1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật phát triển sản xuất ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái. tt

27 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH LUẬN ÁN 1.1. Điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái. 1.2. Nghiên cứu xác định giống ngô phù hợp cho canh tác vụ Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại Yên Bái. 1.3. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái. 1.4. Xây dựng mô hình sản xuất ngô Xuân lấy hạt trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái. 2. NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN 1. Diện tích đất ruộng bậc thang 1 vụ của toàn tỉnh Yên Bái hiện còn khoảng trên 2.500 ha. Các nguyên nhân chính dẫn đến bỏ hóa đất ruộng bậc thang ở vụ xuân và vụ đông: (1) Thiếu nước tưới do hệ thống kênh mương trên ruộng bậc thang không đầy đủ; (2) nhiệt độ thấp ở đầu vụ xuân, không đảm bảo cho các cây lương thực sinh trưởng phát triển nếu không can thiệp về mặt kỹ thuật; (3) tập quán thả rông trâu bò của người dân trong vùng; (4) tập quán canh tác truyền thống khó thay đổi của người dân; (5) thiếu vốn và kỹ thuật canh tác ở vụ xuân. 2. Đã xác định được 2 giống ngô là NK6101 và LVN17 phù hợp cho canh tác vụ Xuân trên đất ruộng bậc thang tỉnh Yên Bái và cho năng suất thực thu đạt cao nhất (60,51 - 71,19 tạ/ha) tại cả ba điểm nghiên cứu tỉnh Yên Bái. 3. Đã xác định được các biện pháp kỹ thuật để canh tác ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái gồm: - Xác định được thời vụ gieo từ 10/2 đến 20/2 là khung thời vụ phù hợp ngô LVN17 sinh trưởng và phát triển trong điều kiện vụ xuân trên đất ruộng bậc thang tỉnh Yên Bái. Ngô sinh trưởng thuận lợi, tỷ lệ sâu bệnh hại thấp (< 10%) và cho năng suất thực thu cao (67,5 - 68,3 tạ/ha). - Phương pháp làm đất tối thiểu, kết hợp thời vụ gieo ngày 10/2 đến 20/2 thích hợp để giống ngô LVN17 sinh trưởng phát triển thuận lợi, năng suất thực thu đạt cao nhất (60,7 - 71,5 tạ/ha).

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

… *****……

NGUYỄN VĂN CHINH

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP KỸ THUẬT PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NGÔ XUÂN TRÊN ĐẤT RUỘNG BẬC THANG MỘT VỤ

TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 9 62 01 10

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Hà Nội - 2022

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Lê Quốc Thanh

Người hướng dẫn khoa học 2: TS Lưu Ngọc Quyến

Phản biện độc lập 1:

Phản biện độc lập 2:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án họp tại: Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Vào lúc giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu Luận án tại thư viện:

1 Thư viện Quốc gia Việt Nam

2 Thư viện Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

3 Thư viện Viện KHKT Nông lâm nghiệp MNPB

Trang 3

cư và truyền thống dân tộc của người dân vùng cao của tỉnh

Diện tích hiện trạng đất ruộng bậc thang tỉnh Yên Bái là 5.787,78 ha, chiếm 5,36% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh và tập trung chủ yếu ở các huyện Văn Chấn, Văn Yên, Mù Cang Chải và Trạm Tấu Đất ruộng bậc thang tại đây có độ phì ở mức trung bình đến thấp, cơ cấu cây trồng chủ yếu là một vụ lúa mùa Tuy nhiên, năng suất lúa mùa thấp, hiệu quả sản xuất không cao và đặc biệt thời gian bỏ hóa dài (7 tháng)

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thêm vụ gieo trồng trên đất ruộng bậc thang 1 vụ thì chỉ có thể tăng

vụ ở thời điểm đất bỏ hóa là ở vụ Đông hoặc vụ Xuân Vụ Xuân, từ tháng 2 đến tháng 5 nhiệt độ trung bình 20

- 250C, nhiệt độ trung bình tối thấp là 15,7 - 210C, lượng mưa trung bình thấp 450 - 550 mm, khung thời vụ là

125 ngày, hoàn toàn có thể gieo trồng được thêm một vụ cây trồng ở vụ Xuân nữa với các loại cây trồng như ngô, đậu đỗ,…

Để canh tác thêm vụ ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái rất cần thiết phải lựa chọn được giống ngô ngắn ngày phù hợp với khung thời vụ gieo trồng vụ xuân, giống ngô có khả năng chịu hạn chịu lạnh tốt, giống ngô có đặc điểm hình thái phù hợp với tập quán canh tác người dân của vùng,… Bên cạnh đó, việc nghiên cứu kỹ thuật canh tác ngô phù hợp với điều kiện canh tác vụ xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái cũng là công việc rất quan trọng để đảm bảo việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thêm vụ ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái phát triển bền vững

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật

phát triển sản xuất ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái’’

2 Mục tiêu của nghiên cứu

- Đánh giá được thực trạng, bao gồm cả các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong sản xuất ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái

- Xác định được giống ngô có năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái và tập quán canh tác trên đất ruộng bậc thang của tỉnh Yên Bái

- Xác định được kỹ thuật canh tác ngô (thời vụ gieo trồng, phương pháp gieo trồng, phân bón,…) phù hợp với điều kiện vụ xuân trên ruộng bậc thang của vùng

- Xây dựng được mô hình trình diễn ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái

3 Đóng góp mới của luận án

- Luận án đã đánh giá những hạn chế của canh tác ngô vụ Xuân trên đất ruộng bậc thang tỉnh Yên Bái là nhiệt độ thấp, khô hạn, tập quán canh tác của người dân,

- Luận án đã xác định được giống ngô (LVN17, NK6101), biện pháp kỹ thuật canh tác ngô hợp lý (thời

vụ gieo trồng 10/2 - 20/2; phân bón 150 kg N + 120 kg P2O5 + 90 K2O/ha trên nền che phủ 5 tấn vật liệu hữu cơ/ha đối với ngô lấy hạt; mật độ gieo trồng 7,7 vạn cây và bón 180 kg N/ha với ngô sinh khối làm thức ăn chăn nuôi) giúp phát triển sản xuất ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang tại tỉnh Yên Bái

Trang 4

- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Về mặt thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu đã lựa chọn được giống ngô, kỹ thuật canh tác phù hợp, giúp phát triển mở rộng

cơ cấu cây trồng ngô Xuân - lúa Mùa trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái, tăng hiệu quả sử dụng đất, khai thác sử dụng hiệu quả lao động dôi dư nông thôn ở vụ Xuân, thúc đẩy chăn nuôi phát triển, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội cho người dân vùng cao

- Kết quả nghiên cứu về tăng vụ ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ lúa Mùa có thể áp dụng với một số tỉnh khác tại vùng miền núi phía Bắc có điều kiện tương tự

5 Bố cục luận án

Luận án được trình bày trong 142 trang giấy khổ A4 Ngoài phần mở đầu, kết luận và đề nghị, phần nội dung gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan tài liệu; Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Kết quả và thảo luận với 46 bảng và 7 hình Danh mục 113 tài liệu tham khảo (79 tài liệu tiếng Việt,

34 tài liệu tiếng Anh) Phần phụ lục dẫn các số liệu chi tiết của chương 2 và chương 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan ruộng bậc thang

1.1.1 Nghiên cứu về đất ruộng bậc thang trên thế giới

Trên thế giới, loại hình ruộng bậc thang được coi là phổ biến đối với các cư dân sinh sống ở vùng đồi núi đất của rất nhiều nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Nepal, Thái Lan Ruộng bậc thang xuất hiện từ rất lâu, khoảng thế kỷ thứ 14 đến 16 tại Nhật Bản; Tại Trung Quốc ruộng bậc thang xuất hiện cách đây 1.300 năm và trên quần đảo Bali - Indonesia ruộng bậc thang Bali đã có từ hơn 2.000 năm trước;

Ở Philippines ruộng bậc thang là những núi đất được chinh phục với độ cao từ 700m đến 1.500m và có những thửa ruộng bậc thang có hàng nghìn năm tuổi Ở Yuanyang, diện tích ruộng bậc thang có trên 11.000 ha và trên 3.000 bậc Đa số các ruộng bậc thang ở Trung Quốc được người dân sử dụng đá để xếp làm bờ ruộng (Dẫn theo Nguyễn Trường Giang, 2015)

Phương pháp làm ruộng bậc thang giúp độ dốc giảm xuống 2 - 50 thì xói mòn sẽ giảm 1 - 3 lần (Zheng, 2014) Khi nghiên cứu về hệ thống cây trồng trên ruộng bậc thang các nhà khoa học đã khẳng định việc tăng thêm vụ cây trồng cạn, đặc biệt là cây họ đậu vừa cải thiện độ phì đất vừa tăng hiệu quả kinh tế hơn chế độ độc canh cây lúa Trên thực tế, ruộng bậc thang không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp cảnh quan mà còn có nhiều giá trị cần được bảo tồn và phát huy các lợi thế trong tương lai

1.1.2 Nghiên cứu về đất ruộng bậc thang vùng miền núi phía Bắc Việt Nam

Vùng trung du miền núi phía Bắc có diện tích đất ruộng chỉ canh tác 1 vụ trong năm là 187 nghìn ha, chiếm 36% diện tích đất ruộng Trong đó vùng Đông Bắc hiện có khoảng 148,6 nghìn ha và vùng Tây Bắc có khoảng 38,5 nghìn ha Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trường Giang, (2015) ruộng bậc thang của vùng miền núi phía Bắc phân bố chủ yếu ở các tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang và Cao Bằng Xét về tổng thể

Trang 5

3

toàn vùng, đất dốc dưới 15o chiếm 27,78% diện tích tự nhiên, đất dốc 15 - 25o chiếm 17,10% và 55,10% đất dốc trên 25o

Xét về cả 3 tiêu chí kinh tế, xã hội và môi trường thì ruộng bậc thang lúa nước là một kiểu canh tác lâu đời

và khá bền vững, vừa kiểm soát được xói mòn, rửa trôi vừa uy trì được độ phì nhiêu đất do có bờ giữ nước và có thể canh tác được lâu bền; Về giá trị văn hóa, du lịch: Ruộng bậc thang là thành tựu cả về mặt văn hóa lẫn tri thức dân gian, đã phát huy tác dụng, tạo ra sản xuất lúa nước ở vùng cao và là di sản của mỗi dòng họ cần được bảo vệ

và phát triển, để đóng góp vào di sản quốc gia; Về hệ canh tác, ruộng bậc thang tại các tỉnh trung du miền núi phía Bắc hiện nay có hai cơ cấu cây trồng chính là độc canh một vụ lúa mùa (chiếm 92,4% diện tích) và độc canh một vụ màu (chiếm 7,6% diện tích)

Các nghiên cứu của Lê Vằn Tiềm (2005), Lê Quốc Doanh và cộng sự (1994, 2008), Mai Quang Vinh (2002) về đất ruộng bậc thang vùng miền núi phía Bắc đã chỉ ra bốn khó khăn trở ngại chính trong sản xuất lúa trên ruộng bậc thang đó là: (1) Thiếu nước trong vụ xuân; (2) Thoái hóa đất qua nhiều năm canh tác; (3) Cơ cấu giống lúa chưa phù hợp, năng suất thấp; (4) Thiếu kiến thức, kỹ thuật sử dụng đất kém hiệu quả;

1.1.3 Nghiên cứu về đất ruộng bậc thang tại tỉnh Yên Bái

Diện tích đất ruộng bậc thang 1 vụ tại tỉnh Yên Bái năm 2010 là 6.256 ha, đến năm 2018 giảm còn 2.850 ha (giảm 54,44%) do chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thêm diện tích canh tác vụ xuân của tỉnh Diện tích ruộng bậc thang 1 vụ của tỉnh tập trung chủ yếu ở các huyện vùng cao như huyện Văn Yên (8,7%), huyện

Mù Cang Chải (62,8%), huyện Trạm Tấu (8,4%), huyện Văn Chấn (9,9%), huyện Lục Yên (6,8%) và huyện

Yên Bình (3,4%) Tổng hợp số liệu thống kê các huyện tỉnh Yên Bái năm 2019

Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng giá trị sản xuất trên đất ruộng bậc thang 1 vụ của tỉnh Yên Bái như: Tăng thêm đậu tương vụ Xuân, lúa cạn vụ Xuân hay chuyển dịch mùa vụ thành vụ Mùa sớm gieo trồng lúa cạn và thêm vụ đậu đỗ Thu Đông,… đã giúp tăng hiệu quả sản xuất trên đơn vị đất canh tác và giảm sức ép lên canh tác nương rẫy Hiện nay, một số xã tại

4 huyện vùng cao tỉnh Yên Bái đã thử nghiệm gieo trồng vụ ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang 1 vụ Tuy nhiên, do chưa xác định được bộ giống ngô phù hợp, thời vụ canh tác hợp lý, kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc

thích hợp nên hiệu quả sản xuất chưa cao

1.2 Vai trò của cây ngô

Cây ngô là cây trồng đóng vai trò quan trọng đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới và Việt Nam Ngô cùng với lúa mỳ và lúa nước là ba cây lương thực chính của loài người, cây ngô đứng thứ ba về diện tích (sau lúa mì và lúa nước), nhưng có năng suất và sản lượng cao nhất trong các cây ngũ cốc Ngô là cây điển hình được ứng dụng nhiều thành tựu khoa học về các lĩnh vực di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học,

cơ giới hoá, điện khí hoá và tin học… vào công tác nghiên cứu và sản xuất (Ngô Hữu Tình, 1997) Ngô là thành phần quan trọng bậc nhất trong thức ăn chăn nuôi Ngoài ra, ngô được sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm với khoảng 670 loại sản phẩm từ ngô bằng công nghiệp lương thực, thực phẩm, công nghiệp nhẹ và dược phẩm

Ở Việt Nam cây ngô vừa là cây lương thực thực phẩm quan trọng và vừa làm thức ăn chăn nuôi Bên cạnh đó, cây ngô còn được ví là cây năng lượng của thế kỷ 21, với vai trò làm nguyên liệu để sản xuất Ethanol-Xăng sinh học E5 sạch với môi trường

Tại tỉnh Yên Bái, cây ngô là cây lương thực quan trọng nằm trong Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Nếu chuyển đổi thành công cơ cấu cây trồng ngô Xuân - lúa Mùa, cây ngô sẽ giúp Yên Bái giải quyết được các vấn đề về an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, giải quyết bài toán lao động dôi dư và phát triển kinh tế bền vững tại các huyện vùng cao

Trang 6

1.3.2 Ánh sáng

Ngô là loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới thuộc nhóm cây ngày ngắn Nghiên cứu phản ứng của cây ngô đối với độ dài ngày cho thấy cây ngô hình thành các kiểu hình thái khác nhau với độ dài ngày khác nhau Yêu cầu của ngô đối với độ dài ngày được xác định xảy ra vào giai đoạn phân hóa bước 2 đến bước 4 hình thành cơ quan sinh sản Ở cây ngô, các bước phát triển của bông cờ xảy ra sớm hơn sự phát triển của bắp Ngoài ra, các dạng ánh sáng khác nhau và thành phần quang phổ ánh sáng khác nhau không những chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của bông cờ và bắp ngô mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của thân, độ dài đốt cũng như cơ cấu và kích thước của lá

1.3.3 Nước

Nước là yếu tố môi trường quan trọng đối với đời sống của cây ngô, cây ngô thuộc cây C4, nó cần từ

350 - 500 lít nước để sản sinh ra 1 kg hạt (tuỳ theo khí hậu và tình trạng dinh dưỡng đất) (David, 2002) Một cây ngô có thể bốc thoát từ 2 - 4 lít nước/ngày, trong quá trình sinh trưởng và phát triển 1 ha ngô bốc thoát khoảng 1.800 tấn nước tương đương với lượng nước mưa khoảng 175mm Theo Trần Đức Hạnh, hệ số tiêu thụ nước để hình thành một đơn vị chất khô của ngô là 250 - 400 (Trần Đức Hạnh và cs, 1997) Nhu cầu về nước và khả năng chịu hạn của cây ngô qua từng thời kỳ sinh trưởng có khác nhau Ở thời kỳ đầu ngô phát triển chậm, tích lũy ít chất xanh nên không cần nhiều nước Ở thời kỳ 7 - 13 lá cây ngô cần từ 28 - 35 m3

nước/ngày/ha Thời kỳ xoắn nõn, trỗ cờ, phun râu cần 65 - 70m3 nước/ngày/ha

1.4 Những nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật tăng năng suất ngô

1.4.1 Nghiên cứu về bộ giống ngô tại Việt Nam

Giống là khâu then chốt để thúc đẩy sản xuất ngô phát triển, làm tăng năng suất và sản lượng Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sinh học đã góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu và gia tăng những vật liệu

ưu tú để phục vụ chọn tạo giống ngô có năng suất cao, giống có khả năng chịu hạn, chịu mặn, và chống chịu sâu bệnh tốt Từ đó cho thấy sự kết hợp phương pháp truyền thống và công nghệ sinh học (chuyển gen, nuôi cấy bao phấn,…) là cơ sở vững trắc trong nghiên cứu chọn tạo giống ngô mới hiện nay Tuy nhiên, giống chỉ phát huy hết tiềm năng ở môi trường đất đai, khí hậu phù hợp và biện pháp canh tác hợp lý Đồng thời nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác như mật độ gieo trồng, liều lượng phân bón thích hợp,… cho từng giống ngô

Cùng với nhu cầu của ngành chăn nuôi, hàng loạt các nghiên cứu về ngô sinh khối đang được các nhà nghiên cứu triển khai theo hai hướng: Một là chọn giống từ việc lai tạo thành công các giống như VN8960, LVN146, VN5885, LCH9, CS71; CN18-7, VN172, CP511, NK7328, VN172, ĐH17-5…Hai là nhập nội giống

từ các nước và đánh giá vùng sinh thái như các giống NK7328, NK4300, NK6253, C.P.111, P4311, Pioneer Brand P4554…Từ đó đánh giá kiểu hình, năng suất sinh khối, chất lượng chất xanh, các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa để lựa chọn đưa vào sản xuất

Trang 7

5

1.4.2 Nghiên cứu về thời vụ gieo trồng ngô

Ở nước ta có 7 vùng sinh thái nông nghiệp đều có thể gieo trồng ngô đạt năng suất cao Tùy thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu và hệ thống luân canh cây trồng từng địa phương các nhà khoa học nông nghiệp đã chỉ ra thời vụ gieo trồng ngô nói chung tại các vùng sinh thái ở Việt Nam, trong đó thời vụ gieo trồng tại vùng miền núi phía Bắc cụ thể như sau: Vùng Tây Bắc bộ vụ ngô chính: Gieo từ cuối tháng 4 đầu tháng 5, vụ Thu Đông gieo cuối tháng 7 đầu tháng 8 Vùng Đông Bắc Bắc bộ vụ Xuân (đất 1 vụ Xuân) gieo từ 25/1 đến 15/2,

vụ ngô chính gieo từ cuối tháng 4 đầu tháng 5, vụ Thu Đông gieo đầu tháng 8 đến đầu tháng 9

1.4.3 Nghiên cứu về phân bón

1.4.3.1 Nghiên cứu về phân bón đạm

Ở Việt Nam, từ năm 1985 đến nay tình hình sử dụng phân đạm ở nước ta tăng trung bình là 7,2%/năm

Tỷ lệ N : P2O5 : K2O trong 10 năm qua đã cân đối hơn với tỷ lệ tương ứng qua các năm 1990, 1995 và 2000

là 1: 0,12: 0,05; 1: 0,46: 0,12 và 1: 0,44: 0,37 Lượng phân bón/ha cũng đã tăng lên qua các năm 1990, 1995,

2000 với tổng lượng N : P2O5 : K2O tương ứng là 58,7; 117,7 và 170,8 kg/ha, tỷ lệ này còn thấp so với các nước phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Pháp, Nhật với tổng lượng N: P2O5 : K2O khoảng 240- 400 kg/ha (Bùi Huy Hiền (2002) Theo Nguyễn Văn Bộ (2007) lượng phân bón khuyến cáo cho ngô phải tuỳ thuộc vào đất, giống ngô và thời vụ Liều lượng khuyến cáo chung cho ngô là: Đối với giống chín sớm bón từ 120 - 150 kg

N, giống chín trung bình và chín muộn bón từ 150 - 180 kg N

Để tạo được 1 tấn ngô NK7328 sinh khối, cây ngô phải hấp thu từ đất lượng đạm dễ tiêu từ 2,40 - 3,05 kg N; 0,98 - 1,06 kg P2O5 và 1,55 - 1,63 kg K2O (Võ Thị Hoa, 2018 Số liệu này tương tự số liệu của Ngô Ngọc Hưng (2009) công bố rằng nhu cầu đạm để tạo ra một tấn sinh khối khoảng 2,3 - 3,5 kg N và tùy thuộc vào mùa vụ

1.4.3.2 Nghiên cứu về phân bón lân

Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cây ngô cho thấy: Để tạo ra 1 tấn ngô hạt, cây ngô lấy đi từ đất trung bình 8,5 kg, lượng P tiêu tốn để sản xuất ra 1 tấn ngô hạt là 14,5 kg P2O5 tương đương với tỷ lệ nhu cầu N : P :

K là 1 : 0,35 : 0,45 Trong đó giai đoạn 6-7 lá 51,7% N : 8,3% P2O5 : 40,0% K2O, giai đoạn trỗ cờ 47,47% N : 9,8% P2O5 : 42,7% K2O và giai đoạn thu hoạch 52,2% N : 19,1% P2O5 : 28,7% K2O Kết quả nghiên cứu này phù hợp với các nghiên cứu của nước ngoài và thể hiện rõ là hút kali được hoàn thành sớm trước phun râu, còn

các chất dinh dưỡng khác như đạm và lân còn tiếp tục cho đến khi ngô chín

1.4.3.3 Nghiên cứu về phân kali

Đối với cây ngô, kali được coi là nguyên tố quan trọng thứ hai sau đạm, kali giúp thúc đẩy tổng hợp prôtit, hạn chế việc tích lũy nitrat trong lá, hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm cho cây Tăng sử dụng K làm tăng diện tích lá đồng thời làm hạt đầy đặn Tác giả cũng chỉ ra rằng, sử dụng phân kali trong điều kiện thiếu nước giảm năng suất ngô hạt từ 19,96 - 48,37% Nghiên cứu của Babak Peykarestan và cộng sự (2012) cho thấy, liều lượng 120 kg kali sunfat/ha có ảnh hưởng tích cực đến khối lượng 1.000 hạt, năng suất, trọng lượng bắp và liên quan đến chiều dài bắp, đường kính bắp và chiều cao của cây Hiệu suất của 1 kg K2O biến động theo từng loại cây trồng: Lúa nước 6,7 - 18,1 kg; Ngô hạt 3,9 - 107,5 kg; Đậu tương 6,7 - 10,8 kg (Baffour

Badu- Apraku et al., 2012)

1.4.4 Nghiên cứu về che phủ cho cây ngô

Trong sử dụng đất dốc để phát triển bền vững sản xuất nông lâm nghiệp thì che phủ không những có tác dụng hạn chế xói mòn đất, hạn chế cỏ dại, giảm dòng chảy trên mặt đất, giữ chất dinh dưỡng và nước bớt trôi theo chiều sâu và kéo chất dinh dưỡng ở dưới sâu lên tầng đất canh tác Bên cạnh đó, che phủ giúp tăng năng suất cây trồng, đa dạng hoá thu nhập, tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích và giúp phát triển sản xuất nông lâm nghiệp một cách hiệu quả, bền vững cho vùng đất dốc

Trang 8

6

1.4.5 Nghiên cứu về mật độ cho cây ngô

Mật độ là một trong những phần canh tác quan trọng để xác định năng suất hạt (Sangoi, 2000) Nghiên cứu về mật độ trồng ngô trên thế giới không chỉ là việc xác định mật độ gieo trồng, mà còn là xác định khoảng cách giữa các cây trong hàng và giữa các hàng với nhau Việc xác định mật độ gieo trồng cho ngô phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Yếu tố giống, các giống ngô lai chịu được mật độ trồng dầy hơn các giống ngô truyền thống gấp 2-3 lần; Hai là khoảng cách hàng, khi trồng cùng một mật độ thì khoảng cách gieo hàng hẹp cho năng suất cao hơn hàng rộng; Ngoài ra mật độ gieo trồng còn phụ thuộc vào mức độ che phủ, lượng đạm bón, điều kiện

có tưới hay không có tưới…

Kết quả nghiên cứu về mật độ, khoảng cách trồng ngô trên đất đồi núi, đất dốc ở Việt Nam cho thấy: Tùy đặc điểm của giống, lượng phân bón, điều kiện đất đai, thời tiết khí hậu của từng vùng mà mật độ, khoảng cách trồng thích hợp có sự khác nhau rõ rệt Mật độ trồng ngô thích hợp trên đất dốc có xu hướng tăng dần từ

5 - 7 vạn cây/ha và khoảng cách hàng cách hàng dao động từ 50 - 70 cm, cây cách cây từ 20 - 30 cm cho năng suất đạt mức tối ưu

Nghiên cứu về mật độ trồng ngô sinh khối: Trồng ngô sinh khối được khuyến cáo với mật độ dày hơn

so với trồng ngô lấy hạt từ 0,5 - 1,0 vạn cây/ha, nghĩa là cần đạt 6,5 - 8,0 vạn cây/ha trên phần lớn các loại đất Dairy (Australia, 2018) cho rằng mật độ ngô sinh khối trồng trong điều kiện có tưới nên trồng ở mật độ 8,0 - 10,0 vạn cây/ha Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy: Tùy thuộc giống, loại đất trồng mà mật độ trồng ngô sinh khối dao động từ 7,1 - 9,5 vạn cây/ha với khoảng cách 70 cm x 15-20 cm hoặc 60 cm x 20 cm mang lại

hiệu quả kinh tế cao

1.5 Kết luận rút ra từ phần tổng quan

Diện tích ruộng bậc thang một vụ của các tỉnh miền núi phía bắc nói chung và của tỉnh Yên Bái nói riêng chiếm tỷ lệ khá lớn trong diện tích đất canh tác nông nghiệp, thời gian canh tác chỉ 4 - 5 tháng/năm, thời gian bỏ hóa 7 - 8 tháng/năm, ảnh hưởng đến an ninh lương thực của vùng, đặc biệt ở tại vùng sâu, vùng xa vùng khó khăn

Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy, giống ngô là khâu then chốt để thúc đẩy sản xuất ngô phát triển, làm tăng năng suất và sản lượng Hiện nay trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều những nghiên cứu về tuyển chọn giống ngô được thực hiện, tuy nhiên nghiên cứu chọn tạo giống thích ứng với điều kiện đất dốc, đất ruộng

bậc thang, vùng khô hạn chưa nhiều và mới dừng lại ở một số nghiên cứu cơ bản (nghiên cứu chọn tạo) Vì

vậy cần thiết phải có những nghiên cứu để lựa chọn được giống ngô lai triển vọng, có năng suất cao và khả năng thích ứng tốt với tỉnh Yên Bái nói riêng và các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc nói chung

Do điều kiện vụ xuân tại các huyện vùng cao tỉnh Yên Bái nhiệt độ thường thấp và khô hạn Do đó bên cạnh việc lựa chọn giống ngô ngắn ngày, chịu hạn, chịu lạnh tốt thì cần có những nghiên cứu về thời vụ gieo trồng, lượng phân bón, phương pháp gieo trồng,… sẽ giúp cây ngô sinh trưởng phát triển tốt hơn

Xói mòn, rửa trôi đất trong sản xuất nông nghiệp trên đất dốc đang là vấn đề lớn đối với toàn cầu Vì vậy các biện pháp kỹ thuật canh tác như làm đất tối thiểu, mô hình tiểu bậc thang, che phủ đất đã được nghiên cứu ở một số nơi trong và ngoài nước Tuy nhiên, qua điều tra, đánh giá sản xuất ngô trên đất dốc tại tỉnh Yên Bái, người dân vẫn đang thực hiện hoạt động đốt nương làm rẫy, canh tác theo truyền thống dẫn đến quá trình xói mòn, rửa trôi đất vẫn đang diễn ra và chưa có xu hướng giảm Cần thiết phải có những nghiên cứu về kỹ thuật làm đất tối thiểu và che phủ đất, tăng cường độ phì đất, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững Bên cạnh

đó, che phủ giúp tăng năng suất cây trồng, đa dạng hoá thu nhập, tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích và giúp phát triển sản xuất nông lâm nghiệp một cách hiệu quả, bền vững cho vùng đất dốc

Trang 9

- Vật liệu che phủ: Rơm, rạ, tàn dư thực vật khô

- Điều kiện đất đai: các thí nghiệm nghiên cứu được triển khai trên đất ruộng bậc thang loại feranit vàng đỏ

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái

2.2.2 Nghiên cứu xác định giống ngô phù hợp cho canh tác vụ Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại Yên Bái

2.2.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái

2.2.3.1 Mô hình hóa xác định khung thời vụ gieo trồng ngô Xuân hợp lý trên đất ruộng bậc thang một vụ

tỉnh Yên Bái

2.2.3.2 Thí nghiệm xác định thời vụ gieo trồng ngô Xuân hợp lý trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái

2.2.3.3 Thí nghiệm xác định thời vụ gieo trồng kết hợp phương pháp gieo trồng ngô

2.2.3.4 Thí nghiệm xác định lượng phân lân và kỹ thuật che phủ thích hợp

2.2.3.5 Thí nghiệm xác định lượng phân bón đạm và mật độ gieo trồng hợp lý cho canh tác ngô trồng với mật

độ dày làm thức ăn chăn nuôi

2.2.4 Xây dựng mô hình sản xuất ngô Xuân lấy hạt trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các số liệu thống kê của Cục Thống kê tỉnh Yên Bái và các báo cáo sản xuất nông nghiệp của UBND huyện Mù Cang Chải, Văn Yên và Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Số liệu

sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA) với việc sử dụng phiếu điều tra Thời gian điều tra: tháng 02 - 06/2017 và từ tháng 02 - 06/2018 Tiến hành điều tra 90 phiếu/huyện tại 3 huyện huyện

Mù Cang Chải, Văn Yên và Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Thông tin thu thập được từ phiếu điều tra được xử lý thống

kê bằng phương pháp thống kê mô tả trên máy vi tính bằng phần mềm EXCEL

2.3.2 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng

- Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng để thực hiện các nghiên cứu, chúng tôi đã bố trí các thí nghiệm trong thời gian từ tháng 2 năm 2017 đến tháng 6 năm 2019 Các thí nghiệm so sánh giống và thí nghiệm thời

vụ được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (CRBD), các thí nghiệm về biện pháp kỹ thuật được bố trí theo ô lớn - ô nhỏ, các công thức thí nghiệm được nhắc lại 3 lần, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 14 m2; khoảng cách gieo 70 cm x 25 cm x 1 cây/hốc (tương đương với mật độ khoảng 5,7 vạn cây/ha Riêng thí nghiệm mật độ bố trí mật độ, khoảng cách như công thức thí nghiệm

Trang 10

8

- Địa điểm thực hiện thí nghiệm:

+ Các thí nghiệm thực hiện tại 3 điểm, xã Chế Cu Nha - huyện Mù Cang Chải; xã Nậm Lành - huyện Văn Chấn; xã Nà Hẩu - huyện Văn Yên

+ Thí nghiệm xác định lượng đạm và mật độ gieo trồng hợp lý cho canh tác ngô trồng với mật độ dày làm thức ăn chăn nuôi được thực hiện tại xã Nậm Lành huyện Văn Chấn và xã Nà Hẩu huyện Văn Yên

- Kỹ thuật trồng và chăm sóc: Ngoài các thời vụ gieo trồng theo các công thức thí nghiệm, các kỹ

thuật khác áp dụng theo QCVN 01 - 56 : 2011/BNNPTNT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Khảo nghiệm giá trị canh tác và Sử dụng của giống ngô

2.3.3 Nghiên cứu xác định giống ngô phù hợp cho canh tác vụ Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại Yên Bái

- Thí nghiệm gồm 8 giống ngô lai: LVN885, LVN092, LVN17, CP501, NK4300, NK6101, DK9955, B9698 Giống ngô LVN885 đang được trồng phổ biến tại địa phương được sử dụng làm đối chứng Tiến hành trong vụ xuân năm 2017, tại 3 điểm, xã Chế Cu Nha huyện Mù Cang Chải; xã Nậm Lành huyện Văn Chấn; xã

Nà Hẩu huyện Văn Yên Thời vụ gieo ngày 1/2 năm 2017

2.3.4 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái

2.3.4.1 Mô hình hóa xác định khung thời vụ gieo trồng ngô Xuân hợp lý trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái

Công cụ và kịch bản mô phỏng: Xác định vụ gieo trồng ngô đối với 3 huyện (Mù Cang Chải, Văn Chấn và Văn Yên) Các kịch bản gieo trồng ngô được mô phỏng qua việc thiết lập một thí nghiệm ảo với 3 yếu tố:

+ Ngày gieo: Từ ngày thứ 10 (tương đương ngày 10/1) đến ngày thứ 90 trong năm (tương đương 30/3) với 9 ngày gieo: 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70, 80, 90

+ Độ cao với 5 mức: 200, 400, 600, 800, 1000 m Việc mô phỏng ảnh hưởng nhiệt độ theo độ cao được

sử dụng phương trình quy đổi của Baker, cứ lên cao 100m nhiệt độ giảm đi 0,6oC (Baker, 1944)

+ Số liệu thời tiết được sử dụng cho việc mô phỏng gồm: Dữ liệu trạm khí tượng huyện Mù Cang Chải trong 15 năm (từ 2000 đến 2015), trạm Văn Chấn trong 15 năm (từ 2000 đến 2015), tại Văn Yên do không có trạm khí tượng nên sử dụng số liệu của trạm khí tượng thành phố Yên Bái (nơi gần nhất) thay thế, dự liệu 15 năm từ năm 2000 đến 2015 Gồm các số liệu theo từng ngày với các chỉ tiêu: Nhiệt độ (trung bình, tối thiểu, tối đa), lượng mưa, cường độ ánh sáng, ẩm độ (trung bình, tối thiểu, tối đa), độ bốc hơi tiềm năng

- Chỉ tiêu xác định thời gian gieo trồng thuận lợi

Khoảng thời gian gieo trồng tối ưu tại 1 độ cao được xác định nếu thỏa mãn 3 tiêu chí sau:

+ P1: Tránh được chết rét với mức độ thành công trên 80%

+ P2: Cho thu hoạch trước ngày 30/6 với mức độ thành công trên 80%, để đảm bảo giải phóng đất, làm đất và gieo cấy vụ mùa trước 5/7 (ngày muộn nhất cho việc cấy lúa mùa)

+ P3: Cho năng suất > 70% năng suất tối đa với mức độ thành công trên 80% Việc xác định khoảng thời gian này được áp dụng phương pháp "Cửa sổ gieo trồng thuận lợi" như hình 2.1:

Trang 11

9

Hình 2 1 Phương pháp "Cửa sổ gieo trồng thuận lợi" để xác định khoảng thời gian gieo trồng

2.3.4.2 Thí nghiệm xác định thời vụ gieo trồng ngô Xuân hợp lý trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái

- Giống ngô thí nghiệm: LVN17, với 5 công thức thời vụ: TV1: Gieo ngày 20/1, TV2: Gieo ngày 1/2, TV3: Gieo ngày 10/2, TV4: Gieo ngày 20/2, TV5: Gieo ngày 01/3 Sử dụng TV2 gieo ngày 1/2 làm đối chứng Tiến hành thí nghiệm trong 2 vụ Xuân năm 2017 và 2018

2.3.4.3 Thí nghiệm xác định thời vụ gieo trồng kết hợp phương pháp gieo trồng ngô

- Các thời vụ gieo trồng ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ: TV1: Gieo ngày 20 tháng 1; TV2: Gieo ngày 1 tháng 2; TV3: Gieo ngày 10 tháng 2 ; TV4: Gieo ngày 20 tháng 2; TV5: Gieo ngày 01 tháng 3

- Phương pháp gieo trồng ngô: B1 = Làm đất tối thiểu; B2 = bầu ngô giá thể đất

- Giống ngô thí nghiệm: LVN17

- Thời gian tiến hành thí nghiệm: vụ Xuân 2018

Biện pháp chăm sóc bổ sung: Tưới nước sau khi đặt bầu ngô

2.3.3.4 Thí nghiệm xác định lượng phân lân và kỹ thuật che phủ thích hợp

- Các mức vật liệu che phủ (CP): CP1= 3 tấn vật liệu phủ hữu cơ; CP2 = 5 tấn vật liệu phủ hữu cơ; CP3 = 7 tấn vật liệu phủ hữu cơ; CP4 = Nilong che phủ

- Các mức bón phân lân: L1 = 80 P2O5; L2 = 100 P2O5; L3 = 120 P2O5; L4 = 140 P2O5

- Giống ngô thí nghiệm: LVN17

- Nền phân bón: 150 N + 90K2O

- Thời gian tiến hành thí nghiệm: Vụ xuân năm 2017 và vụ xuân 2018

- Ngày gieo: 01/02 năm 2017 và 2018

2.3.3.5 Thí nghiệm xác định lượng phân bón đạm và mật độ gieo trồng hợp lý cho canh tác ngô trồng với mật độ dày làm thức ăn chăn nuôi

- Các mức phân bón đạm (N): N1 = 160 N + 120 P2O5 + 90 K2O; N2 = 180 N + 120 P2O5 + 90 K2O; N3 = 200 N + 120 P2O5 + 90 K2O

- Các mật độ gieo trồng (M = hxh, cxc): M1 = 65 x 25 cm (61.000 cây/ha); M2 = 65 x 20 cm (77.000 cây/ha); M3 = 65 x 15 cm (100.000 cây/ha)

Trang 12

10

- Giống ngô thí nghiệm: LVN17

- Thời gian tiến hành thí nghiệm: Vụ Xuân năm 2019

- Ngày gieo: 10/2/2019

2.3.4 Xây dựng mô hình sản xuất ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái

Ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào xây dựng mô hình sản xuất được thực hiện tại 3 huyện tỉnh Yên Bái, các mô hình ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang được triển khai ở cấp hộ Các hộ nông dân tham gia được tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật dựa trên các kết quả nghiên cứu (Farmer Field School - FFS)

- Mô hình áp dụng: Giống ngô LVN17 + Kỹ thuật canh tác được chọn từ kết quả thí nghiệm về mật độ gieo trồng, phân bón, che phủ và thời vụ gieo trồng năm 2017, 2018 (Thời vụ gieo ngày 10/2 + phương pháp làm đất tối thiểu + che phủ 5 tấn hữu cơ + 150 kg N + 120 kg P2O5 + 90 K2O/ha)

- Đối chứng: Giống ngô LVN885 + Kỹ thuật canh tác của người dân

+ Các chỉ tiêu theo dõi: Năng suất hạt (tạ/ha) của cây ngô trong và ngoài mô hình được tính trung bình trên cơ sở năng suất thống kê các hộ tham gia thực hiện và không tham gia thực hiện mô hình

+ Thời gian thực hiện: Vụ Xuân năm 2019

2.4 Phương pháp xử lý số liệu

- Xác định phương trình và vẽ đồ thị tương quan bằng chương trình EXCEL

- Số liệu của tất cả các thí nghiệm đều được thu thập và xử lý thống kê theo hướng dẫn của Gomez and Gomez (1983) trên cở sở sử dụng phần mềm IRRISTAT 5.0

2.5 Địa bàn nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu chính của đề tài là 3 huyện vùng cao của Yên Bái (huyện Mù Cang Chải, Văn Chấn và Văn Yên) là 3 huyện có diện tích ruộng bậc thang 1 vụ nhiều

Tình hình thời tiết khí hậu vụ Xuân từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2017, 2018 và 2019 tại 3 điểm nghiên cứu đều thuận lợi cho cây ngô sinh trưởng, phát triển Ngoại trừ gieo trồng ngô vào tháng 1 do có điều kiện nhiệt độ thấp, lượng mưa nhỏ

Kết quả phân tích mẫu đất ruộng bậc thang tại các điểm thí nghiệm đều là các khu ruộng có độ cao >

400 m so với mực nước biển, có lịch sử canh tác > 20 năm và đất đều có độ phì trung bình, nghèo lân, kali

Trang 13

11

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất ngô xuân trên đất ruộng bậc thang tại tỉnh Yên Bái

3.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Yên Bái

*) Vị trí địa lý: Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, là 1 trong 14 tỉnh vùng núi phía Bắc,

nằm giữa 2 vùng Đông Bắc và Tây Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp 2 tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, phía Tây giáp tỉnh Sơn La Yên Bái có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) với tổng số 173 xã, phường, thị trấn (150 xã và 23 phường, thị trấn); trong đó có 70

xã vùng cao và 62 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, có 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bào Hmông chiếm gần 80%) nằm trong 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nước

*) Khí hậu: Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng và mưa nhiều, nền nhiệt cao Nhiệt

độ trung bình ít biến động, trong năm thấp nhất là tháng 1: 14,4 oC, cao nhất là tháng 6: 26,0oC Mưa nhiều nhưng phân bố không đều, lượng mưa trung bình 1.149 - 2.351 mm/năm Lượng mưa trung bình thấp nhất vào tháng 1: 9,7 mm/tháng; cao nhất ở tháng 7: 309,9 mm/tháng Một số vùng tiểu khí hậu vào tiết xuân thường có mưa dầm triền miên

Chế độ mưa: Yên Bái thuộc vùng có lượng mưa trung bình, theo số liệu của Trung tâm khí tượng thủy

văn tỉnh, lượng mưa bình quân ở trạm Yên Bái là: 1.740,6 mm/năm; Văn Chấn 1.368,7 mm/năm; Mù Cang Chải 1.834,5 mm/năm

*) Tài nguyên đất: Đất nông nghiệp chiếm trên 85% diện tích đất tự nhiên của tỉnh Yên Bái, đất trồng

trọt chiếm hơn 17%, đất lâm nghiệp chiếm tới hơn 67,8% Tài nguyên đất khá phong phú với 19 loại đất của 5 nhóm chính, trong đó tập trung tới 94,7% thuộc nhóm đất đỏ vàng (đất feralit) và đất mùn feralit Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái năm 2019

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Yên Bái

*) Dân số và lao động: Năm 2018 tổng dân số toàn tỉnh là 815.566 người Mật độ dân số bình quân là

118 người/km2, tập trung ở một số khu đô thị như thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ và các thị trấn, thị tứ Tỉnh Yên Bái có tới 30 dân tộc sinh sống Trong đó, người Kinh chiếm 49,6%, người Tày chiếm 18,58%, người Dao chiếm 10,31%, người H’mông chiếm 8,9% người Thái chiếm 6,7%, người Cao Lan chiếm 1%, còn lại là

các dân tộc khác

Về lao động, Năm 2018, lao động của tỉnh Yên Bái là 526.656 người, chiếm 64,58% dân số Trong đó,

có 90,18% người trong độ tuổi tham gia lực lượng lao động và có việc làm trong các ngành kinh tế

*) Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế của tỉnh hiện nay là Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ (từ năm

2005 đến nay giá trị sản xuất của ngành trồng trọt luôn chiếm tỷ trọng bình quân khoảng 50% - 70% giá trị sản xuất của toàn tỉnh) Giai đoạn 2010 - 2015, cơ cấu kinh tế đã có bước dịch chuyển, song trong thực tế, công nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh; chưa có những sản phẩm đạt chất lượng cao

*) Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng của Yên Bái phát triển ở trình độ thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu

phát triển kinh tế - xã hội trong hiện tại và tương lai Địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, trình độ dân trí

và mức đầu tư chưa cao nên các kết cấu hạ tầng như: điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế, chợ, hệ thống cung cấp nước sạch, thoát nước và cảnh quan môi trường, vừa thiếu vừa kém chất lượng; Hầu hết các

cơ sở công nghiệp chế biến nông sản còn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, công nghệ cũ, hiệu suất thấp, sản phẩm đơn điệu ở dạng thô, sức cạnh tranh kém, không đáp ứng với nhu cầu thị trường ngày càng đòi hỏi khắt khe cả về chất lượng và mẫu mã sản phẩm

Ngày đăng: 23/03/2022, 15:31

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w