1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Buổi thảo luận thứ nhất Nghĩa vụ MÔN HỌC PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

11 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 160,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Buổi thảo luận thứ nhất Nghĩa vụ MÔN HỌC PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-& -KHOA: QUẢN TRỊ - LUẬT LỚP: 119 - QTL45 (B1) MÔN HỌC: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

NGOÀI HỢP ĐỒNG

Buổi thảo luận thứ nhất: Nghĩa vụ

DANH SÁCH NHÓM 4

Trang 2

Vấn đề 1:

1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?

Căn cứ theo Điều 574 BLDS 2015 quy

Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối Công việc không ủy quyền sẽ phát sinh trong hoàn cảnh đặc biệt mà phát sinh việc cần 1 người phải thực hiện mà hiện tại không có ở đó Người giúp thực hiện công việc là 1 người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng xuất phát từ lý do nào đó khiến họ tự nguyện thực hiện giúp công việc của người kia hoàn thành nó Công việc được giúp là công việc vì lợi ích tự thân của người có trách nhiệm thực hiện nó mà cho dù người này không biết hoặc biết đều không phản đối việc làm giúp đỡ đó

2 Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ ?

Căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ là những sự kiện xảy ra trong thực tế, được pháp luật dân sự dự liệu, thừa nhận là có giá trị pháp lý, làm phát sinh quan hệ nghĩa

vụ

Trong thực tế, với tinh thần tương thân, tương ái vì cộng đồng, có nhiều trường hợp cá nhân đã tự ý, tự nguyện thực hiện công việc của người khác vì lợi ích của người khác mà không dựa trên cơ sở hợp đồng thực hiện công việc đó hoặc do pháp luật quy định phải thực hiện, đó chính là trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền Như vậy, ta nói rằng thực hiện công việc không có ủy quyền

là căn cứ phát sinh nghĩa vụ

3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền".

Chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền" được quy định trong BLDS

2005 và BLDS 2015 về cơ bản là giống nhau BLDS 2015 đã có sự sửa đổi một vài điểm để vấn đề được quy định rõ ràng, đầy đủ hơn Cụ thể, BLDS 2015 quy định người có công việc được thực hiện có thể là cá nhân và pháp nhân, trong khi BLDS 2005 chỉ quy định người có công việc được thực hiện là cá nhân Ngoài ra, khoản 3 Điều 575 BLDS 2015, để liên lạc với người có công việc được thực hiện ngoài nơi cư trú còn có thể đến trụ sở nơi mà người đó làm việc thay vì chỉ liên lạc đến nơi cư trú của người đó như khoản 3 Điều 595 BLDS năm 2005 quy định

4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền" theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.

Dựa vào quy định của BLDS 2015 về việc Thực hiện công việc không có ủy quyền tại Điều 574 ta có thể rút ra một số điều kiện để áp dụng chế định Thực hiện công việc không có ủy quyền như sau:

Trang 3

Đối với người thực hiện công việc: Người thực hiện công việc này là một người không có nghĩa vụ đối với công việc đó Nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ pháp lý do luật định hoặc nghĩa vụ do các bên thỏa thuận nên ta có có thể hiểu là người này là không có nghĩa vụ thực hiện đối với người có công việc cần được thực hiện Và điều kiện quan trọng để xác định nghĩa vụ phát sinh từ thực hiện công việc không

ủy quyền là khi một chủ thể thực hiện công việc của người khác một cách tự nguyện Nếu trong trường hợp người thực hiện công việc một cách ngẫu nhiên, không có chủ ý hoặc bị ép buộc thì sẽ không được xem là thực hiện công việc không có ủy quyền và lúc này nghĩa vụ hoàn trả của người có công việc cần được thực hiện cho người thực hiện chỉ được phát sinh nếu người có công việc nhận được lợi ích

Đối với người có công việc được thực hiện: Họ không yêu cầu đối phương thực hiện công việc của mình nên ta có thể hiểu rằng giữa người có công việc và người thực hiện không tồn tại một hợp đồng hay bất cứ cứ một thỏa thuận nào trước đó Người có công việc có thể không biết hoặc sau khi biết họ không phản đối

Đối với công việc: Theo quy định tại Điều 574 BLDS 2015 thì công việc này “vì lợi ích của người có công việc được thực hiện” nên chỉ cần đảm bảo rằng công việc này được thực hiện là vì lợi ích của người có công việc thì hành vi đó được coi là thực hiện công việc không có uỷ quyền Như vậy, chỉ cần việc thực hiện công việc này xuất phát từ sự tự nguyện nhằm đem lại lợi ích cho người có công việc cần thực hiện đồng thời đảm bảo các quy định về nghĩa vụ thực hiện công việc theo Điều 575 BLDS 2015 thì người có công việc được thực hiện có nghĩa vụ thanh toán các chi phí hợp lý cho người thực hiện kể cả trong trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn

5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không?

Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trả lời: Theo Điều 574 BLDS 2015 quy định : “ Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối” Và như trong tình huống trên, ta có thể xác định như sau:

 Nhà thầu C đã ký hợp đồng với B nên C có nghĩa vụ thực hiện công việc xây dựng công trình theo như thỏa thuận trong hợp đồng với B

 C không tự nguyện thực hiện công việc mà thực hiện công việc đúng nghĩa

vụ của mình như trong như hợp đồng đã ký với B

 C thực hiện công việc không vì lợi ích của A mà là vì thù lao được thưởng theo hợp đồng đối với B

 A hoàn toàn không biết C làm mà A nghĩ là B là thực hiện công việc này

Trang 4

→ Vì vậy, dựa trên các cơ sở đã đưa thì nhà thầu C không thể yêu cầu chủ đầu tư

A thực hiện nghĩa vụ trên cơ sở công việc không có uỷ quyền

Vấn đề 2

6 Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?

Theo Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành

án về tài sản

1- Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau: a) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 1-7-1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là "giá gạo") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó

b) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 1-7-1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 1-7-1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với

số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

2- Đối với các khoản tiền tịch thu, tiền phạt, tiền án phí thì khi xét xử tòa án chỉ quyết định mức tiền cụ thể mà không áp dụng cách tính đã hướng dẫn tại khoản 1 nói trên

3- Đối với các khoản tiền vay, gửi ở tài sản Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó đã được bảo đảm thông qua các mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, cho nên khi xét xử, trong mọi trường hợp tòa án đều không phải quy đổi các khoản tiền đó ra gạo, mà quyết định buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán số tiền thực tế đã vay, gửi cùng với khoản tiền lãi, kể từ ngày khi giao dịch cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định

Trang 5

Tài sản qua trung gian là gạo để tính giá trị tiền thế chân phải hoàn trả.

7 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.

Cơ sở pháp lý: Điểm a khoản 1 mục I thông tư 01/TTLT ngày 29/1997

Quy đổi số tiền 50.000đ ra số kg gạo tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả (năm 1973): 50.000/137đ/(kg)

Giá gạo tại thời điểm xét xử là 15.000đ:

Theo cách tính trên thì thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô số tiền:

(50.000/137)*15.000=5.475.452đồng

8 Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?

Căn cứ theo Mục I.1 Thông tư số 01/TTLT thì thông tư trên điều chỉnh việc thanh toán tiền đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không

có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính như vậy thông tư trên không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT

9 Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa

án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?

Khoản tiền mà bà Hương phải trả cho cụ Bảng là của 1.697.760.000đ tức là⅕ 339.552.000

Vì theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội cho rằng bà Hương chỉ mới thanh toán được 4/5 giá trị chuyển nhượng đất cho cụ Bảng, số tiền còn nợ tương đương với 1/5 giá trị căn nhà, đất Do đó, bà Hương phải thanh toán số tiền còn nợ tương đương với 1/5 giá trị nhà, đất theo giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng với hướng dẫn tại điểm b2, tiểu mục 2.1, mục 2, phần II Nghị Quyết số 02/2004

10 Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?

Trang 6

Với hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội thì đã có tiền lệ Đó

là BẢN ÁN 20/2017/DS-ST NGÀY 27/09/2017 VỀ YÊU CẦU THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN

Tóm tắt bản án:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị N

Bị đơn: Lê Thụy T

Diễn biến vụ việc:

+ Năm 2013, bà N và bà T có giao dịch miệng việc mua bán gạo

+ Giữa năm 2014 các bên có chốt lại số nợ và bà T có ghi giấy xác nhận nợ tiền gạo còn thiếu với nội dung là vợ chồng bà T có nợ của bà 59.825.000 đồng và cam kết sẽ trả đầy

đủ vào ngày 10/9

+ Sau đó, bà T đã trả được 5.200.000 đồng

+ Mặc dù trên giấy nợ bà T có ghi là vợ chồng bà là Lê Thụy T và Nguyễn Anh P có nợ

bà nhưng bà N yêu cầu một mình bà T trả 54.625.000đồng

+ Bà xác nhận việc mua bán gạo chỉ một mình bà giao dịch với bà N cũng như việc nợ tiền mua bán gạo, xác nhận nợ, chồng bà ông Nguyễn Anh P đều không biết nên nay bà

N khởi kiện yêu cầu bà trả số tiền 54.625.000 đồng, bà đồng ý nhưng xin trả dần mỗi năm là 5.000.000 đồng cho đến khi hết

Nhận định của Tòa án:

+ Bà T đã thừa nhận hiện nay còn nợ lại số tiền 54.625.000 đồng nhưng chưa thanh toán nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”

+ Như vậy, từ những thông tin trên, có thể khẳng định đến nay bị đơn bà T chỉ mới trả cho nguyên đơn được 5.200.000 đồng, còn nợ lại 54.625.000 đồng không thanh toán cho nguyên đơn là đã đã xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn Do vậy, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Lê Thụy T phải trả 54.625.000 đồng, trả một lần là hoàn toàn

có căn cứ để chấp nhận

Vấn đề 3

11 Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận?

Trang 7

Giống nhau

1 Đều phải thông báo cho bên có nghĩa vụ/bên có quyền nếu chuyển giao quyền/chuyển giao nghĩa vụ

2 Không được chuyển giao trong trường hợp hai bên đã thoả thuận không chuyển giao hoặc pháp luật có quy định về việc không được chuyển giao, như nghĩa vụ gắn liền với nhân thân, quyền yêu cầu cấp dưỡng, bồi thường do xâm phạm tới tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín

3 Hậu quả pháp lý là làm chấm dứt tư cách chủ thể của người chuyển giao quyền/nghĩa vụ, làm phát sinh tư cách chủ thể, quyền và nghĩa vụ dân sự ở người được chuyển giao

Khác nhau

Tiêu

chí Chuyển giao quyền yêu cầu Chuyển giao nghĩa vụ

Chủ

thể Bên có quyền có quyền chuyển giaoquyền cho sang bên thứ ba (người thế

quyền)

Bên có nghĩa vụ có thể chuyển nghĩa

vụ cho bên thứ ba (người thế nghĩa vụ)

Quyền

hạn

Người chuyển giao quyền yêu cầu

không phải chịu trách nhiệm về khả

năng thực hiện nghĩa vụ của bên có

nghĩa vụ nên việc chuyển giao quyền

không cần có sự đồng ý của bên có

nghĩa vụ (khoản 2 Điều 365 BLDS)

Người đã chuyển giao nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên

có quyền nên để bảo vệ lợi ích của bên có quyền, việc chuyển giao nghĩa

vụ phải được sự đồng ý của bên có quyền (khoản 1 Điều 370 BLDS)

Trang 8

vi

- Đối với chuyển quyền yêu cầu có các

biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

thì việc chuyển giao quyền yêu cầu bao

gồm cả các biện pháp bảo đảm đó (Điều

368 BLDS)

- Người chuyển giao quyền có nghĩa vụ

đối với người thế quyền: người chuyển

giao quyền yêu cầu vi phạm nghĩa vụ

cung cấp thông tin và chuyển giao giấy

tờ có liên quan cho người thế quyền mà

gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt

hại (Điều 366 BLDS)

- Đối với chuyển giao nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm thì biện pháp bảo đảm sẽ đương nhiên chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều

371 BLDS)

- Không quy định về nghĩa vụ của người chuyển giao nghĩa vụ đối với người thế nghĩa vụ

Hình

thức Bằng văn bản và phải thông báo chobên có nghĩa vụ biết về việc chuyển

quyền để tránh việc bên có nghĩa vụ

phải từ chối việc thực hiện nghĩa vụ đối

với người thế quyền hay thực hiện

nghĩa vụ bổ sung, trừ trường hợp có

thoả thuận khác (khoản 2 Điều 365)

Không có quy định bắt buộc về mặt hình thức

12 Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú?

Thông tin cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú là : thông qua các biên nhận tiền cho bà Tú cung cấp thì chính bà Phượng là người trực tiếp nhận tiền của bà Tú vào năm 2003 với số tiền là 555.000.000 đồng và theo biên nhận ngày 27/4/2004 thể hiện bà Phượng nhận của bà Lê Thị Nhan số tiền 615.000.000 đồng

Bà Phượng không cung cấp được chứng cứ xác định bà Ngọc thỏa thuận vay tiền

Trang 9

với bà Tú Hơn nữa, theo lời khai của bà Phượng thì vào tháng 4/2004 do phía bà Loan, ông Thành và bà Ngọc không có tiền trả cho bà Tú để trả vốn vay Ngân hàng nên bà đã cùng với bà Tú vay nóng bên ngoài để có tiền trả cho Ngân hàng Xác định bà Phượng là người xác lập quan hệ vay tiền với bà Tú

13 Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh?

Đoạn trong văn bản cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh là:

“Xét thấy hợp đồng vay tiền giữa bà Phượng và bà Tú, phía bà Phượng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay không trả vốn, lãi cho bà Tú lẽ ra phía bà Phượng phải

có trách nhiệm thực hiện Tuy nhiên, phía bà Tú đã chấp nhận cho bà Phương chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thanh thể hiện qua việc

bà Tú đã lập hợp đồng cho bà Ngọc lấy số tiền 465.000.000 đ và hợp đồng cho bà Loan, ông Thanh vay số tiền 150.000.000 đ vào ngày 12/5/2005 Như vậy, kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc, bà Loan và ông Thanh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phương với bà Tú đã chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bà Ngọc, bà Loan và ông Thanh đối với bà Tú theo hợp đồng vay tiền đã ký Việc yêu cầu bà Phượng có trách nhiệm thanh toán nợ cho bà Tú là không có căn

cứ chấp nhận”

14 Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án?

Theo nhóm, đánh giá của tòa án là hoàn toàn hợp lý Căn cứ theo Điều 370 BLDS

2015 phía bà Tú chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao cho bà Ngọc, bà Loan, ông Thạnh thể hiện qua việc bà Tú lập hợp đồng cho bà Ngọc vay số tiền 465.000.000đ, hợp đồng cho bà Loan, ông Thạnh vay số tiền 150.000.000đ vào ngày 12/5/2005 Điều đó thể hiện người có quyền là bà Tú đồng ý với việc chuyển giao, khi chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận, người có nghĩa vụ ban đầu là bà Phượng đã được chấm dứt khỏi nghĩa vụ trả nợ Do đó bà Ngọc, bà Loan, ông Thạnh trở thành người thay nghĩa vụ, có trách nhiệm trả số nợ cho bà Tú

15 Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Nhìn từ góc độ văn bản, chuyển giao nghĩa vụ dân sự là trường hợp người có nghĩa

vụ ban đầu chuyển giao nghĩa vụ đã giao kết cho người khác (người thế nghĩa vụ)

thực hiện nghĩa vụ giữa mình và bên có quyền với sự đồng ý của người thế đó Bản

chất của chuyển giao nghĩa vụ dân sự là sự chuyển dịch pháp lý từ chủ thể chuyển

Trang 10

sang chủ thể nhận Chủ thể nhận nghĩa vụ chính là người thứ ba thay thế cho người có nghĩa vụ ban đầu và trở thành bên có nghĩa vụ Trong trường hợp chuyển giao nghĩa

vụ dân sự có biện pháp đảm bảo thì biện pháp đảm bảo đó cũng chấm dứt do sự chấm dứt tư cách chủ thể của người có nghĩa vụ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác Như vậy, người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền nữa dù người thế nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ được chuyển giao

Cơ sở pháp lý: Điều 370 BLDS 2015

16 Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết.

Trả lời: Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền khi người thế nghĩa vụ không thực hiện được việc chuyển giao Theo tác giả PGS.TS Đỗ Văn Đại thì khi người có nghĩa

vụ chuyển giao cho người thế nghĩa vụ đã đồng ý chuyển giao theo thỏa thuận, nghĩa vụ của người có nghĩa vụ đã được chuyển sang bên cho người thế nghĩa vụ Ngoài ra tác giả Đỗ Văn Đại cho rằng: “Nếu cho rằng người có nghĩa vụ ban đầu vẫn có trách nhiệm đối với người có quyền thì chúng ta không thấy sự khác nhau giữa chuyển giao nghĩa vụ với “thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba”

17 Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền?

Đoạn của bản án cho thấy Toà án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền:

“Như vậy, kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng đối với bà Tú đã chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh đối với bà Tú theo hợp đồng vay tiền đã ký Việc bà Tú yêu cầu bà Phượng có trách nhiệm thanh toán nợ cho bà là không có căn cứ chấp nhận”

“Việc bà Tú giữ giấy chứng minh Hải quan của bà Phượng theo thỏa thuận Phía

bà Phượng không có nghĩa vụ trả nợ cho bà Tú, buộc bà Tú hoàn trả lại cho bà Phượng giấy chứng minh Hải quan.”

Ngày đăng: 23/03/2022, 17:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình - Buổi thảo luận thứ nhất Nghĩa vụ MÔN HỌC PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
nh (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w