54 2.5 VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ, CHỒNG TRONG GIAO DỊCH VỚI NGƯỜI THỨ BA LIÊN QUAN ĐẾN TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG, TÀI KHOẢN CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỘNG SẢN KHÁC MÀ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT KHÔNG PHẢI ĐĂN
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
ISO 9001:2015
ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
TRÀ VINH, NĂM 202 1
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
Mã ngành: 8380103
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN TIẾN
TRÀ VINH, NĂM 202 1
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ: “Đại diện giữa vợ và chồng theo pháp
lu ật Việt Nam” là công trình nghiên cứu của mình Các dẫn chứng có nguồn gốc rõ ràng,
tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực chưa từng được ai công bố trước đây
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghiên cứu của mình
Trà Vinh, ngày … tháng … năm 2021
Học viên
Trần Huỳnh Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện đề tài luận văn “Đại diện giữa vợ và chồng theo pháp luật Việt Nam”
người viết đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Nguyễn Văn Tiến Thầy đã giành nhiều thời gian quý báu và tâm huyết để tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian em thực hiện luận văn này Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô giảng dạy của trường Đại học Trà Vinh,…đã truyền đạt những kiến thức hữu ích để em làm nền tảng nghiên cứu
Tôi muốn gửi lời cảm ơn đến tập thể Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, nơi tôi đang công tác vì đã tạo điều kiện và luôn động viên trong thời gian tôi thực hiện luận văn nói riêng cũng như trong thời gian tôi học chương trình Cao học tại trường Đại học Trà Vinh nói chung
Lời cảm ơn cuối cùng xin gửi đến gia đình và bạn bè đã luôn động viên, ủng hộ
về mọi mặt để tôi có thêm động lực thực hiện luận văn này
Trân trọng!
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Tóm tắt vii
M Ở ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 4
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
6 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI KHẢO SÁT 8
7 KẾT CẤU LUẬN VĂN 9
CH ƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DI ỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG 10
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG 10
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đại diện giữa vợ và chồng 10
1.1.1.1 Khái niệm 10
1.1.1.2 Đặc điểm của đại diện giữa vợ và chồng 13
1.1.2 Ý nghĩa của quy định về đại diện giữa vợ và chồng 16
1.2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG 18
1.2.1 Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng 18
1.2.2 Các trường hợp đại diện giữa vợ và chồng 20
1.2.2.1 Đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch dân sự 20
1.2.2.2 Đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh 24
1.2.2.3 Đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng 26
1.3 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY 27
Trang 61.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1986 27 1.3.2 Giai đoạn từ năm 1987 đến nay 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ
THỂ 33
2.1 VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG VIỆC XÁC LẬP GIAO DỊCH DÂN SỰ VÌ NHU CẦU THIẾT YẾU CỦA GIA ĐÌNH 33 2.1.1 Thực tiễn về đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập giao dịch dân sự vì nhu
cầu thiết yếu của gia đình 33 2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 38 2.2 VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG QUAN HỆ KINH DOANH 39 2.2.1 Thực tiễn về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh 39 2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 46 2.3 VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU, GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHUNG NHƯNG CHỈ GHI TÊN VỢ HOẶC CHỒNG 48 2.3.1 Thực tiễn đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng 48 2.3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 50 2.4 VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG KHI MỘT BÊN MẤT NĂNG LỰC HÀNH
VI DÂN SỰ 51 2.4.1 Thực tiễn đại diện giữa vợ và chồng khi một bên mất năng lực hành vi dân sự 51 2.4.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 54 2.5 VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ, CHỒNG TRONG GIAO DỊCH VỚI NGƯỜI THỨ BA LIÊN QUAN ĐẾN TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG, TÀI KHOẢN CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỘNG SẢN KHÁC MÀ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT KHÔNG PHẢI ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN SỬ DỤNG 55 2.5.1 Thực tiễn về đại diện giữa vợ, chồng trong giao dịch với người thứ ba liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng 55 2.5.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 57
Trang 7K ẾT LUẬN 60
PH Ụ LỤC 1
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
HNGĐ: Hôn nhân và gia đình
Trang 9TÓM TẮT
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật có liên quan đã có những quy định tương đối chi tiết về các vấn đề liên quan đến đại diện giữa vợ và chồng Tuy nhiên, bên cạnh đó, pháp luật vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế cần phải được xem xét
Qua việc khái quát chung và đánh giá, phân tích quy định của pháp luật về đại
diện giữa vợ, chồng luận văn đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật gồm:
định về đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập giao dịch dân sự vì nhu cầu thiết yếu của gia đình
Hai là, Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quy định rõ mục đích kinh doanh
Ba là, khoản 2 Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần quy định thêm
về trường hợp xử lý hậu quả khi thuộc trường hợp theo quy định của pháp luật mà người
thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi thì giao dịch do vợ hoặc chồng tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba không vô hiệu
theo hướng người giám hộ được thay đổi khi người giám hộ vi phạm nghĩa vụ giám hộ được quy định tại khoản 1 Điều 57 của Bộ luật dân sự
Năm là, khoản 1 Điều 59 Bộ luật dân sự năm 2015 không nên quy định thuật ngữ
“tài sản có giá trị lớn” thay vào đó nên liệt kê các loại tài sản như theo tinh thần của Luật Hôn nhân và gia đình để việc xác định được dễ dàng hơn, tránh trường hợp người giám
hộ cố tình chia nhỏ tài sản của người được giám hộ để thực hiện các giao dịch dân sự
Sáu là, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần loại trừ trường hợp quy định tại Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để có cách hiểu thống nhất
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Gia đình từ ngàn xưa đã được coi là nền tảng của xã hội và có vị trí, vai trò đặc
biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Trong mỗi gia đình, bên cạnh đời sống tình cảm yêu thương, gắn bó lẫn nhau, các thành viên không thể không quan tâm đến điều kiện vật chất vì đó là cơ sở kinh tế giúp cho vợ và chồng xây dựng cuộc
trong gia đình Chính vì vậy, trong các bộ luật đầu tiên của nước ta như Bộ luật Hồng Đức đời nhà Lê, Bộ luật Gia Long đời nhà Nguyễn đã có nhiều quy định điều chỉnh các quan hệ pháp luật về HNGĐ, trong đó có những quy định về tài sản của vợ và chồng
Những quy định này đã được các nhà làm luật kế thừa và phát triển theo từng giai đoạn lịch sử
Hiện nay, cũng như các nước trên thế giới, ở Việt Nam vấn đề đại diện là một
năng lực chủ thể trong các quan hệ dân sự, quan hệ pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người chưa thành niên, cũng như của những người không mai bị mất năng lực hành vi dân sự Do đó, vấn đề đại diện không những bảo vệ quyền và lợi ích cho một cá nhân mà còn có liên quan đến pháp nhân
HNGĐ luôn là một vấn đề được Nhà nước quan tâm đặc biệt, bởi lẽ gia đình là hạt nhân, tế bào của xã hội, muốn xã hội phát triển thì gia đình phải phát triển Mặt khác,
làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, và sau đó là giữa cha mẹ và con cái Hầu như trong các quan hệ gia đình đều có sự hiện diện của quan hệ hôn nhân, nói cách khác, các quan hệ gia đình về cơ bản đều xuất phát từ quan hệ hôn nhân.1 Qua đó cho thấy, việc đảm bảo cho quan hệ hôn nhân được bền vững, quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng được bảo vệ một cách tốt nhất chính là điểm mấu chốt trong xây dựng và phát triển gia đình Để thực hiện nhiệm vụ trên, công việc đầu tiên và thiết yếu nhất phải thực
hiện là xây dựng và hoàn thiện được các chế định pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa
1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Luật HNGĐ Việt Nam, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hồ Chí Minh, tr.27
Trang 11quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia các giao dịch dân sự, ngay trong một số trường hợp cụ thể họ không thể tự mình thực hiện các giao dịch dân sự, kinh tế
và những quan hệ pháp luật khác có liên quan thì cần có chế định đại diện Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc tự do cam kết, tự do thỏa thuận trong dân sự trong khuôn
khổ của pháp luật, nhằm giúp đỡ nhau và thỏa mãn lợi ích cho nhau
Khi thiết lập quan hệ hôn nhân, giữa vợ và chồng tồn tại một sự liên kết rất khắng khít với nhau về nhân thân, tình cảm, quan hệ tài sản nhằm mục đích cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững Trong đó, việc đại
Nam và mối quan hệ độc lập với các chủ thể khác trong xã hội
Bên cạnh đó, với sự phát triển ngày càng cao của xã hội, các quan hệ của vợ và chồng với các chủ thể thứ ba ngày một đa dạng hơn về lĩnh vực hay quy mô Chính vì thế, việc vợ và chồng được quyền thay mặt cho nhau trong trường hợp nào, với những điều kiện ra sao, phạm vi như thế nào là những vấn đề cần được sự điều chỉnh một cách chi tiết, cụ thể, chính xác của pháp luật để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của vợ
và chồng cũng như là chủ thể thứ ba trong mối quan hệ với vợ và chồng
Luật HNGĐ năm 2014 và pháp luật có liên quan đã có những quy định tương đối chi tiết, đầy đủ về các vấn đề liên quan đến đại diện giữa vợ và chồng như ghi nhận căn
quan hệ đại diện giữa vợ và chồng, quan hệ với người thứ ba trong quan hệ đại diện giữa
chế cần phải được xem xét và giải quyết như:
Th ứ nhất, đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập giao dịch dân sự vì nhu
cầu thiết yếu của gia đình
Th ứ hai, đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh
Th ứ ba, đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu,
giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng
Th ứ tư, đại diện giữa vợ và chồng khi một bên mất năng lực hành vi dân sự
Th ứ năm, đại diện vợ, chồng trong giao dịch với người thứ ba liên quan đến tài
Trang 12Do vậy, việc có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện đối với vấn đề đại diện giữa vợ và chồng trong bối cảnh hiện tại là điều hết sức cần thiết để hướng tới
việc hoàn thiện pháp luật, từ đó bảo vệ tốt hơn cho quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các chủ thể khác
Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Đại diện giữa vợ và chồng theo
pháp lu ật Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- M ục tiêu chung:
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài này, tác giả muốn làm sáng tỏ quy định của
đầu tiên tác giả tìm hiểu những quy định cơ bản của Luật HNGĐ năm 2014 về đại diện giữa vợ và chồng Sau đó, phân tích đánh giá quy định của Luật HNGĐ cũng như pháp
luật có liên quan Từ đó, tìm hiểu những vấn đề vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật theo quan điểm xét xử của Tòa án Trên cơ sở giữa lý luận và thực tiễn, tác giả đánh giá, kết luận về hiệu quả áp dụng pháp luật; đề xuất giải pháp pháp lý nhằm thống nhất triển khai trong thực tế, bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả của pháp luật
- M ục tiêu cụ thể:
diện giữa vợ chồng là nội dung của đại diện trong luật dân sự, trong đó, vợ và chồng theo pháp luật quy định hoặc ủy quyền của một bên làm phát sinh chế độ đại diện
Th ứ hai, làm sáng tỏ các quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng Đại
diện giữa vợ và chồng được quy định trong pháp luật như một tất yếu khách quan, nhằm điều chỉnh quan hệ giữa vợ và chồng mà trước hết là xuất phát từ tính chất, mục đích
đại diện giữa vợ và chồng
quan hệ kinh doanh; Đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi
sự; Đại diện vợ, chồng trong giao dịch với người thứ ba liên quan đến tài khoản ngân
Trang 13hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng Từ những phân tích đó, tác giả sẽ chỉ ra
những hạn chế còn tồn tại
Th ứ tư, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ
và chồng
3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Vấn đề đại diện giữa vợ và chồng là một chế định hết sức quan trọng trong mối
trình có liên quan đến đề tài luận văn của tác giả dưới nhiều góc độ khác nhau Các công trình này bao gồm:
“Luật HNGĐ Việt Nam” Nhà xuất bản Hồng Đức Công trình mang lại những kiến thức
lý luận nền tảng về các vấn đề trong HNGĐ nói chung và việc đại diện giữa vợ và chồng nói riêng, qua đó giúp cho việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn của tác giả Tuy nhiên, với mục tiêu truyền đạt những kiến thức nền tảng, giáo trình chưa phân tích một cách chuyên sâu các vấn đề có liên quan đến đại diện giữa vợ và chồng
trung rất nhiều bản án trong thực tiễn xét xử của Tòa án liên quan đến các vấn đề trong HNGĐ, trong đó có vấn đề về đại diện giữa vợ và chồng Đây là tài liệu tham khảo rất
hữu ích để tác giả có được những kiến thức thực tiễn trong quá trình thực hiện luận văn của mình Tuy nhiên, điểm hạn chế của tác phẩm là về thời điểm xuất bản vào năm 2011 nên chưa cập nhật được những bản án, quyết định mới nhất của Tòa án, đặc biệt là sau
Nam, T ập II – Các quan hệ tài sản giữa vợ chồng”, Nhà xuất bản Trẻ Đây là tác phẩm
càng, có góc nhìn sâu sắc về hầu hết các vấn đề liên quan chế độ tài sản của vợ và chồng, trong đó có đề cập đến các vấn đề về đại diện giữa vợ và chồng Tuy nhiên, với tính chất
là công trình nghiên cứu toàn bộ các chế định về hôn nhân gia đình, do đó các vấn đề về đại diện giữa vợ và chồng vẫn chưa được phân tích một cách toàn diện, chuyên sâu, chi tiết trong tác phẩm Mặt khác, tác phẩm được công bố trước thời điểm Luật HNGĐ năm
Trang 142014 có hiệu lực pháp luật nên chưa cập nhật được những điểm mới của pháp luật Dù vậy, những nội dung trong tác phẩm vẫn có giá trị tham khảo rất cao về mặt lý luận và
thực tiễn để tác giả triển khai thực hiện luận văn của mình
Th ứ tư, bài viết Ngô Thị Anh Vân (2016), “Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong quá
trình xác l ập thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng”, đăng trên tạp chí Khoa học
pháp lý Trong bài viết này, đã phân tích cơ sở pháp lý về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi xác lập thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, đề xuất về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, trong đó có nội dung hậu quả pháp lý của việc vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi xác lập thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng Đây là nội dung mà tác giả tiếp thu và phát triển thêm vấn đề bảo
vệ quyền lợi của vợ chồng cũng như người thứ ba khi có sự vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin này, khi đó đặt ra vấn đề đại diện giữa vợ và chồng
viết đã đề cập đến một vấn đề có liên quan đến đại diện giữa vợ và chồng là quyền đại
diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập các giao dịch nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu
của gia đình Các tác giả đã phân tích các quy định của pháp luật, chỉ ra mặt hạn chế và đưa quan điểm cá nhân về cách thức xử lý trong những trường hợp này Đây là tài liệu tham khảo rất bổ ích cho tác giả khi thực hiện luận văn Tuy nhiên, bài viết này cũng chỉ
mới đề cập đến một khía cạnh của vấn đề đại diện giữa vợ và chồng, chưa phân tích một cách toàn diện chủ đề mà tác giả đang nghiên cứu
chứng nhận quyền sử dụng nhà và đất ở: Thực trạng và các yếu tố tác động”, đăng trên
tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới Bài viết đã tập trung phân tích cơ sở pháp lý về đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà và đất ở của vợ chồng theo Luật HNGĐ năm 2000 và Luật Đất đai năm 2003 Qua đó, tác giả đã đánh giá nhận thực và thực tế
của vấn đề này cũng như các yếu tố tác động ảnh hưởng, đồng thời đề xuất giải pháp để không tạo nên sự bất bình đẳng giới giữa người vợ và chồng trong lĩnh vực này Tác giả
đã tiếp thu đến các yếu tố tác động ảnh hưởng, trong đó có vấn đề về phong tục, tập quán dẫn đến việc thông thường chỉ có người chồng (chủ hộ gia đình) đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng nhà và đất ở Qua đó, phát triển nội dung này trong bối cảnh luật thực định và bảo vệ quyền của vợ, chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền