1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề bài: Triết lí sống nhàn trong bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

5 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 220,89 KB
File đính kèm 7. NHÀN.pdf.zip (208 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHÀN Nguyễn Bỉnh Khiêm Đề bài: Triết lí sống nhàn trong bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm I. MỞ BÀI Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) sống gần trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam: Lê – Mạt xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống nhân dân, vừa bảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng thái độ thâm trầm của bậc đại nho. Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi. II. THÂN BÀI 1. Triết lí sống Nhàn Nhàn trước hết có thể hiểu là nhàn rỗi, nhàn việc, nhàn tâm. Nhàn đã trở thành một quan niệm, một triết lý sống ở thời phong kiến. Các nhà nho xưa đã sống theo quan niệm xuất xử của nho học, họ học hành để đỗ đạt. Thời hưng trị thì họ ra cứu nước giúp đời, còn khi thời thế loạn lạc, gặp chúa tối vua mê thì họ rút lui về ở ẩn bên núi bên sông để giữ mình trong sạch. Có thể hiểu triết lý sống nhàn là lối sống hòa hợp với tự nhiên, giữ được cốt cách thanh cao, vượt được trên danh lợi. Trong thời phong kiến có nhiều nhà nho khi không gặp thời đã lui về ở ẩn để sống nhàn như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến... Triết lí sống nhàn được thể hiện rõ trong bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. 2. Hai câu đề: Nhàn là sống với những gì mình mong muốn: “Một mai , một cuốc , một cần câu,” Điệp số từ “một” kết hợp với việc liệt kê các danh từ “mai”, “cuốc” , “cần câu” đã khắc họa những vật dụng vốn quen thuộc của công việc ruộng đồng làm nổi bật không gian êm ả, yên tĩnh của làng quê. Nào mai, nào cuốc những thứ ấy đều là công việc mệt nhọc của nhà nông. Cái công việc mà làm quần quật cả ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời, một nắng hai sương. Ấy thế mà ở đây tác giả lại nói đó là việc nhàn, tại sao vậy? Có thể nói so với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đó là một công việc tuy mệt mỏi chân tay nhưng lại không mệt trí óc hay tâm hồn. Nhà thơ được thong dong nơi ruộng vườn như một lão nông vui thú điền viên. Cuộc sống lao động vất vả, nhọc nhằn, gắn liền với đất bùn hôi tanh nhưng không thể làm mất đi cái đẹp trong sáng, cao khiết trong tâm tưởng: “Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ ? An nhàn ngã thị địa trung tiên” ( trích Ngụ hứng Nguyễn Bỉnh Khiêm) Từ nền tảng của cuộc sống lao động , từ vẻ đẹp trong sáng luôn tỏa rạng trong tâm hồn bậc thi nhân, vượt lên trên nỗi cực nhọc thưởng tình của nghề nông, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có những vần thơ thật đẹp, mang đậm hơi thở của cuộc sống thôn quê. Quả thật: Cuộc sống là cánh đồng màu mỡ để cho thơ bén rễ sinh sôi ( Puskin) “ Thơ thẩn dầu ai vui thú nào” Hai chữ Thơ thẩn thể hiện một cách tài tình phong cách ung dung và tâm trạng thảnh thơi của con người tự cho mình là đã xa lánh cõi trần tục đầy tham, sân, si; trong lòng không còn vướng bận những âm mưu, toan tính bon chen. Niềm vui như hiện lên trong từng bước đi thong thả, nhàn nhã. Niềm vui chi phối cả âm điệu bài thơ, cứ nhẹ nhàng, lâng lâng, thanh thản một cách lạ kì. Cụm từ dầu ai vui thú nào còn nói lên lập trường kiên định của nhà thơ trước lối sống đã lựa chọn. Chữ ai vốn là một đại từ phiếm chỉ, được tác giả sử dụng trong câu thơ này với một nghĩa rất rộng, càng suy ngẫm càng thấy thú vị. Nhưng cô đọng lại trong từng câu chữ chính là cách sống lạc quan, tự tại, vui với cuộc sống thuần hậu, gần gũi. 3. Hai câu thực: Nhàn là chối bỏ lối sống xa hoa, đua tranh nơi kinh đô, sống cuộc sống tự tại nơi vườn ruộng “ Ta dại ,ta tìm về nơi vắng vẻ, Người khôn , người đến chốn lao xao.” Nghệ thuật đối lập thể hiện qua các từ “ta”“người”; “dại”“khôn” ; “nơi vắng vẻ”“chốn lao xao” đã cho ta thấy rõ quan niệm sống của nhà thơ. Hai từ láy “vắng vẻ” và “lao xao” để miêu tả hai chốn ở khác nhau. Vắng vẻ từ láy tạo nên đậm nét sức bình dị, yên bình của thôn quê. Còn từ láy lao xao nó như có cả tiếng reo vui, tiếng náo nhiệt và tấp nập của chốn đô thành. Sự đối lập, tương phản nhấn mạnh sự trái ngược hoàn toàn tới xung khắc của hai nơi sống, hai quan điểm sống và hai sự lựa chọn. Và từ đây ta có thể hiểu nơi vắng vẻ là thôn quê, yên lành, còn chốn lao xao là vùng kinh đô đầy náo nhiệt. Nhân vật trữ tình đã chủ động tìm về nơi vắng vẻ đến với chốn thôn quê, sống cuộc sống thanh nhàn mặc cho bao người tìm chốn “phồn hoa đô hội”. Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề, khẳng định cho thái độ sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này. Dại và khôn bấy giờ được đánh giá dựa trên cuộc sống vật chất, danh lợi. Người đời thường lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dụng ích kỷ, tầm thường của con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Nhưng với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì: “Khôn mà hiểm độc là khôn dại Dại mà hiền lành là dại khôn” Khôn sống ở nơi vinh hoa, phú quý để rồi phải suy tính, mưu mô, không được là chính mình liệu có đáng? Dại về với thiên nhiên thôn quê để sống thanh đạm, êm đềm, sống bằng cả lòng mình, theo ý mình phải chăng là hồ đồ? Trong cái dại lại có

