1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Vấn đề đọc hiểu và dạy học thơ Nguyễn Khuyến theo chương trình THCS mới13284

14 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 126,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là vấn đề đọc hiểu và dạy học thơ Nguyễn Khuyến theo chương trình THCS mới qua bài thơ :“ Bạn đến chơi nhà” của Ngu

Trang 1

BàI tập tốt nghiệp

đề tài Vấn đề đọc hiểu và dạy học thơ Nguyễn Khuyến

theo chương trình THCS mới

( Qua bài thơ : “ Bạn đến chơi nhà” SGK Ngữ Văn 7 tập I)

Người thực hiện: Phạm Thị Hương Lớp: Ngữ Văn-Nam Trực- Từ xa khoá I Người hướng dẫn: PGS-TS Đỗ Hải Phong Nam Trực: 2008

bộ giáo dục - đào tạo Trường đại học sư phạm hà nội

Khoa ngữ văn

********************

Trang 2

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của PGS-TS Đỗ Hải Phong , nay tôi đã hoàn thành đề tài này xin chân thành cảm ơn PGS-TS Đỗ Hải Phong người đã tận lòng bỏ công giúp đỡ chúng tôi

Trang 3

Môc lôc

Trang 4

Phần mở đầu

1- Lí do chọn đề tài

Cùng với Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Nguyễn ái Quốc, Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng, Nam Cao Thì tên tuổi Nguyễn Khuyễn luôn là niềm tự hào cho nền văn hoá và văn học dân tộc

Bài thơ “ Bạn đến chơi nhà” là một bàI thơ rất hay của Nguyễn Khuyến, nó đã thể hiện tình bạn đậm đà, thắm thiết qua giọng thơ hóm hỉnh của tác giả

Chính vì nó quan trọng như vậy mà nó đã được đưa vào chương trình THCS

Chính vì vì vậy mà chúng tôi đi vào tìm hiểu tác phẩm thực trang đọc, hiểu và giảng dạy tác phẩm này trong THCS là chưa tốt’

Ví dụ: ở lớp 7 Trường THCS Trực Đạo, Tỉnh Nam Định, sau khi học xong bài chúng tôi có đưa ra một số câu hỏi để kiểm tra kiến thức của bài thì kết quả thu được là 70% hiểu thấu đáo, 30% hiểu chưa tốt

Vì vậy chúng tôi đi vào nghiên cứu, tìm hiểu tác phẩm “ Bạn đến chơI nhà” còn bởi sự yêu thích cá nhân

2- Lịch sử vấn đề

Mặc dù từ trước tới nay đã có nhiều công trình sáng tác, nghiên cứu về Nguyễn Khuyến, Biện Minh Điền “ Trên con đường tiếp cận hiện tượng Nguyễn Khuyến”,Nguyễn Huệ Chi “ Thi hào nguyễn Khuyến đời và thơ” Sách thiết kế,giáo viên đã đề cập đến những vấn đề này

Các nhà nghiên cứu cũng như các nhà soạn sách đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến đọc hiểu tác phẩm này trong THCS nhưng nó là vấn

đề chưa được giảI quyết thấu đáo chính vì vậy chúng tôi đi vào nghiên cứu vấn đề này mong góp thêm một tiếng nói làm sáng tỏ vấn đề hơn 3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là vấn đề đọc hiểu và dạy học thơ Nguyễn Khuyến theo chương trình THCS mới qua bài thơ :“ Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến SGK Ngữ Văn Lớp 7 tập I

Phạm vi nghiên cứu là toàn bộ những tri thức liên quan đến tác giả Nguyễn Khuyến và đặc biệt là bài thơ “ Bạn đến chơi nhà”

Văn bản bài thơ “ Bạn đến chơi nhà” chúng tôi lấy từ SGK Ngữ Văn 7 Tập I trang 104 NXBGD, H.2004

4- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Nghiên cứu của chúng tôi là làm sáng tỏ vấn đề đọc hiểu và dạy học thơ Nguyễn Khuyến theo chương trình THCS mới ( Qua bàI thơ “ Bạn đến chơi nhà” SGK Ngữ Văn 7 tập I)

Để thực hiện mục đích trên chúng tôi đã đề ra nhiệm vụ cụ thể như sau:

Trang 5

- Xác định cơ sở lí thuyết cho vấn đề.

