triển các ngành cây rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả và vật nuôi Vùng có tiềm năng lớn cho phát triển du lịch, nổi bật với Hồ Núi Cốc – di tích lịch sử cách mạng, bên cạnh sự hiện diện của khu Gang.
Thép Thái Nguyên - cái nôi của ngành thép Việt Nam
Thành phố Thái Nguyên có đội ngũ cán bộ và công nhân có kinh nghiệm, năng lực và trình độ cao; đồng thời nguồn nhân lực trẻ tốt nghiệp hàng năm từ các trường đại học, chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật trên địa bàn đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển của thành phố Nhờ sự đào tạo liên tục và kết nối với doanh nghiệp, lực lượng lao động này thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ cạnh tranh và đẩy mạnh đổi mới sáng tạo của Thái Nguyên.
Thành phố đã và đang triển khai các chế độ ưu đãi cho doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào thành phố, nhằm nâng cao môi trường đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Để cải thiện môi trường đầu tư, UBND thành phố đã tích cực cải tiến thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhà đầu tư tham gia hoạt động đầu tư và kinh doanh theo nguyên tắc "một cửa", đồng thời rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ Những nỗ lực này giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, giảm thiểu phiền hà và tăng cường khả năng cạnh tranh khi lựa chọn địa bàn đầu tư.
Năm 2016, thành phố Thái Nguyên đạt các chỉ tiêu kinh tế như sau: Tốc độ tăng trưởng của các ngành sản xuất năm 2016 đạt 15,5% Trong đó:
- Giá trị sản xuất ngành dịch vụ đạt 15.130 tỷ đồng, tăng 18,1%
- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng đạt 38.903 tỷ đồng, tăng 15%
- Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 1.202 tỷ đồng, tăng 5%
- Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương (theo giá so sánh 2010) năm
2016 ước đạt 6.300 tỷ đồng, vượt 1,6% so với kế hoạch
- Thu ngân sách: năm 2017 đạt 2.500 tỷ đồng
Năm 2018, thành phố đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 16% Thu ngân sách 8 tháng đầu năm 2018 đạt 3.008 tỷ đồng Tổng số vốn đầu tư đăng ký trên 34.000 tỷ đồng
Năm 2019, thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt gần 1.200 tỷ đồng
Năm 2020, dự toán tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố là 2.137.700 triệu đồng
Về sản xuất nông nghiệp: Khoảng 80% số hộ dân sản xuất nông nghiệp với sự kết hợp hài hòa giữa 2 ngành trồng trọt và chăn nuôi
Cơ sở khoa học
2.2.1 Hiểu biết chung về loài chó
* Một số giống chó địa phương
Chó Phú Quốc là giống chó bản địa phổ biến trên đảo Phú Quốc, thuộc tỉnh Kiên Giang, Việt Nam Giống chó này có kích thước vừa phải, chiều cao khoảng 60-65 cm và nặng khoảng 15-25 kg, lông rất ngắn và mọc rậm; ở giữa lưng từ thắt lưng đến vai, lông mọc ngược thành một hàng dài, hướng về phía đầu, dài hơn và cứng hơn so với phần lông còn lại tạo thành xoáy trên lưng Màu lông phổ biến là vàng, vằn (hổ) và đen Chó Phú Quốc được coi là rất thông minh và nhanh nhẹn.
Chúng rất cảnh giác và bơi lội, trèo giỏi Ngày nay người ta sử dụng chúng vào việc săn bắn, trông nhà và canh gác, báo động
Chó vàng là giống chó được thuần hóa và nuôi dưỡng từ khoảng 3.000–4.000 năm trước Công Nguyên; đây là giống có tầm vóc trung bình, trưởng thành nặng khoảng 12–18 kg và cao 50–55 cm, chó cái thường nhỏ hơn chó đực Theo Nguyễn Văn Thanh và cộng sự (2016), chó vàng nhanh nhẹn, hoạt bát, có khả năng thích nghi tốt với điều kiện ngoại cảnh, ít bị ốm, dễ ăn uống và bơi lội giỏi Về sinh sản, chó đực có thể phối giống ở tuổi 15–18 tháng, chó cái sinh sản ở tuổi 12–14 tháng, mỗi lứa trung bình đẻ khoảng 5 con.
Theo Hoàng Nghĩa (2005) [10] ghi nhận giống chó này có bộ lông xù với bờm đẹp, sự phân biệt giữa lông trên thân và lông cổ, và nhiều màu lông như đen, trắng, xám và hung đỏ hiếm Thân hình ở mức trung bình, không lớn, chiều dài cơ thể vượt chiều cao và khung xương chắc khỏe, gọn gàng Lông dày xù và đuôi dạng bông lau, xoắn cuộn lên lưng là nét đặc trưng Chó đực cao 57–65 cm, chó cái 52–60 cm, cân nặng khoảng 25–35 kg.
* Một số giống chó nhập ngoại
Chó Poodle là một giống chó cảnh nhanh nhẹn và thông minh Đặc điểm ngoại hình của Poodle gồm thân hình hình vuông với chiều dài cơ thể xấp xỉ bằng chiều cao từ bàn chân tới vai, đầu tròn nhỏ và mõm dài, thẳng; hốc mắt hình bầu dục nằm cách xa nhau Đôi tai dài thường rủ xuống, chân thẳng, bàn chân hình oval nhỏ và các ngón chân cong, móng chân thường được cắt tỉa Lông của Poodle xoăn và có màu sắc rất đa dạng như đen, nâu, vàng, kem, mang lại vẻ ngoài đặc trưng và cuốn hút.
Chó Phốc là giống chó có nguồn gốc từ Đức và đã du nhập vào Việt Nam từ lâu; đây là giống chó nhỏ, nặng khoảng 1,5–2,05 kg, với bộ lông bóng mượt và cơ thể cân đối cùng ngực nở, bụng thắt Hai chân trước thẳng và có treo móng huyền đề; bàn chân nhỏ và mềm mại Mặt hình quả xoài như mặt hươu, mắt màu sẫm hình ô van, tai dựng mỏng (tai giấy) và đuôi được cắt ngắn từ khi còn nhỏ Chó Phốc có nhiều màu khác nhau như đỏ, vàng, đen hoặc socola.
Chó Phốc sóc, hay còn gọi là chó Pom, có nguồn gốc từ Đức và Ba Lan Đây là giống chó nhỏ với chiều cao từ 18–30 cm và cân nặng khoảng 1–3 kg, đầu hình nêm cân đối với cơ thể Đuôi xù mềm mại và uốn cong lên lưng, tạo nét duyên dáng cho toàn bộ vóc dáng Lông kép dày gồm lớp ngoài dài, thẳng và hơi cứng; lớp trong ngắn mềm và dày, vùng cổ và ngực có lông dài hơn Nhìn chung, Phốc sóc có ngoại hình nhỏ nhắn, xinh xắn, ấm áp và mềm mại Màu lông rất đa dạng, có thể là đỏ, cam, kem, trắng, xanh hoặc nâu.
Hình 2.6: Chó Phốc sóc (Pomeranian)
Chó Becgie có nguồn gốc từ Đức và được nhập vào Việt Nam từ những năm 1960 Theo Phạm Sỹ Lăng và cộng sự (2006) [6], chó Becgie có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó khác ở nước ta, với chiều dài 110 – 112 cm; cao 56 – 65 cm đối với chó đực và 62 – 66 cm đối với chó cái; trọng lượng 28 – 37 kg.
Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm; đầu, ngực và bốn chân có màu vàng sẫm Đầu hình nêm, mũi phân thùy, tai dỏng hướng về
Trong phần mô tả đặc điểm, chú ý đến 13 răng ở phía trước, mắt đen, răng to và khớp cắn khít Chó đực có thể phối giống khi đạt 24 tháng tuổi, còn chó cái có thể sinh sản ở độ tuổi 18–20 tháng Mỗi năm chó cái đẻ một lứa hoặc nhiều lứa tùy theo giống và điều kiện nuôi dưỡng.
Chó Corgi là giống chó có nguồn gốc từ Anh, đặc biệt ở Wales, với kích thước cơ thể trung bình, thân dài và chân ngắn rõ rệt Chiều cao khoảng 30,5 cm và cân nặng khoảng 12 kg.
Corgi là giống chó có truyền thống làm chó săn và chăn dắt gia súc bằng cách chạy theo đàn và cắn vào gót chân những con vật không chịu theo đàn Để làm việc hiệu quả, chúng cần chạy nhảy nhiều mỗi ngày Tuổi thọ của Corgi khoảng 15 năm Màu lông phổ biến của chúng gồm vàng – trắng và xám – trắng, cùng với các biến thể màu tương tự.
Chó Golden Retriever có nguồn gốc từ Scotland và là giống chó ở kích thước trung bình, thân hình cân đối và khỏe mạnh Bộ lông của chúng có màu vàng kem đến vàng nâu, được cấu thành bởi lớp lông ngoài không thấm nước và lớp lông lót dày mềm ở bên trong Đầu to, mõm hơi vát, kèm với hàm rộng và khỏe cùng với hàm răng chắc khỏe Tuổi thọ của chúng khoảng 12–15 năm.
Chó Alaska là một giống chó kéo xe đến từ Alaska, Hoa Kỳ, có bộ khung cao to, chắc chắn và rất khỏe mạnh, đặc biệt ở xương và khớp chân được phát triển tốt Chúng có màu lông đa dạng, phổ biến nhất là xám trắng, xám lông chồn kết hợp với trắng, đen trắng hoặc có thể trắng toàn thân; bộ lông gồm 2 lớp giúp bảo vệ tốt trong thời tiết lạnh Chiều cao trung bình của Chó Alaska từ 63–68 cm và cân nặng khoảng 34–38 kg.
Chó Husky có nguồn gốc từ Siberia, Nga và mang ngoại hình cũng như hành vi gợi nhớ tổ tiên là loài chó sói Chúng thích giao tiếp bằng tiếng hú nhiều hơn là sủa, thể hiện đặc điểm xã hội và nhạy bén với môi trường quanh mình Do bản tính ham khám phá và muốn tự do, Husky có xu hướng lang thang và tìm cách trốn thoát sự tù túng, vì vậy cần không gian sinh hoạt rộng và sự chăm sóc phù hợp.
Chó Husky rất hiếu động và thân thiện, có lông hai lớp với lớp lông dày và ngắn ở phía inside và một lớp lông ngoài mỏng, dài hơn để bảo vệ chúng trước cái lạnh khắc nghiệt của vùng băng giá Màu lông phổ biến của Husky gồm trắng-đen, nâu-trắng và xám-trắng Mắt của Husky có hình quả hạnh nhân, cách nhau vừa phải và hơi xếch lên; một số con có hai màu mắt khác nhau Kích thước của Husky thuần chủng cao khoảng 51–58 cm và nặng khoảng 16–27 kg Tuổi thọ trung bình từ 12–15 năm, và mỗi lứa đẻ từ 6–8 con.
2.2.2 Cấu tạo và sinh lý da chó
Biểu bì là biểu mô lát kép hóa keratin (sừng) mạnh Bề dày của lớp này thay đổi tùy nơi Thường dày ở những chỗ không có lông và có sự cọ sát mạnh Lớp này không có mạch máu, dinh dưỡng thực hiện nhờ sự thẩm thấu từ các mao mạch bên dưới Lớp này có tác dụng:
+ Lót mặt ngoài và bảo vệ cơ thể nhờ sự sừng hóa
Một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó
2.3.1 Bệnh mò bao lông (do Demodex canis)
2.3.1.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo
Theo Bùi Khánh Linh (2017) [8]: mò bao lông là loại mò nhỏ, dài 0,1 - 0,39 mm, cơ thể dài không có lông, kí sinh ở tuyến nhờn bao lông Cấu tạo cơ thể chia làm 3 phần: đầu, ngực, bụng
- Đầu: là đầu giả, ngắn, hình móng ngựa gồm một đôi xúc biện có 3 đốt, đốt cuối có 4 - 5 tơ hình que, một đôi kìm, một tấm dưới miệng
- Ngực: có 4 đôi chân rất ngắn, tiêu giảm giống như hình mấu
- Bụng: dài, có nhiều vân ngang ở mặt lưng và mặt bụng
Demodex canis đực có dương vật nhô lên ở phần ngực của mặt lưng, giúp nhận diện đặc trưng của giới đực ở loài này Demodex canis cái có âm hộ nằm chính giữa phần thân của mặt bụng, kể từ gốc chân thứ tư lui xuống phía dưới phần bụng.
Trứng Demodex canis có hình bầu dục và kích thước 0,07–0,09 mm Theo Sakulploy R và Sangvaranond A (2010) [32], Demodex canis ở trạng thái trưởng thành có thân hình thanh mảnh và thon dài; chiều dài phần bụng 91–115 µm, chiều rộng cơ thể 40–45 µm và tổng chiều dài cơ thể khoảng 167 µm.
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3], thân dài khoảng 0,25 mm Đầu giả rộng và lồi cạnh Ngực mang một đôi chân hình mấu, ngắn
Loài côn trùng này có bụng dài với vân ngang xuất hiện trên mặt lưng và mặt bụng Phần phụ miệng gồm một đôi xúc biện, kìm và một tấm dưới miệng Xúc biện có 3 đốt, đốt cuối mang 4–5 tơ hình que Kìm có hình trâm, dẹp và mỏng Cơ quan sinh dục đực nằm ở mặt lưng phần ngực của con đực; âm môn ở mặt bụng, trước lỗ sinh dục của con cái Trứng có hình thoi.
Mò bao lông ký sinh trên nang lông của chó, phát triển qua các giai đoạn trứng, ấu trùng (larva) có 3 đôi chân, tiền nhộng (protonymph), nhộng (nymph) và trưởng thành Thời gian từ trứng đến trưởng thành khoảng 20–30 ngày, phụ thuộc điều kiện sống, thời tiết và mùa vụ; theo một số nguồn, chu trình này có thể diễn ra khoảng hai tuần Trưởng thành có 4 đôi chân, mỗi chân có 5 đốt; giai đoạn larva có 3 đôi chân Toàn bộ vòng đời mò bao lông đều phát triển trên cơ thể chó Mò bao lông chịu đựng khá tốt và có thể sống vài ngày ngoài cơ thể ở nơi ẩm; trong điều kiện thực nghiệm, chúng sống được 21 ngày trên một miếng da đặt ở nơi ẩm và lạnh.
2.3.1.5 Đặc điểm dịch tễ của Demodex canis gây bệnh trên chó
Nghiên cứu dịch tễ học cho thấy nền tảng căn cứ cho phòng trị bệnh do Demodex canis ở chó Việc xác định sự phân bố, tần suất nhiễm và các yếu tố nguy cơ giúp xây dựng chiến lược dự phòng và điều trị hiệu quả Sự phát triển và gây bệnh của Demodex canis phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sức khỏe miễn dịch của vật nuôi, độ tuổi và giống chó, trạng thái dinh dưỡng, điều kiện vệ sinh, môi trường sống và tải ký sinh Những yếu tố này tương tác phức tạp và ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của nhiễm Việc nắm bắt các yếu tố dịch tễ học này cho phép áp dụng các biện pháp lâm sàng và quản lý dịch tễ tại cơ sở thú y, từ đó nâng cao hiệu quả phòng ngừa tái nhiễm và giảm thiểu tác động của bệnh.
Demodex canis có khả năng gây bệnh trên tất cả các giống chó (Bùi
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3], Demodex canis là ký sinh trùng thường thấy trên tất cả các giống chó
Demodex canis thường không lây nhiễm cho con người nhưng có thể lây nhiễm cho con chó khác
Ở chó ở các độ tuổi khác nhau, tỷ lệ mắc bệnh do Demodex canis cũng có sự khác biệt Nghiên cứu của Bùi Khánh Linh và cộng sự (2014) cho thấy bệnh do Demodex canis ở chó tăng dần theo lứa tuổi Điều này cho thấy nguy cơ nhiễm Demodex canis ở chó có xu hướng cao hơn ở các nhóm tuổi lớn, khi hệ miễn dịch suy giảm và có sự thay đổi sinh lý theo tuổi Vì vậy, việc nhận diện sớm, theo dõi sức khỏe ở từng độ tuổi và áp dụng biện pháp phòng ngừa phù hợp là rất quan trọng để quản lý căn bệnh này hiệu quả.
Demodex canis lây lan trực tiếp hoặc qua tiếp xúc giữa chó với chó Chó còn non, lông ngắn và gầy yếu dễ bị nhiễm bệnh Những chú chó có da non và thường tắm bằng xà phòng có độ kiềm cao càng dễ mắc bệnh Mò bao lông Demodex cũng được quan sát trên da của vật nuôi khỏe mạnh, đặc biệt là ở những con chó già (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996).
Theo Nayak D.C và cs (1997) [29] cho biết: chó ở độ tuổi từ 1 đến 2 tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn chó lớn hơn 2 tuổi
Qua kết quả nghiên cứu thực tế của các tác giả, tỷ lệ nhiễm Demodex canis qua các lứa tuổi ở chó khác nhau
Bệnh do Demodex canis trên chó xảy ra tất cả các mùa trong năm (Bùi Khánh Linh và cs (2014) [8])
Theo Chen Y-Z và cs (2012) [35] cho biết: tỷ lệ Demodex canis theo mùa cho thấy cao nhất là tháng ba và thấp nhất là tháng mười hai
Theo Fondati A và cs (2010) [23], Demodex canis đã tồn tại với số lượng nhỏ trên da của hầu hết các con chó khỏe mạnh
Barriga O O và cs (1992) [21] cho biết: chó có hiện tượng suy giảm miễn dịch trước khi có biểu hiện triệu chứng lâm sàng do Demodex canis gây nên
Khi sức đề kháng của chó giảm rất dễ cảm nhiễm Demodex canis
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) cho rằng ở Việt Nam khí hậu nóng ẩm quanh năm, đặc biệt vào mùa hè và mùa thu, khiến nhiều chó ngoại nhập khó thích nghi Sự thích nghi kém này dễ gây stress ở chó, làm giảm sức đề kháng và tạo điều kiện cho Demodex canis phát triển, từ đó gây bệnh.
2.3.1.6 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do Demodex canis trên chó
Khi nghiên cứu về bệnh lý, lâm sàng, các tác giả đều cho thấy: bệnh thể hiện ở nhiều mức độ từ thể nhẹ đến nặng
Thể nhẹ của tình trạng da ở chó xuất hiện các hạt viêm hình tròn, đường kính từ 2-10 mm, tập trung tại một khu vực tách biệt trên da Những hạt viêm này điển hình xuất hiện ở mặt, quanh mắt, ở chân trước hoặc thậm chí ở cả bốn chân, thường kèm theo rụng lông ở vùng bị ảnh hưởng.
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) cho biết có hai dạng bệnh da liễu thường gặp: dạng thứ nhất làm da dày lên và nhăn nheo, xuất hiện vảy hoặc thể vảy, lông rụng, da ửng đỏ và cuối cùng chuyển sang màu xanh hoặc vàng đỏ; dạng thứ hai là mụn.
Đỏ nhiễm khuẩn trên da thường xuất hiện trước khi hình thành dạng vảy, phát triển thành những mụn nhỏ đường kính vài mm hoặc thành các nốt áp-xe, đôi khi gặp cả ổ hoại tử Dạng có vảy sau đó ít khốc liệt hơn.
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2012) [15], triệu chứng thường xuất hiện hai dạng
Dạng ghẻ khô là giai đoạn đầu của căn bệnh ghẻ ở chó, với triệu chứng rụng lông ở vùng trán và mí mắt, da ở bốn chân trở nên dày cộm và có màu đỏ sẫm Chó bị ngứa nhiều và thường đưa chân lên gãi để làm dịu cơn ngứa.
Dạng ghẻ mủ ở chó thể hiện bằng các mụn mủ sưng mọng chứa dịch màu vàng xám trên da; tại những vùng này da nhăn nheo, lông rụng và lâu ngày chất dịch viêm kết dính thành vảy khô cứng dày, trong khi tình trạng bệnh ngày càng nặng có thể khiến toàn thân chó trụi lông và xuất hiện nhiều mụn ghẻ có mủ đặc quánh, nhất là ở các vùng da mỏng như bẹn, bụng và nách xuất hiện ổ áp xe; khi ổ áp xe vỡ mủ sẽ chảy ra ngoài kèm mùi hôi tanh khó chịu.
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3], cho biết: mò bao lông
Demodex canis lây lan trực tiếp hoặc tiếp xúc Gây nhiễm nhân tạo ít kết quả
Demodex canis là ký sinh trùng thường gặp ở chó và hiện diện ở tất cả các chú chó, kể cả những con khỏe mạnh, nhưng chỉ gây lở loét và viêm da ở một số trường hợp khi sức khỏe kém hoặc miễn dịch suy yếu Mò bao lông (Demodex) có thể thấy trên da chó khỏe, đặc biệt ở những chó già, cho thấy sự hiện diện phổ biến của ký sinh trùng này dù chó có vẻ khỏe mạnh Khi hệ miễn dịch giảm, chó dễ bị nhiễm ho do virus hoặc da bị xây xát, và các tổn thương da do Demodex có thể xuất hiện Demodex cũng được tìm thấy trên da người.
Theo Nguyễn Phước Trung (2002) và Bùi Thị Tho (2003), có thể dùng Amitraz 0,025% bôi lên da ghẻ ở chó và tiêm Ivermectin với liều 0,2 mg/kg, thực hiện 2–4 lần, mỗi lần cách nhau 14 ngày Đồng thời, bôi DEP (Diethyl phthalate) lên vùng ghẻ trên chó cho hiệu quả điều trị cao.
Theo Nguyễn Vũ Thị Hồng Loan (2003) [9], tỷ lệ nhiễm Demodex
Ở chó, dấu hiệu lâm sàng của nhiễm Sarcoptes thường gặp gồm các đám loang lổ nhỏ không mọc lông quanh mắt hoặc trên toàn cơ thể; dạng tổn thương cục bộ phân bố ở từng vùng nhỏ trên mặt, ở chân trước hoặc cả hai mí mắt; và dạng toàn thân da đỏ kèm nhiều dịch viêm rỉ máu và huyết thanh Tỉ lệ xuất hiện các biểu hiện này lần lượt là 35,25% và 11,49% trong các ca được khảo sát.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [7], Đỗ Dương Thái và cs (1975)
[13], nấm thường xuất hiện ở cổ, u vai, bề mặt của lưng và chân gồm những mãng tròn, đường kính 2 - 3 cm
Phạm Sỹ Lăng và các cộng sự (2009) cho biết chó mắc bệnh ghẻ ngầm do ghẻ đào hang tiết ra độc tố, nước bọt và các chất bài tiết gây ngứa cho vật nuôi; khi trời nóng hoặc chó vận động nhiều, cảm giác ngứa càng gia tăng Vì vậy, chó bị ghẻ thường gãi, cắn các vùng ngứa và cọ xát lên nền chuồng hoặc sàn nhà.
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2012) [15], căn bệnh do cái ghẻ có tên
41 là Demodex canis gây ra, ghẻ ký sinh ở bao lông (màng bọc xung quanh chân lông) hoặc trong tuyến mỡ dưới da của chó
Theo Bùi Khánh Linh và cộng sự (2014) [8], mò bao lông (Demodex canis) ký sinh ở nang lông và gây viêm da, bệnh xảy ra quanh năm ở mọi giống chó và tỷ lệ mắc tăng dần theo lứa tuổi Tỷ lệ nhiễm bệnh ở chó ngoại (82,3%) cao hơn ở chó nội (17,6%) Trong tổng số 136 ca bệnh về Demodex canis được ghi nhận.
50 ca bệnh nằm trong giai đoạn trên 36 tháng tuổi, chiếm 36,76% Tiếp theo chó trong độ tuổi trên 12 - 36 tháng tuổi có 36 ca, chiếm 26,47%; chó ở độ tuổi trên 6 - 12 tháng tuổi có tỷ lệ mắc 19,85%, tiếp theo chó ở độ tuổi 2 - 6 tháng tuổi với tỷ lệ mắc là 11,03%, và thấp nhất là chó trong độ tuổi dưới 2 tháng tuổi với tỷ lệ mắc là 5,88% Như vậy, chó ở độ tuổi khác nhau thì tỷ lệ mắc bệnh Demodex canis cũng khác nhau
2.4.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu về nấm ở chó Quinn P.J và cs (1994) [31] cho biết: những bệnh tích trên da thường phát triển khi chó được 7 tuần cho đến 6 tháng tuổi, chó trưởng thành thì có thể xảy ra nhưng rất hiếm Còn đối với việc ghi nhận trên các giống chó ngoại
Theo Halit Umar M (2005) [25], tại những vị trí Demodex ký sinh có xuất hiện ban đỏ và vảy, kèm theo khả năng có dịch viêm và huyết tương Nếu tình trạng này không được điều trị kéo dài, có thể tiến triển thành mủ, chảy máu và phát sinh mùi hôi.
Sakulploy R and Sangvaranond A (2010) [32] cho biết: có 3 loài
Demodex là nhóm ve có thể gây Demodicosis ở chó Trong các loài Demodex phổ biến ở chó, D canis gây viêm nang lông và mụn nhọt trên da, D injai gây da nhờn ở chó, còn D cornei có thể gây ngứa da.
Theo Currier R W (2011) [22], chó nhiễm Demodex có hai dạng chính: dạng cục bộ và dạng toàn thân Dạng Demodex cục bộ thường xuất hiện ở chó nhỏ, tuổi trung bình từ 3–6 tháng Trong khi dạng toàn thân có thể xuất hiện ở cả chó nhỏ lẫn chó lớn.
Theo Chen Y-Z và cộng sự (2012), trong năm 2009 tại thành phố Quảng Châu có 3.977 con chó được ghi nhận tại một số bệnh viện thú y và được nghiên cứu về lây nhiễm Demodex trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 12.
Kết quả cho thấy 977 (24,57%) chó dương tính với bệnh da liễu và 130 (13,31%) của những con chó Dermopathic dương tính với nhiễm Demodex
Theo kết quả điều tra, tỷ lệ nhiễm Demodex ở chó theo mùa cao nhất vào tháng 3 là 4,15% và thấp nhất vào tháng 12 là 1,39% Tỷ lệ nhiễm ở chó đực là 3,67%, cao hơn so với chó cái (2,74%) Chó ở độ tuổi từ 1 đến 5 tuổi có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với các nhóm tuổi khác Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm Demodex ở chó ở các vùng lân cận thành phố Quảng Châu, Trung Quốc chiếm 13,31% số trường hợp bệnh da liễu.
Ron Hines (2013) cho rằng việc phát hiện sớm, cách ly và điều trị triệt để là yếu tố quyết định trong quản lý bệnh ghẻ ở chó Để phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả, cần thực hiện vệ sinh chăm sóc chó đúng cách và tắm chải hàng tuần, đồng thời vệ sinh sạch môi trường xung quanh Đối với chó bị ghẻ, nên được tắm rửa sạch và cắt lông vùng bị ghẻ trước khi dùng thuốc để tăng hiệu quả điều trị và giảm nguy cơ tái nhiễm.