Trang 1

1

NHÀN -Nguyễn Bỉnh Khiêm-

Đề bài: Triết lí sống nhàn trong bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm

I MỞ BÀI

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) sống gần trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam: Lê – Mạt xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh Trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống nhân dân, vừa bảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng thái độ thâm trầm của bậc đại nho Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi

II THÂN BÀI

1 Triết lí sống Nhàn

Nhàn trước hết có thể hiểu là nhàn rỗi, nhàn việc, nhàn tâm Nhàn đã trở thành một quan niệm, một triết lý sống ở thời phong kiến Các nhà nho xưa đã sống theo quan niệm xuất xử của nho học, họ học hành để đỗ đạt Thời hưng trị thì họ ra cứu nước giúp đời, còn khi thời thế loạn lạc, gặp chúa tối vua mê thì họ rút lui về ở ẩn bên núi bên sông để giữ mình trong sạch Có thể hiểu triết lý sống nhàn là lối sống hòa hợp với tự nhiên, giữ được cốt cách thanh cao, vượt được trên danh lợi Trong thời phong kiến có nhiều nhà nho khi không gặp thời đã lui về ở ẩn để sống nhàn như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến Triết lí sống nhàn được thể hiện rõ trong bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm

2 Hai câu đề: Nhàn là sống với những gì mình mong muốn:

“Một mai , một cuốc , một cần câu,”

Điệp số từ “một” kết hợp với việc liệt kê các danh từ “mai”, “cuốc” , “cần câu”

đã khắc họa những vật dụng vốn quen thuộc của công việc ruộng đồng làm nổi bật không gian êm ả, yên tĩnh của làng quê Nào mai, nào cuốc những thứ ấy đều là công việc mệt nhọc của nhà nông Cái công việc mà làm quần quật cả ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời, một nắng hai sương Ấy thế mà ở đây tác giả lại nói đó là việc nhàn, tại sao vậy? Có thể nói so với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đó là một công việc tuy mệt mỏi chân tay nhưng lại không mệt trí óc hay tâm hồn Nhà thơ được thong dong nơi ruộng vườn như một lão nông vui thú điền viên Cuộc sống lao động vất vả, nhọc nhằn, gắn liền với đất bùn hôi tanh nhưng không thể làm mất đi cái đẹp trong sáng, cao khiết trong tâm tưởng:

“Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ ?

An nhàn ngã thị địa trung tiên!”

( trích Ngụ hứng - Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Trang 2

2

Từ nền tảng của cuộc sống lao động , từ vẻ đẹp trong sáng luôn tỏa rạng trong tâm hồn bậc thi nhân, vượt lên trên nỗi cực nhọc thưởng tình của nghề nông, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có những vần thơ thật đẹp, mang đậm hơi thở của cuộc sống thôn

quê Quả thật: Cuộc sống là cánh đồng màu mỡ để cho thơ bén rễ sinh sôi (

Puskin)

“ Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Hai chữ "Thơ thẩn" thể hiện một cách tài tình phong cách ung dung và tâm

trạng thảnh thơi của con người tự cho mình là đã xa lánh cõi trần tục đầy tham, sân, si; trong lòng không còn vướng bận những âm mưu, toan tính bon chen Niềm vui như hiện lên trong từng bước đi thong thả, nhàn nhã Niềm vui chi phối cả âm điệu

bài thơ, cứ nhẹ nhàng, lâng lâng, thanh thản một cách lạ kì Cụm từ "dầu ai vui thú

nào" còn nói lên lập trường kiên định của nhà thơ trước lối sống đã lựa chọn Chữ

"ai" vốn là một đại từ phiếm chỉ, được tác giả sử dụng trong câu thơ này với một

nghĩa rất rộng, càng suy ngẫm càng thấy thú vị Nhưng cô đọng lại trong từng câu chữ chính là cách sống lạc quan, tự tại, vui với cuộc sống thuần hậu, gần gũi

3 Hai câu thực: Nhàn là chối bỏ lối sống xa hoa, đua tranh nơi kinh đô, sống cuộc sống tự tại nơi vườn ruộng

“ Ta dại ,ta tìm về nơi vắng vẻ, Người khôn , người đến chốn lao xao.”

Nghệ thuật đối lập thể hiện qua các từ “ta”-“người”; “dại”-“khôn” ; “nơi vắng vẻ”-“chốn lao xao” đã cho ta thấy rõ quan niệm sống của nhà thơ Hai từ láy “vắng vẻ” và “lao xao” để miêu tả hai chốn ở khác nhau Vắng vẻ từ láy tạo nên đậm nét sức bình dị, yên bình của thôn quê Còn từ láy lao xao nó như có cả tiếng reo vui, tiếng náo nhiệt và tấp nập của chốn đô thành Sự đối lập, tương phản nhấn mạnh sự trái ngược hoàn toàn tới xung khắc của hai nơi sống, hai quan điểm sống và hai sự lựa chọn Và từ đây ta có thể hiểu nơi vắng vẻ là thôn quê, yên lành, còn chốn lao xao

là vùng kinh đô đầy náo nhiệt Nhân vật trữ tình đã chủ động tìm về nơi vắng vẻ đến với chốn thôn quê, sống cuộc sống thanh nhàn mặc cho bao người tìm chốn “phồn hoa đô hội” Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề, khẳng định cho thái độ sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này Dại và khôn bấy giờ được đánh giá dựa trên cuộc sống vật chất, danh lợi Người đời thường lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dụng ích kỷ, tầm thường của con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn Nhưng với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì:

“Khôn mà hiểm độc là khôn dại

Dại mà hiền lành là dại khôn”

Khôn sống ở nơi vinh hoa, phú quý để rồi phải suy tính, mưu mô, không được

là chính mình liệu có đáng? Dại về với thiên nhiên thôn quê để sống thanh đạm, êm đềm, sống bằng cả lòng mình, theo ý mình phải chăng là hồ đồ? Trong cái dại lại có

Trang 3

3

cái khôn, câu thơ với giọng điệu hóm hỉnh, mỉa mai đã cất lên triết lí sống của bậc trí giả: Tìm đến thiên nhiên, tránh xa rối ren, thị phi nơi triều chính để giữ sự thanh cao, trong sạch Qua đây, ta nhận ra rằng thơ không chỉ làm ta say mà còn thức tỉnh trong lòng người những điều triết lí sâu xa "Thơ là cây đàn muôn điệu" của tâm hồn, của nhịp đập con tim Xưa nay thơ vẫn là cuộc đời, là lương tri, là tiếng gọi con người hãy quay về bản chất thực của mình để vươn lên cái chân, thiện, mỹ, tới tầm cao của

khát vọng sống, tới tầm cao của giá trị sống Bài thơ "Nhàn" cho thấy Nguyễn Bỉnh

Khiêm đã thực sự tìm ra lối sống tốt nhất cho ông trong xã hội đương thời

4 Hai câu luận: Nhàn là sống thuận theo tự nhiên

“ Thu ăn măng trúc ,đông ăn giá , Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao ”

Hai câu thơ tả cảnh sinh hoạt giản dị mà không kém phần thú vị nơi thôn dã với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Sống ở nơi thôn quê còn nhiều khó khăn vất vả, nhưng ở đó lại có các thú vui riêng và được thưởng thức những món ăn tưởng rất bình thường nhưng lại ngon vô cùng Chỉ có măng trúc và giá thôi, mà nào thức nấy, những thứ ấy dù rất bình thường vì lúc nào cũng có sẵn trong nhà Ngon mà thanh sạch biết bao, bởi vì đã không ít lần Nguyễn Bỉnh Khiêm nói rằng:

Hay:

Nói về chuyện sinh hoạt hằng ngày, nhà thơ không chỉ nói chuyện ái ăn cái

uống mà còn nói chuyện tắm và là tắm ở hồ sen, ở ao: “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm

ao” Chỉ có vùng nông thôn người ta nói có thể được vùng vẫy, thoải mãi thả hồn

mình vào trong thiên nhiên hoà mình với thiên nhiên để cảm hết niềm hạnh phúc, thú vui lạc quan ở đời Nếu mới đọc qua chúng ta chỉ thấy đó là hai câu thơ tả cuộc sống nơi thôn quê của Nguyễn Bỉnh Khiêm Nhưng chiều sâu trong đó lý tưởng sống cùa ông, là khát vọng được sống hoà hợp với thiên nhiên Được ăn những món ăn

mà chỉ do thiên nhiên hoà quyện với thiên nhiên mới khiến ta mở rộng lòng mình, vùng vẫy ôm thiên nhiên vào lòng và cũng chính thiên nhiên ôm ta vào lòng nâng dậy sức sống và khơi mát tâm hồn Chỉ có thiên nhiên tươi đẹp mới làm cho tâm hồn

ta thanh thản, ấm áp mà thôi Và nếu cần đánh đổi thì Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ sẵn sàng đánh đối phú quí để được tận hưởng cuộc sống này:

Ta cũng bắt gặp cách sống vừa giản dị nhưng cũng thật thi vị ấy trong những vần thơ của Hồ Chí Minh :

“Sáng ra bờ suối ,tối vào hang Cháo bẹ , rau măng vẫn sẵn sàng”

Đều miêu tả cảnh sống và sinh hoạt gắn liền với không gian , thời gian đều đặn như một quy luật: “Thu đông xuân hạ” – “ Sáng tối”; “hồ ao”-“suối hang”, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Hồ Chí Minh cùng toát lên vẻ đẹp trong sáng của những tâm

Trang 4

4

hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, coi thường vật chất bên ngoài Ta đọc ở đây một

nụ cười kín đáo hồn nhiên rất giản dị, chân thành, khiến người đọc có cảm giác như các thi nhân đang bằng lòng, thích thú và vui sướng với cuộc sống như vậy

4 Hai câu kết: Nhàn là coi thường danh lợi

“ Rượu đến cội cây , ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao ”