- Định hướng đọc hiểu văn bản

- Định hướng đọc hiểu bàI thơ “ Bạn đến chơI nhà”

5- Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tiếp cận vấn đề của chúng tôI chủ yếu là tiếp cận hệ thống

và tổng hợp tri thức liên nghành Ngữ Văn

Trong quá trình thực hiện bài tập này chúng tôi sử dụng những phương pháp cụ thể như sau: Phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê phân loại

6- Cấu trúc của bài tập tốt nghiệp

NgoàI phần mở đầu và phần kết luận bài tập này chia làm 3 chương:

- Chương I: Cơ sở lý thuyết

- Chương II: Định hướng đọc hiểu

- Chương III: Định hướng dạy hoc

Trang 6

Chương I Cơ sở lý thuyết

I- Cơ sở lý thuyết thể loại

1-Thể loại tác phảm văn học

Hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học, khi tiếp xúc với bất kỳ tác phẩm văn học nào, người đọc bao giờ cũng phải đặt ra câu hỏi, đây là một bài thơ, một cuốn tiểu thuyết hay một vở kịch.Như vậy ý thức về thể loại của mỗi người luôn gắn liền với từng loại tác phẩm cụ thể Việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy văn học là hoạt động khám phá từng thể loại văn học có như vậy mới mang lại hiệu quả như mong muốn

Thể loại văn học là một hiện tượng loại hình của sáng tác và giao tiếp văn học, hình thành trên cơ sở sự lặp đi lặp lại có quy luật của yếu tố tác phẩm

Sự hình thành và phát triển của thể loại văn học là một quá trình vận

động của lịch sử văn hoá phức tạp ở mỗi dân tộc và thời đại, mỗi thể loại

đều ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật của con người từ thời xa xưa thơ ca và truyện cổ dân gian ra đời phục vụ nhu cầu nhận thức và sinh hoạt văn hoá của con người.Có thể loại văn học không ngừng phát triển, có thể loại suy tàn và mất đi Chẳng hạn một số thể loại văn học cổ ở Việt Nam nay đã bị suy tàn như cáo, phú, hịch sử thi

ở Việt Nam suốt thời kỳ trung đại, nền văn học viết chịu ảnh hưởng trực tiếp của hệ thống văn học cổ Trung Hoa, đồng thời cũng hình thành các thể loại văn học Việt Nam như ngâm khúc, truyện nôm, hát nói

Sang đầu thế kỷ XX trở đi hình thành các thể loại văn học hiện đại đặc biệt là tiểu thuyết

Giai đoạn 1930-1945 là thời kỳ cuộc cách mạng văn học trên đất nước ta.Thơ Đường luật nhường cho thơ mới, tiểu thuyết được cách tân rõ rệt

Sự hình thành của thể loại văn học là do sự phối hợp thống nhất các phương diện nội dung và hình thức của của tác phẩm văn học theo phương thức có tính quy luật nhất định

Sự phân chia thể loại tác phẩm thực chất là phân loại nội dung và hình thức thể Loại (10,89).Thể loại thường được xem là kiểu dạng của văn học chẳng hạn là tự sự gồm các thể: anh hùng ca, truyện ngắn truyện vừa, tiểu thuyết, kịch gồm bi kịch, hài kịch chính kịch, thơ trữ tình gồm các thể: lục bát đường luật thơ tự do

Các thể loại còn được xác định ranh giới bởi hình thức lời văn chẳng hạn thơ khác văn xuôi, thể loại còn được phân biệt nhau bằng thể văn, dung lượng cảm hứng tình điệu, nội dung loại thể

2-Tác phẩm trữ tình

Trang 7

Đặc điểm nội dung của tác phẩm trữ tình thế giới chủ quan của con người, cảm xúc tâm trạng ý nghĩa được trình bày trực tiếp là nội dung chủ yếu

Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động lời nói, quan hệ cụ thể nhưng được thể hiện trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách nghĩ, phạm vi của loại tác phẩm trữ tình, mặc dù nó là tiêu biểu nhất, ngoài thơ trữ tình còn có tuỳ bút, thơ văn xuôi, ca trù từ khúc…

Có thể phân chia thơ trữ tình bằng nhiều cách: Trước đây người ta chia

ra làm bi ca, tụng ca, thơ trào phúng

Hiện nay ( Trữ tình tâm tình, trữ tình phong cảnh, trữ tình thế sự trữ tình công dân )

Đặc điểm của thơ trữ tình:

Ngôn ngữ thơ bão hoà cảm xúc

Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính

Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh

3- Thơ trung đại có đặc điểm

Về nội dung: Có hai nội dung cốt lõi: cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo

Về hình thức: Thơ trung đại tồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến có nền văn hoá riêng, có tư tưởng mĩ học riêng, do đó về hình thức cũng có hệ thống bút pháp riêng Cái riêng đó thể hiện ở ba khía cạnh: Yếu tố Hán, tính quy phạm, và quy mô kết tinh nghệ thuật

4- Thơ trữ tình trung đại có đặc điểm

Nội dung: Thể hiện cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo

Hình thức: Chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Hán và văn học Hán: viết bằng chữ Hán, sáng tác theo thể tài của văn học Hán, thi liệu và văn liệu cũng lấy ở sách vở Trung Hoa

Quan điểm nghệ thuật coi trọng giáo huấn

Thể thơ: Bao gồm các thể thơ chính: thể thơ luật Đường, thể cổ phong, thể

từ, thể lục bát, song thất lục bát, thể hát nói Chưa có tác phẩm đồ sộ, bút pháp thiên về lối chấm phá, điẻm nhấn, gợi hơn tả

2- Cơ sở lý thuyết phương pháp

Từ bốn phương pháp lớn của ngành lý luận dạy học khi vận dụng vào dạy văn người ta tìm ra bốn phương pháp lớn:

+ Phương pháp đọc sáng tạo + Phương pháp gợi tìm + Phươpng pháp nghiên cứu + Phương pháp tái tạo

a- Phương pháp đọc sáng tạo

Đây là phương pháp đặc biệt được sinh ra do chính đặc trưng bộ môn

Nó là hệ thống của những biên pháp khác nhau hỗ trợ nhưng trung tâm vẫn là đọc, nó không chỉ quy về có việc tập đọc hiểu theo nghĩa đơn giản,

Trang 8

mà nó thể hiện ở nhiều biện pháp khác nhau của tác giả và hoạt động khác nhau của học sinh, mục đích phương pháp này là phát triển được sự cảm thụ sâu sắc và thêm được sự cảm thụ trực tiếp của trò với tác phẩm văn học nghệ thuật

Phương pháp đọc sáng tạo tác động đến người đọc, người nghe cả âm thanh và tư tưởng một lúc Phương pháp đọc sáng tạo được sử dụng hầu như thường trực trong tiết học, lúc bắt đầu xem xét sau khi phân tích các tác phẩm văn chương

Trung tâm của phương pháp độc sáng tạo là phương pháp đọc diễn cảm.Đỉnh cao của đọc diễn cảm là đọc nghệ thuật của giáo viên, đọc biểu diễn của nghệ sỹ

1- Giản dị và tự nhiên 2- Thu nhập vào nội dung tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm ở mức dễ hiểu với học sinh các lứa tuổi

3- Truyền đạt rõ ràng tư tưởng tác giả

4- Thể hiện trình độ của mình với tác phẩm được đọc 5- Thái độ tiếp xúc nhiệt tình với người nghe

6- Phát âm rõ ràng và chính xác 7- Truyền đạt được đặc điểm loại thể và phong cáh tác phẩm

8- Kỹ năng sử dụng đúng giọng của mình b- Phương pháp gợi tìm

Phương pháp này được khởi nguyên từ phương pháp “ Nêu vấn đề” trong lí luận dạy học đại cương

Phương pháp gợi tìm chủ yếu người học đi tìm hiểu để tự chiếm lĩnh lấy tri thứccủa mình, ở đây vai trò chủ thể của học sinh được phát huy Xây dựng một hệ thống câu hỏi logic,dẫn học sinh một cáh liên tục

từ quan sát đến phân tích hiện tượng, từ những kết luận bộ phận đến khái quát

Xây dựng một hệ thống bài tập về văn bản tác phẩm nghệ nghệ thuật hoặc bài tập phê bình, tư liệu tham khảo cho công việc của người học ở dạng lớp, xã hội cá nhân

Đặt vấn đề do thầy giáo hoặc học sinh theo đề xuất của thầy giáo và tiến hành tổ chức tranh luận

c- Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là phương pháp giúp học sinh tìm ra đối tượng khảo sát ít nhiều mới mẻ mà trước đó chưa biết Nó phát triển kỹ năng tự phân tích tác phẩm, tự đánh giá thành tựu về nội dung và nghệ thuật ở người học sinh

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng ở các giờ học thông thường

đặc biệt trong các buổi xêmina, hoặc những hội nghị văn học tổng kết các bài làm của học sinh

Trang 9

Các biện pháp cụ thể là: Thầy nêu vấn đề cho cả lớp, tong nhóm tong cá nhân, nhận vấn đề mình thích để giảI quyết Có giáo viên đưa vấn

đề ra rồi học sinh là người phản biện

d- Phương pháp tái tạo

Thực chất đây là phương pháp nhớ một cáh sáng tạo, phương pháp này hướng học sinh vào những tri thức có sẵn trong ngôn ngữ hoặc bài giảng của giáo viên, sách giáo khoa đã lựa chọn Học sinh không hoàn toàn ghi nhớ máy móc mà chiếm lĩnh tri thức một cách có ý thức

Trong phương pháp này giáo viên cũng nêu vấn đề theo nhiều phương hướng rồi trò tự giải quyết

Biện pháp có thể là giáo viên kể về cuộc đời và tác phẩm của nhà văn, đọc bài giảng về con đường sáng tạo và tác phẩm của nhà văn hoặc bài giảng tổng quan có dàn ý tóm tắt trên bảng vào vở học sinh Đây là phương pháp thích hợp nhất ở những lớp lớn và dễ phát hiện những học sinh năng khiếu

(2, 2431)

Trang 10

Chương Ii

định hướng đọc hiểu

I- Thân thế sự nghiệp

Nguyễn Khuyến tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1835 tại quê ngoại làng Văn Khê- xã Hoàng Xá nay thuộc xã Yên Trung, Huyện ý Yên, Tỉnh Nam Định, năm 8 tuổi Nguyễn Khuyến mới theo gia đình về quê ở Hà Nam và sống ở đó, Nguyễn Khuyến xuất thân từ một gia đình nhà nho truyền thống khoa bảng, tổ tiên nhiều người đỗ đạt cao làm quan to nhưng đền đời ông thân sinh chỉ đỗ ba khoa tú tài, đi dạy học kiếm sống, gia đình nghèo túng Nguyễn Khuyến rất hiếu học, 17 tuổi đã đi thi hương, nhưng không đỗ Sau đó cha mất, Nguyễn Khuyến phải thay cha dạy học nuôi gia đình Năm 1864 Nguyễn Khuyến đỗ giải nguyên tại trường thi hương tại Hà Nội, nhưng năm sau thi hội bị trượt, ông ở lại Huế theo học Quốc Tử Giám, đến khoa thi Tân Mùi 1871 Nguyễn Khuyến đỗ đầu cả là thi hội và thi đình được vua ban cờ biển kèm theo hai chữ “Tam Nguyên” Từ đó

ông được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến được bổ dụng chức toản tu ở Quốc sử quán trong triều, rồi đốc học tại Thanh Hoá, án sát Thanh Hoá Năm 1878 Nguyễn Khuyến cùng các quan đầu tỉnh bị triều

đình khiển trách và giáng chức vì tội ‘đảo vũ” kịp thời và không dẹp nổi loạn lạc, điều về Huế, sung chức trực học sĩ, toản tu quốc sử quán Tháng

7 năm 1883, Nguyễn Khuyến được cử làm phó sứ, cùng chánh sứ Lã Xuân Oai đi sứ sang triều đình Mãn Thanh nhưng chưa qua biên giới thì

có lệnh đình lại vì giặc Pháp chiếm giữ cửa Thuận An và triều đình Huế

đã ký hoà ước nhận quyền bảo hộ của pháp, ông về quê nhà lấy cớ nghỉ dưỡng bệnh Tháng 12 năm đó Pháp chiếm Tây Sơn, tổng đốc Tây Sơn là Nguyễn Đinh Nhuận theo Nguyễn Quang Bích lên Hưng Hoá không chiến Nguyễn Hữu Độ tên tay sai đắc lực của thực dân, nhân danh triều

đình đề cử Nguyễn Khuyến làm quyền Tổng Đốc Tây Sơn, nhưng ông không chịu đến nhận chức Tháng 6 năm 1884, Nguyễn Khuyến vào Huế kiên quyết cáo quan về hưu và mùa thu năm đó ông trở lại quê nhà, sống cuộc đời ẩn dật, sau khi chiếm được toàn bộ đất nước ta, giặc Pháp cho tay chân đến mời Nguyễn Khuyến ra làm quan lại nhưng ông dứt khoát chối từ Khoảng 1891-1892 Hoàng Cao Khải-Kinh lược sử Bắc Kì mời Nguyễn Khuyến đến dạy học con hắn tại tư dinh Hà Nội, cực chẳng đã, Nguyễn Khuyến phải nhận lời, nhưng ít lâu sau lại cáo bệnh, cho con là Nguyễn Hoan thay Năm 1905, tổng đốc Hưng Yên là Lê Hoan tổ chức cuộc thi thơ vịnh Kiều có mời Nguyễn Khuyến tham gia ban giám khảo duyệt cho thêm thanh thế Không thể từ chối, nhưng Nguyễn Khuyến cũng không nén nổi nỗi bất lực bị quấy rầy, đã mượn trích 1 bài thơ vịnh Kiều để mắng vào mặt chúng “ Thằng bán tơ kia giở giói ra, làm cho bận

đến cụ viên già”

Trang 11

Ngày 5 tháng 2 năm 1909 Nguyễn Khuyến mất tại quê nhà hưởng thọ

75 tuổi

Nguyễn Khuyến sáng tác nhiều và liên tục suốt cuộc đời ngay từ lúc còn nhỏ từ lúc còn nhỏ là một anh khoá nghèo cho đến khi mất nhưng được chú ý nhiều hơn cả vẫn là những tác phẩm làm sau khi đã trở lại quê nhà

đương thời ông đã nổi tiếng là một thi nhân tài hoa con số tác phẩm của Nguyễn Khuyến sưu tầm được hiện nay đã lên đến 800, nhưng mới giới thiệu được 432, bao gồm 86 bài thơ chữ Nôm, 267 bài thơ chữ Hán, 6 bài thơ dịch, 67 câu đối, 6 bài văn xuôi, đặc biệt trong những tác phẩm của Nguyễn Khuyến để lại, nhiều bài thơ có cả hai bản Hán và Nôm, nội dung hoàn toàn thống nhất Thơ văn Nguyễn Khuyến rất đa dạng về thể loại rất phong phú về đề tài và phương pháp biểu hiện cảm xúc, ở mặt nào Nguyễn Khuyến cũng thể hiện tài năng ở mặt và tạo được những nét riêng của mình

II- phong cách sáng tác

Nhìn chung thơ văn Nguyễn Khuyến Rất đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, chúng ta có thể tìm thấy ở đấy tâm hồn con người Việt Nam đa cảm, sâu sắc mà chân thành, những bức tranh phong cảnh làng quê mộc mạc, giản dị đầy thi vị, những nét đẹp văn hoá, dân gian thuần hậu, chất phác đó là những giá trị to lớn góp phần cơ bản tạo nên shấp dẫn của thơ văn ông

Thơ Nguyễn Khuyến đã thể hiện 1 tâm sự yêu nước đầy tính chất bi kịch

Cái tiếng than đau xót ám ảnh Nguyễn Khuyến đến tận cuối đời đã nói lên nỗi đau day dứt khôn nguôI của một nhà nho phần nào bối rối bởi lẽ xuất xứ trước thời thế và vận nước

Suốt cuộc đời ông dùi mài kinh sử phò vua giúp nước

Nguyễn Khuyến cũng phảI đấu tranh với chính mình để vượt qua được thử thách của cuộc sống đói nghèo, thất thế Nguyễn Khuyến tong có lúc “Ôm mặt khóc” để rồi ngửa tay nhận miếng thịt của người bạn cho

Mặc dù các quan về ở ẩn nhưng tâm hồn đa cảm của ông lại không cho phép ông sao lãng cuộc đời

Thơ Nguyễn Khuyễn thể hiện một hồn thơ dân dã đậm đã tình quê hương Không chỉ có tâm hồn người nghệ sĩ yêu cáI đẹp của thiên nhiên, Nguyễn Khuyến còn có mối đồng cảm sâu sắc với con người và cuộc sống nơI thôn dã

Cụ Tam Nguyên cư sống giữa dân làng như vậy, cùng đồng cảm, cộng khổ hiểu từng chân tơ kẽ tóc cuộc sống của một vùng quê nghèo giữa thời loạn này cho nên trong những trang thơ Nguyễn Khuyến không chỉ hiện lên một nông thôn yên ả, bình lặng, tươi mát, đẹp đến xôn xang lòng người, một nông thôn đậm đà sắc thái văn hoá dân gian qua những phong tục tập quán, hội hè tết nhất, khoa vọng mà còn có cả một nông thôn tiêu

Ngày đăng: 23/03/2022, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm