Vận dụng quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử vào quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay Vận dụng quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử vào quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay Vận dụng quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử vào quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay
Trang 1VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ VÀO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Vận dụng quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử vào phát triển kinh tế xã hội ởnước ta trong giai đoạn hiện nay……….9
Trang 22.2 Những thành quả và hạn chế đạt được trong 35 năm đổi mới của Đảng ta trên lĩnh
bỏ chế độ sở hữu tư nhân một cách ồ ạt, dẫn đến lực lượng sản xuất không phát triển,tình trạng trì trệ kéo dài, sản xuất đình đốn, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn.Nền kinh tế tăng trưởng thấp và thực chất không có phát triển
Trang 3Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã xác định phải đổi mới toàn diện đấtnước Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) đưa ra nhận định nước ta đã ra khỏikhủng hoảng kinh tế – xã hội, chỉ rõ hơn quan niệm về chặng đường đầu tiên và chặngđường tiếp theo của thời kì quá độ, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Xácđịnh đổi mới kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa, xâydựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân coi phát triểngiáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu Đại hội lần thứ 10của Đảng (4-2006) một lần nữa rút ra bài học “đổi mới toàn diện toàn bộ, có kế thừa,
có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạtđộng thực tiễn, từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội, từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lí của Nhà nước đối với hoạt động cụ thểtrong từng bộ phận của hệ thống chính trị Đổi mới tất cả các mặt của đời sống xã hộinhưng phải có trọng tâm, trọng điểm và có những bước đi thích hợp, bảo đảm sự gắnkết chặt chẽ và đồng bộ giữa 3 nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựngĐảng là then chốt và phát triển văn hóa – nề tảng tinh thần của xã hội
Qua 35 năm đổi mới việc vận dụng quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sự
cụ thể vào công cuộc đổi mới ở nước ta đã có nhiều thành công đáng kể trong việcphát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiên nay Ngày nay với nền kinh tế hội nhậpkinh tế quốc tế, đã cho thấy được việc vận dụng đúng đắn và hợp lý về quan điểmtoàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể trong cuông cuộc đổi mới kinh tế - xã hội hiệnnay có vai trò đặt biệt quan trong trong công cuộc đổi mới hiện nay
B NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận về quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử trong phép biện chứng duy vật
Trang 41.1 lý luận chung về quan điểm toàn diện trong phép biện chứng duy vật 1.1.1 Khái quát chung về nguyên lý mối liên hệ phổ biến trong phép biện chứng duy vật
a Khái niệm liên hệ, mối liên hệ
Khái niệm liên hệ Trong khi cùng tồn tại, các đối tượng luôn tương tác với
nhau, qua đó thể hiện các thuộc tính và bộc lộ bản chất bên trong, khẳng định mình lànhững đối tượng thực tồn Sự thay đổi các tương tác tất yếu làm đối trượng, các thuộctính của nó thay đổi, và trong một số trường hợp có thể làm nó biến mất, chuyển hóathành đối tượng khác Sự tồn tạo của đối tượng, sự hiện hữu các thuộc tính của nó phụthuộc vào các tương tác giữa nó với các đối tượng khác, chứng tỏ rằng, đối tượng cóliên hệ với các tối tượng khác Vậy mối liên hệ là gì?
“Mối liên hệ” là một phạm trù của triết học dùng để chỉ các mối ràng buộctương hỗ, quy định và các yếu tố ảnh hưởng lần nhau với các yếu tố, bộ phận trongmột đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau Cũng có thể quan hệ dùng để chỉukhái niệm “quan hệ”, nhưng khái niệm quan hệ rông hơn “liên hệ” Liên hệ chỉ quan
hệ giữa hai đối tượng nếu thay đổi của một trong số chúng nhất định làm đối ttượngkia thay đổi Chẳng hạn, vậ động của vật thể có liê hệ hữu cơ với khối lượng của nó,bởi sự thay đổi vận tốc vận động tất yếu làm khối lượng của nó thay đổi; các sinh vâthđều có liên hệ với môi trường bên ngoài: những thay đổi của môi trường làm tất yếulàm cơ thể có sự thay đổi tương ứng; công cụ lao động có mối liên hệ với đối tượnglao động: những thay đổi của công cụ lao động gây ra những thay đổi xác định trongđối tượng lao động mà các công cụ đó tác động nên, đến lượt mình biến đổi của đốitượng lao động tất yếu gây ra những biến đổi ở các công cụ lao động…
b Các tính chất của mối liên hệ
Tính khách quan của mối liên hệ Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối
liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm
Trang 5đó, sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm chuyên hóa lẫn nhau của các sựvật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lậpkhông phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng
các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình Tính phổ biến của mối liên hệ.
Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nàotồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác Đồng thời,cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, baogồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứmột tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên
hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau Tính đa dạng của các mối liên hệ Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: mỗi sự vật,
hiện tượng đều có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong và bên ngoài, trực tiếp vàcrián tiếp, cơ bản và không cơ bản… chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồntại, phát triển của sự vật đó; đồng thời, mỗi mối liên hệ đó lại có những biểu hiệnphong phú khác nhau trong những điều kiện cụ thể khác nhau…
c Bài học phương pháp luận rút ra từ nguyên lý mối liên hệ phổ biến
Bài học phương pháp luận của nguyên lí mối liên hệ phổ biến: Quan điểm toàn
diện Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể
thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên hệcủa chỉnh thể đó. Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếucủa đối tượng đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại, bởi chỉ cónhư vậy, nhận thức mới có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan với nhiềuthuộc tính, nhiều mối liên hệ, quan hệ tác động qua lại của các đối tượng Thứ ba, cầnxem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và với môi trường xungquanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp; trong không gian, thờigian nhất định, tức cần nghiên cứu cả những mối liên hệ của đối tượng trong quá khứ,hiện tại và phán đoán cả tương lai của nó. Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với
Trang 6quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy mặt này mà không thấy mặt khác; hoặc chú
ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải, không thấy mặt bản chất của đối tượngnên dễ rơi vào thuật ngụy biện (đánh tráo các mối liên hệ cơ bản thành không cơ bản
và ngược lại) và chủ nghĩa chiết trung (lắp ghép vô nguyên tắc các mối liên hệ tráingược nhau vào một mối liên hệ phổ biến)
1.1.2 Nội dung của nguyên tắc toàn diện trong phép biện chứng duy vật
Nguyên tắc toàn diện trong hoạt động trong hoạt động nhận thức và hoạt độngthực tiễn là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng củaphép biện chứng duy vật Cơ sở lí luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lí về mốiliên hệ phổ biến Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi, muốn nhận thức được bản chất của sựvật, hiện tượng chúng ta phải xem xét sự tồn tại của nó trong mối liên hệ qua lại giữacác bộ phận, yếu tố, thuộc tính khác nhau trong tính chỉnh thể của sự vật, hiện tương
ấy và trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện trong khác,tránh cách xem xét phiến diện, một chiều Nguyên tắc toàn diện đồi hỏi phải xem xét,đánh giá tìmg mặt, tùng mối liên hệ, và phải nắm được đâu là mối liên hệ chủ yếu,bản chất quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện trong tránh chủ nghĩa chiếttrung, kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ; tránh sai lầm của thuật nguy biện, coicái cơ bản thành cái không cơ bản, không bản chất thành bản chất hoặc ngược lại, dẫnđến sự nhận thức sai lệch, xuyên tạc bản chất sự vật, hiện tượng
Trong nhận thức, nguyên tắc toàn diện là yêu cầu tất yếu của phương pháp tiếpcận khoa học, cho phép tính đến mọi khả năng của vận động, phát triển có thể có của
sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu, nghĩa là cần xem xét sự vật, hiện tượng trong mộtchính thể thống nhất với tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, cùngcác mối liên hệ của chúng Muốn thực sự hiểu được sự vật, cân phải nhìn bao quát vànghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp của sự vật đó,phải tính đến “tổng hoà những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với những sự vật khác.Tuy nhiên, cũng theo VI Lênin, chúng ta không thể làm được điều đó hoàn toàn đầy
Trang 7đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ để phòng không phạm sai lầm
và cứng nhắc Sở dĩ chúng ta không làm được điều đó hoàn toàn đầy đủ bởi trong quátrình vận động, phát triển, sự vật, hiện tượng phải trải qua nhiều giai đoạn tồn tại, pháttriển khác nhau, trong mỗi giai đoạn đó không phải lúc nào sự vật, hiện tượng cũngbộc lộ tất cả các mối liên hệ bến trong và bên ngoài của nó Hơn nữa, tất cả nhữngmối liên hệ ấy chỉ được biểu hiện ra trong những điều kiện nhất định Và bản thân conngười, những chủ thể nhận thức với những phẩm chất và năng lực của mình luôn bịchế ước bởi những điều kiện xã hội lịch sử, do đó không thể bao quát được hết nhữngmối liên hệ bên trong và bên ngoài sự vật, hiện tượng
Nguyên tắc toàn diện còn đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, hiện tượng chúng
ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Mối liên hệgiữa sự vật, hiện tượng với nhu cầu của con người rất đa dạng Trong mỗi hoàn cảnhnhất định, con người chỉ phản ánh một số mối liên hệ nào đó của sự vật, hiện tượngphù hợp với nhu cầu nhất định của mình, nên nhận thức của con người về sự vật, hiệntượng mang tính tương đối, không đầy đủ, trọn vẹn Nắm được điều đó sẽ tránh tuyệtđối hoá những tri thức đã có về sự vật, hiện tượng và tránh coi những tri thức đã có lànhững chân lí bất biến, tuyệt đối, cuối cùng về sự vật, hiện tượng mà không bổ sung,phát triển Bởi vậy, khi xem xét toàn diện tất cả các mặt của những mối quan hệ của
sự vật, hiện tượng phải chú ý đến sự phát triển cụ thể của các quan hệ đó Chỉ có nhưvậy mới thấy được vai trò của các mặt trong từng giai đoạn cũng như của toàn bộ quátrình vận động, phát triển của từng mối quan hệ cụ thể của sự vật, hiện tượng Theo
VI, Lênin, phép biện chứng đòi hỏi người ta phải chú ý đến tấ cả các mặt của nhữngmối quan hệ trong sự phát triển cụ thể của những mối quan hệ đó, chứ không phải lấymột mẩu ở chỗ này, mộtmẩu ở chỗ kia Như vậy, xem xét toàn diện nhưng không bìnhquân, dàn đểu" mà có trọng tâm, trọng điểm”, phải tìm ra vị trí từng mặt, từng yếu tố,từng mối liên hệ ấy trong tổng thể của chúng, phải từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối
Trang 8liên hệ của sự vật, hiện tượng để khái quát, rút ra mối liên hệ chủ yếu nhất, bản chấtnhất, quan trọng nhất chi phối sự tồn tại và phát triển của chúng.
1.2 Những nội dung cơ bản của quan điểm lịch sử trong phép biện chứng duy vật
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể cung là một trong những nguyên tắc phương phápluận cơ bản, trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn Đặc trưng cơ bản củanguyên tắc này là xem xét sự hình thành, tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượngtrong điều kiện, môi trường cụ thể, hoàn cảnh lịch sử cụ thể Điểm xuất phát củangiuyên tắc lịch sử cụ thể là sự tồn tại vận động, phát triển của sự vật hiện tượng trongkhông gian, thời gian cụ thể Không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể khácnhau thì có mối liên hệ và hình thức phát triển của sự vật, hiện tượng cũng khác nhau.Bởi vậy, không chỉ nghiên cứu chúng trong các không gian, thời gian, điều kiện, hoàncảnh- cụ thể khác nhau
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mỗi sự vật hiện tượng đều
có quá trình, phát triển và diệt vong của mình và quá trình đó thể hiện trong tính cụthể, ao gồm mọi sự vật thay đổi và phát triển diễn ra trog điều kiện, hoàn cảnh kháchnhau trog không gian và thời gian khác nhau Bởi vậy, nghiên tắc lịch sử cụ thể đòihỏi để nhận thức đầu đủ về sự vật hiện tượng, chúng ta cần phải xem xét sự vật hiệntượng đó trong quá trình phát sinh, phát triển, chuyền hóa trong các hình thức biểuhiện, với những bước quanh co, với những ngẫu nhiên gây tác động lên quá trình tồntại của sự vật, hiện tượng trong không gian và thời gian cụ thể; gắn liền với điều kiệnhoàn cảnh cụ thể mà trong đó các sự vật, hiện tượng tồn tại Nghiên cứu sự vật, hiệntượng trong sự vật động và phát triển trong từng giai đoạn cụ thể của nó; biết phântích tình hình cụ thể trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là yếu tố quantrọng nhất trong các yếu tố của nội dung nguyên tắc lịch sử - cụ thể Nguyên tắc lịch
sử cụ thể được Lênin nêu rõ và cô đọng, “xem xét mỗi vần đề theo quan điểm sau đây:một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó trải
Trang 9qua những giai đoạn chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xemxét hiện nay nó trở thành như thế nào” Bản chất của nguyên tắc này nằm ở chổ, trongquá trình nhận thức sự vật, hiện tượng, trong sự vận động, trong sự chuyển hóa qua lạicủa nó, phải tái tạo lại được những sự phát triển của sự vật, hiện tượng ấy, sự vậnđộng của chính nó, đời sống của chính nó Nhiệm vụ của nguyên tắc lịch sử - cụ thể làtái tạo sự vật, hiện tượng xuyên qua lăng kính của những ngẫu nhiên lịch sử, nhữngbước quanh co, những gián đoạn theo trình tự không gian và thời gian Nét quan trọngnhất của nguyên tắc lịch sử - cụ thể là mô tả sự kiện cụ thể theo trình tự nghiêm ngặtcủa sự hình thành sự vật, hiện tượng Giá trị của nguyên tắc này là ở chỗ, nhờ đó mà
có thể phản ánh được sự vận động lịch sử phong phú và đa dạng của các hình thứcbiểu hiện cụ thể của sự vật, hiện tượng để qua đó, nhận thức, được bản chất của nó.Nguyên tắc lịch sử - cụ thể yêu cầu phải nhận thức được vận động có tính phổbiến, là phương thức tồn tại của vật chất, nghĩa là phải nhận thức được sự vận động,làm cho sự vật, hiện tượng xuất hiện, phát triển theo những quy luật như định và hìnhthức của vận động quyết định bản chất của nó, phải chỉ rõ được những giai đoạn cụthể mà nó đã trải qua trong quá trình phát triển của mình; phải biết phân tích mối tìnhhình cụ thể trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiền thì mới có thể hiểu, giảithích được những thuộc tính, những mối liên hệ tất yếu, những đặc trưng chất vàlượng vốn có của sự vật, hiện tượng
Nguyên tắc lịch sử – cụ thể không chỉ yêu cầu nhận thức những thay đổi diễn ratrong sự vật, hiện tượng, nhận thức những trạng thái chất lượng thay thế nhau, mà cònyêu cầu chỉ ra được các quy luật khách quan quy định sự vận động, phát triển của sựvật, hiện tượng, quy định sự tồn tại hiện thời và khả năng chuyển hoá thành sự vật,hiện tượng mới thông qua sự phủ định; chỉ ra được rằng, thông qua phủ định của phủđịnh, sự vật, hiện tượng mới là sự kế tục sự vật, hiện tượng cũ; là sự bảo tồn sự vật,hiện tượng cũ trong dạng đã được lọc bỏ, cải tạo cho phù hợp với sự vật, hiện tượngmới Như vậy, chỉ khi đã tìm được mối liên hệ khách quan, tất yếu giữa các trạng thái
Trang 10chất lượng, tạo nên lịch sử hình thành và phát triển của sự vật, hiện tượng đang nghiêncứu, tạo nên các quy luật quy định sự tồn tại và chuyển hoá của nó, quy định giai đoạnphát triển này sang giai đoạn pháttriển khác cho tới trạng thái chín muồi và chuyểnhoá thành trạng thái khác, hay thành các mặt đối lập của nó, thì mới có thể giải thíchcác đặc trưng chất lượng và số lượng đặc thù của nó, nhận thức được bản chất của nó.Nguyên tắc lịch sử - cụ thể còn đòi hỏi phải xem xét các sự vật, hiện tượngtrong các mối liên hệ cụ thể của chúng Việc xem xét các mặt, các mối liên hệ cụ vongcủa chúng cho phép nhận thức đúng đắn bản chất của các sự vật, hiện tượng thể của
sự vật, hiện tượng trong quá trình hình thành, phát triển cũng như diệt và từ đó mới cóđịnh hướng đúng cho hoạt động thực tiễn của con người Đối với việc nghiên cứu quátrình nhận thức, nguyên tắc lịch sử - cụ thể cũng đòi hỏi phải tính đến sự phụ thuộccủa quá trình đó vào trình độ phát triển của xã hội, trình độ phát triển của sản xuất vàcác thành tựu khoa học trước đó
Sự kiện tuy có vai trò quan trọng đối với nguyên tắc lịch sử – cụ thể và đối vớicác nguyên tắc khác nói chung, nhưng nguyên tắc lịch sử – cụ thể không kết hợp các
sự kiện đơn lẻ, mô tả các sự kiện, mà tái hiện sự kiện, chi ra mối liên hệ nhân quả giữacác sự kiện với nhau, khám phá quy luật và phân tích ý nghĩa và vai trò của chúng tạonên bức tranh khoa học về các quá trình lịch sử
Nhận thức sự vật, hiện tượng theo nguyên tắc lịch sử - cụ thể là cần thấy cácmối liên hệ, sự biến đổi của chúng theo thời gian, cũng như trong những không giantồn tại khác nhau của mỗi mặt, mỗi thuộc tính, đặc trưng của sự vật, hiện tượng, tránhkhuynh hướng giáo điều, chung chung, trừu tượng không cụ thể Mặt khác, cũng cần
đề phòng khuynh hướng tuyệt đối hoá tính cụ thể, không thấy sự vật, hiện tượng trong
cả quá trình vận động, biến đổi Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễnphải vừa thấy tính cụ thể, vừa thấy cả quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng làđiều tất yếu