Đây là hai câu thơ có lấy điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say và nằm dưới gốc cây hoè ngủ Ông ta mơ thấy mình ở nước Hoè An được công danh phú quí, vinh huấn Nhưng khi tỉnh dậy thì đó chỉ là giấc mộng, thấy cành hoè phía nam chỉ có một

tổ kiến mà thôi Điển tích này để chỉ phú quí chỉ là giấc chiêm bao Đối với một con người tài hoa, có trí tuệ lớn như Nguyễn Bỉnh Khiêm thì thực sự phú quý không phải

là những gì quá viển vông, xa vời, khó lòng đạt được Ông từng đỗ Trạng nguyên, từng làm quan to trong triều nên uy quyền, tiền bạc, của cải đối với ông đều ở trong tầm tay Nhưng đó lại không phải là điều ông nghĩ đến và tham vọng Với ông phú quý chỉ "tựa chiêm bao", như một giấc mơ, khi tỉnh dậy thì sẽ tan, sẽ hết mà thôi Bởi xét đến cùng, giữa một xã hội đâu đâu cũng là hư danh, phú quý phù du, mấy ai được như Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Trãi để nhìn thấy lẽ đời, sự đời, để gìn giữ khí tiết thanh tao “tìm về nơi vắng vẻ - dầu ai vui thú nào” Nhân vật trữ tình đã tìm đến cái say để tỉnh, dùng mộng để nói thực và thốt lên những chiêm nghiệm sâu sắc Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình:

“Ở thế mới hay người bạc ác

Giàu thì tìm đến, khó thì lui”

(Thói đời)

Phú quý gắn với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ Tăng thử (Ghét chuột) Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân

III KẾT LUẬN

đạt đến độ lí tưởng cả về nội dung, nghệ thuật Và ngòi bút của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua "Nhàn" đã làm được điều đó

1 Nghệ thuật:

Bài thơ sử dụng thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật với việc phát huy cao độ các phép đối tạo nên sự đăng đối, cân xứng cho từng câu, từng cặp câu Ngôn ngữ tiếng Việt mộc mạc, giản dị nhưng rất giàu sức gợi Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình và triết lí sâu xa đã tạo nên sự thâm trầm, sâu lắng cho bài thơ, dù giọng

điệu có vẻ tếu táo, vui đùa, tự nhận mình là "ta dại" còn "người khôn"

2 Nội dung:

Trang 5

5

"Nhàn" là bức chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm được chụp từ nhiều góc độ

khác nhau: cuộc sống, tâm hồn và trí tuệ Mai Quốc Liên từng khẳng định: “Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi như Giang, Hán trong các sông, như ánh mặt trời thu, cây đại thụ của đạo đức, văn chương thế kỉ XVII” Nhàn là một chủ đề rất phổ biến trong thơ

ca trung đại, là một nét tư tưởng văn hóa rất sâu sắc của người xưa, đặc biệt là tầng lớp trí thức Sống nhàn dật với tự nhiên để tu dưỡng nhân cách, đem lại thú vui tao nhã cho con người Biết sống sống nhàn, biết tìm thú nhàn là cả một học thuyết triết học lớn Bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm in đậm dấu ấn tinh thần con người

cá nhân trước một thời đại mất phương hướng, chao đảo, loạn lạc, nhiều đổi thay

3 Liên hệ, mở rộng

Tuy nhiên khi tiếp cận tác phẩm , độc giả cũng dễ bị hiểu lầm rằng quan niệm sống nhàn chính là nhàn việc, biếng lười Và câu nói của Nguyễn Quân khi bàn về tập "Bạch Vân quốc ngữ thi" đã lên tiếng về điều đó: “Lại nữa, cụ có chủ trương là chủ trương vô sự, nghĩa là không để có sự rắc rối, chớ đâu phải là chủ trương vô vi nghĩa là không làm gì hết, cứ việc phó mặc cho con tạo xoay vần … Có thể nói là sự lánh đời nhưng còn khuyên đời, còn mong ước đời vẫn không quên ơn vua chúa , không phụ tình nước non”

Mỗi thời, quan niệm sống nhàn lại có những ý nghĩa rất riêng Đặt trong xã hội hiện nay, nhàn không có nghĩa là sự phó mặc, thờ ơ với cuộc sống mà tích cực hơn chính là cốt cách ngay thẳng, trong sạch Đừng vì danh lợi và những thứ xa hoa phù phiếm mà đánh mất đi nhân cách của mình Chúng ta hãy cống hiến hết mình cho dân, cho nước mà không chút vụ lợi vì bản thân

Ngày đăng: 23/03/2022, 16:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm