1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MÔN PHÁP LUẬT THƯƠNG mại HÀNG hóa và DỊCH vụ BUỔI THẢO LUẬN lần 1 có ý kiến cho rằng, trên cơ sở nguyên tắc tự do thỏa thuận, hai bên đều là thương nhân việt nam trong một hợp đồng mua bán hàng hóa

13 305 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 347,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty A thương nhân Việt Nam, có trụ sở tại TPHCM ký hợp đồng mua hàng của một thương nhân Pháp thương nhân ở nước xuất khẩu để bán cho một thương nhân Anh thương nhân ở nước nhập khẩu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN TRỊ LỚP: 119 – QUẢN TRỊ - LUẬT 45 B1

MÔN: PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ

BUỔI THẢO LUẬN LẦN 1

NHÓM 3

Trang 2

MỤC LỤC

Câu hỏi lý thuyết: 2 Bài tập 1 2

1 Công ty A (thương nhân Việt Nam, có trụ sở tại TPHCM) ký hợp đồng mua hàng của một thương nhân Pháp (thương nhân ở nước xuất khẩu) để bán cho một thương nhân Anh (thương nhân ở nước nhập khẩu) mà không làm thủ tục xuất khẩu và nhập khẩu tại Việt Nam và các bên thỏa thuận chọn luật áp dụng là pháp luật thương mại của Pháp 3

2 Công ty B (doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc và là DN chế xuất trong khu chế xuất Tân Thuận –TPHCM) ký hợp đồng mua bán hàng hoá với công ty C (trụ sở Quận 3, Tp.HCM), theo đó hàng hoá được bên bán đưa ra khỏi khu chế xuất để giao cho bên mua

và các bên đã thoả thuận chọn luật áp dụng là pháp luật thương mại của Hàn Quốc 3

3 Công ty D (doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích) ký hợp đồng cung cấp dịch vụ chăm sóc cây xanh cho công ty TNHHMTV Thảo Cầm Viên Sài Gòn 4 Bài tập 2 4

Trang 3

Câu hỏi lý thuyết:

5 Có ý kiến cho rằng, trên cơ sở nguyên tắc tự do thỏa thuận, hai bên đều là thương nhân Việt Nam trong một hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện tại Việt Nam có quyền thỏa thuận trong hợp đồng rằng, hợp đồng này chỉ chịu sự điều chỉnh của

Bộ luật Dân sự 2015 Căn cứ quy định pháp luật liên quan, hãy nhận xét về ý kiến trên.

Trả lời: Ý kiến trên là sai

- Đầu tiên, trong câu hỏi lý thuyết có đề cập khi hai bên đều là thương nhân Việt Nam và hợp đồng mua bán hàng hóa này được xác lập và thực hiện tại Việt Nam thì có thể khẳng định rằng hoạt động mua bán này sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam

cụ thể là LTM 2005 bởi nó thỏa các điều kiện luật định tại khoản 1 Điều 1 LTM 2005 là

“hoạt động thương mại” và “trên lãnh thổ nước CHXHCNVN”

- Thứ hai, áp dụng khoản 2 Điều 4 LTM 2005: “Hoạt động thương mại đặc thù được quy

định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó” - khi các hoạt động thương mại

Trang 4

hay cụ thể ở đây là hợp mua bán hàng hóa này có chịu sự điều chỉnh tại một luật đặc thù khác Bởi LTM chỉ là một bộ phận của PLTM và nó đóng vai trò trọng tâm, vì thế LTM

nó chỉ quy định những gì chung nhất của hoạt động thương mại và từ đó những hoạt động thương mại có đặc thù, có tính chuyên ngành thì sẽ được quy định ở những văn bản quy phạm pháp luật riêng Như vậy, quy tắc áp dụng luật thương mại mang tính chất dẫn chiếu: nếu đã được quy định trong luật chuyên ngành rồi thì sẽ áp dụng luật chuyên ngành đó chứ không phải áp dụng LTM 2005 nữa

- Cuối cùng, nếu những vấn đề pháp lý của hoạt động thương mại không được quy định trong LTM và luật chuyên ngành thì sẽ áp dụng BLDS được quy định tại khoản 3 Điều

4 LTM 2005 và ngược lại, nếu những vấn đề này đã được quy định trong LTM hay luật chuyên ngành thì không được áp dụng BLDS

Như vậy, trong bài tập, mặc cho hai bên thương nhân Việt Nam có thỏa thuận trong hợp đồng như thế nào đi nữa thì cũng không thể lựa chọn ngay BLDS để điều chỉnh mà phải theo trình tự

đã được đề cập phía trên

Trang 5

Bài tập 1

Hãy xác định pháp luật nào được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng sau? Giải thích?

1 Công ty A (thương nhân Việt Nam, có trụ sở tại TPHCM) ký hợp đồng mua hàng của một thương nhân Pháp (thương nhân ở nước xuất khẩu) để bán cho một thương nhân Anh (thương nhân ở nước nhập khẩu) mà không làm thủ tục xuất khẩu và nhập khẩu tại Việt Nam và các bên thỏa thuận chọn luật áp dụng là pháp luật thương mại của Pháp.

Trả lời:

- Quan hệ hợp đồng giữa Công ty A (thương nhân Việt Nam, có trụ sở tại TPHCM) và thương nhân Pháp là hợp đồng mua bán hàng hóa → Đây là hoạt động thương mại theo khoản 1 Điều 3 LTM 2005

- Chủ thể của hợp đồng này là thương nhân với thương nhân nên Luật Thương mại sẽ điều chỉnh quan hệ hợp đồng này

- Trong trường hợp trên, việc giao kết hợp đồng giữa công ty A và thương nhân Pháp sẽ được điều chỉnh theo Luật Thương mại Pháp Bởi theo khoản 2 Điều 5 LTM 2005 có

quy định: “Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận

Trang 6

áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” Theo đó:

 Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty A và thương nhân Pháp là một giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều

663 BLDS 2015 quy định giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài là giao dịch thương mại có ít nhất một trong các bên tham gia là thương nhân nước ngoài

 Tình huống trên thỏa các điều kiện là một giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài và pháp luật Việt nam cho các bên được tự do thỏa thuận chọn luật để áp dụng nhưng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

→ Vì vậy, hai bên đã thỏa thuận áp dụng luật thương mại Pháp thì hợp đồng này sẽ áp dụng theo luật thương mại Pháp

Trang 7

2 Công ty B (doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc và là DN chế xuất trong khu chế xuất Tân Thuận –TPHCM) ký hợp đồng mua bán hàng hoá với công ty C (trụ sở Quận 3, Tp.HCM), theo đó hàng hoá được bên bán đưa ra khỏi khu chế xuất để giao cho bên mua

và các bên đã thoả thuận chọn luật áp dụng là pháp luật thương mại của Hàn Quốc.

Hợp đồng buôn bán hàng hóa quốc tế = hoặc không bằng hợp đồng buôn bán có yếu tố nước ngoài

Trả lời:

- Quan hệ hợp đồng giữa Công ty B (doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc và là DN chế xuất trong khu chế xuất Tân Thuận TPHCM) và công ty C (trụ sở Quận 3, Tp.HCM) là hợp đồng mua bán hàng hóa → Đây là hoạt động thương mại theo khoản

1 Điều 3 LTM 2005

- Chủ thể của hợp đồng này là thương nhân với thương nhân nên Luật Thương mại sẽ điều chỉnh quan hệ hợp đồng này

- Việc các bên đã thoả thuận chọn luật áp dụng là pháp luật thương mại của Hàn Quốc là không phù hợp với quy định Bởi:

Trang 8

 Công ty B (doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc và là DN chế xuất trong khu chế xuất Tân Thuận –TPHCM) là thương nhân Việt Nam căn cứ theo khoản

4 Điều 16 LTM 2005 → Bên bán và bên mua đều là thương nhân Việt Nam nên đây không phải là giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài nên sẽ không thể dẫn chiếu đến khoản 2 Điều 5 LTM 2005(phải có yếu tố nước ngoại) để thỏa thuận chọn Luật Việt Nam hay quốc tế để áp dụng

 Đây là hoạt động thương mại thực hiện hoàn toàn trên lãnh thổ nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam nên Luật Thương mại 2005 của Việt Nam sẽ điều chỉnh cho dù các bên muốn hay không muốn Cơ sở pháp lý: khoản 1, Điều 1 LTM 2005

→ Trong trường hợp trên, Luật Thương mại của Việt Nam sẽ điều chỉnh quan hệ hợp đồng này

3 Công ty D (doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích) ký hợp đồng cung cấp dịch vụ

Trang 9

- Quan hệ hợp đồng giữa Công ty D (doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích) và công

ty TNHHMTV Thảo Cầm Viên Sài Gòn là hợp đồng cung ứng dịch vụ → Đây là hoạt động thương mại theo khoản 1 Điều 3 LTM 2005

- Chủ thể của hợp đồng này là người mua dịch vụ với thương nhân cung ứng dịch vụ

- Vì đây là hoạt động công ích (không nhằm mục đích sinh lợi) nên bên không vì mục đích sinh lợi (Công ty D) có quyền được chọn luật để áp dụng theo khoản 3 Điều 1 LTM 2005 Theo đó:

 Sẽ áp dụng Luật Thương mại nếu bên không vì mục đích sinh lợi chọn áp dụng luật này

 Nếu bên không vì mục đích sinh lợi không lựa chọn áp dụng LTM 2005 Căn cứ theo khoản 2 Điều 4 LTM 2005 thì quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích sẽ áp dụng theo LDN 2020 cụ thể là Điều 9 LDN 2020 → Luật Doanh nghiệp sẽ điều chỉnh quan hệ hợp đồng trên

Trang 10

Bài tập 2

Sự việc:

Trong hợp đồng mua bán hàng hóa ký ngày 30/6/2018 giữa Công ty A (bên bán) và Công

ty B (bên mua), cả hai đều có trụ sở tại TP Hồ Chí Minh, các bên thỏa thuận Công ty A giao 10 tấn thép cuộn tấm cán nóng dày 2mm xuất xứ Hàn Quốc cho Công ty B vào ngày 15/7/2018 với giá 12,5 triệu đồng/tấn, thanh toán trong vòng 5 ngày kể từ ngày giao hàng

Hàng được giao đúng thỏa thuận vào ngày 15/7/2018 Đến ngày 16/7/2018, qua điện thoại, Công ty B đề nghị Công ty A giao thêm 5 tấn thép cùng loại, chậm nhất đến ngày 20/7/2018 và công ty B sẽ thanh toán ngay cho cả hai lần giao hàng Nhưng trong cuộc điện thoại đó hai bên không đề cập đến giá cả

Ngay sau khi giao thêm 5 tấn thép cùng loại vào ngày 20/7/2018, Công ty A yêu cầu công

ty B thanh toán giá 5 tấn thép giao đợt sau với giá 13,0 triệu đồng/tấn với lý do giá thép

Trang 11

05 tấn x 13.000.000 đồng = 65.000.000 đồng

= Tổng cộng: 190.000.000 đồng Công ty B chỉ chấp nhận trả tiền cho 5 tấn thép giao ngày 20/7/2018 bằng với giá thép giao ngày 15/7/2018 là 12,5 triệu đồng/tấn, do Công ty B chỉ đặt thêm số lượng, còn giá cả thì phải như đã thỏa thuận đối với 10 tấn thép cuộn tấm cán nóng dày 2mm xuất xứ Hàn Quốc giao trước đó Do vậy, công ty B chỉ phải thanh toán tổng cộng số tiền là 187.500.000 đồng, còn công ty A phải tự chịu rủi ro do biến động giá cả thị trường, mặt khác công ty A cũng có thể hưởng lợi nếu giá thị trường ngày 20/7/2018 sụt giảm Trái lại công ty A cho rằng trường hợp hai bên không thỏa thuận giá cả thì phải áp dụng giá thị trường.

Câu hỏi:

Anh (chị) hãy nêu ý kiến và lập luận ý kiến giải quyết bất đồng nêu trên giữa công ty A

và công ty B.

Trả lời:

Căn cứ theo khoản 3 Điều 400 BLDS 2015 về thời điểm giao kết hợp đồng thì "Thời điểm giao

kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng"

Trang 12

Thỏa thuận của công ty A và công ty B được xác định là đã giao kết hợp đồng tại thời điểm cả hai công ty đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng, tức là vào ngày 16/7/2018, qua điện thoại, Công ty B đề nghị Công ty A giao thêm 5 tấn thép cùng loại, chậm nhất đến ngày 20/7/2018 và công ty B sẽ thanh toán ngay cho cả hai lần giao hàng, tại thời điểm này giá 1 tấn thép là 12,5 triệu đồng) Trong cuộc điện thoại của công ty A và công ty B vào ngày 16/7/2018 không có

đề cập về giá cả

Theo Điều 52 LTM 2005 quy định: "Trường hợp không có thoả thuận về giá hàng hoá, không

có thoả thuận về phương pháp xác định giá và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá thì giá của hàng hoá được xác định theo giá của loại hàng hoá đó trong các điều kiện tương

tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hoá, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá" Do đó, xác định được rằng thời điểm

mua bán hàng hóa (thời điểm giao kết hợp đồng) là ngày 16/7/2018, nghĩa là nếu bên A và bên

Trang 13

Trong trường hợp này bên A và bên B không thỏa thuận về giá cả với nhau tại thời điểm mua bán hàng hóa, vì vậy giá của 5 tấn thép mua thêm sẽ được tính là 12,5 triệu đồng/tấn thép Vậy tổng chi phí mà bên công ty B phải thanh toán cho công ty A là 187,5 triệu đồng cho cả hai lần giao dịch (Cụ thể, lần giao dịch đầu tiên là 10 tấn x 12,5 triệu =125 triệu, lần giao dịch thứ hai

là 5 tấn x 12,5 triệu = 62,5 triệu)

Ngày đăng: 23/03/2022, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w