Báo cáo môn học Công nghệ Thi công Hiện đại.Trong các phương pháp thử tải trên có hai phương pháp thử tải tĩnh đó là phương pháp thử tải tĩnh truyền thống và phương pháp thử tải tĩnh bằng hộp tải trọng Osterberg. Phương pháp thử tải tĩnh truyền thống là phương pháp kiểm tra cho độ chính xác cao nhất và cũng được sử dụng sớm nhất trên thế giới. Tuy nhiên, khi các cọc khoan nhồi – cọc barrette được thực hiện thi công sâu hơn, đường kính (tiết diện) lớn hơn dẫn đến sức chịu tải cọc rất lớn thì phương pháp thử tải tĩnh truyền thống sẽ gặp phải nhiều khó khăn như thử tải trọng tĩnh với tải trọng không lớn, cần mặt bằng, không gian chất tải lớn… Trong khi đó, phương pháp thử tải tĩnh bằng hộp tải trọng Osterberg có thể thử tải trọng tĩnh tới tải trọng lên đến nhiều nghìn tấn, không đòi hỏi mặt bằng và không gian chất tải lớn.
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA XÂY DỰNG DÂN DỤNG & CƠNG NGHIỆP
THUYẾT MINH CHUYÊN ĐỀ CÔNG NGHỆ THI CÔNG HIỆN ĐẠI
ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ SỨC CHỊU TẢI CỦA CỌC BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỬ TẢI TĨNH BẰNG
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế đất nước phát triển mạnh, quá trình đô thi hóadiễn ra nhanh chóng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân từ nhiều nơi đổ về đô thị đểsinh sống, làm việc, học tập, vui chơi, giải trí…nên ngày càng mọc lên các công trình lớn,cần sức chịu tải lớn Với nhu cầu về tải trọng đó, nền đất khó có thể đáp ứng được Do vậy,nhiều công nghệ gia cố nền ra đời, trong đó có công nghệ gia cố nền bằng cọc bê tông cốtthép có sức chịu tải lớn
Đáp ứng nhu cầu đó, việc sử dụng cọc khoan nhồi, cọc barrette có tiết diện lớn, sứcchịu tải lớn ngày càng nhiều đặt ra vấn đề khó khăn về kinh tế cũng như tiến hành thínghiệm khi đánh giá sức chịu tải của cọc bằng phương pháp thử tải tĩnh truyền thống Việctìm hiểu và ứng dụng một phương pháp thử tải tĩnh mới là cần thiết
Trong phạm vi chương trình của học phần Công nghệ Thi công Hiện đại, chúng emxin trình bày chuyên đề về Phương pháp thử tải tĩnh bằng hộp tải trong Osterberg Do vớikiến thức còn hạn hẹp và thời gian tìm hiểu không nhiều nên chuyên đề của chúng em cònnhiều sai sót và hạn chế
Chuyên đề nghiên cứu còn mang tính lý thuyết, chưa quan sát thực tế cho nên chúng
em mong thầy và các bạn quan tâm đóng góp ý kiến và sửa chữa để chúng em có thể hiểuthêm về chuyên đề này
Chúng em xin chân thành cảm ơn Thầy và các bạn đã tận tình giúp đỡ
Nhóm thực hiện
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
Trang 5DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
Trang 6CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Mục đích nghiên cứu
Hiện nay, nhu cầu xây dựng các công trình cao tầng ở Việt Nam rất lớn, các cọcbarrette và cọc khoan nhồi đường kính lớn có sức chịu tải trên một nghìn tấn đang được ápdụng phổ biến Vì vậy, việc xác định sức chịu tải của chúng là điều không thể tránh khỏi
Để xác định sức chịu tải của cọc chúng ta có các phương pháp thử tải sau:
• Phương pháp thí nghiệm động biến dạng lớn PDA
• Phương pháp thử tĩnh động
• Phương pháp thử tải tĩnh truyền thống
• Phương pháp thử tải tĩnh bằng hộp tải trọng Osterberg
Trong các phương pháp thử tải trên có hai phương pháp thử tải tĩnh đó là phươngpháp thử tải tĩnh truyền thống và phương pháp thử tải tĩnh bằng hộp tải trọng Osterberg.Phương pháp thử tải tĩnh truyền thống là phương pháp kiểm tra cho độ chính xác cao nhất
và cũng được sử dụng sớm nhất trên thế giới Tuy nhiên, khi các cọc khoan nhồi – cọcbarrette được thực hiện thi công sâu hơn, đường kính (tiết diện) lớn hơn dẫn đến sức chịu tảicọc rất lớn thì phương pháp thử tải tĩnh truyền thống sẽ gặp phải nhiều khó khăn như thử tảitrọng tĩnh với tải trọng không lớn, cần mặt bằng, không gian chất tải lớn… Trong khi đó,phương pháp thử tải tĩnh bằng hộp tải trọng Osterberg có thể thử tải trọng tĩnh tới tải trọnglên đến nhiều nghìn tấn, không đòi hỏi mặt bằng và không gian chất tải lớn Do đó, mục
đích nghiên cứu của đề tài là: “Đánh giá sức chịu tải của cọc bằng phương pháp thử tải
tĩnh bằng hộp tải trọng Osterberg”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích các yếu tố kỹ thuật, phương tiên, vật liệu, công nghệ thi công của phươngpháp thử tải tĩnh bằng hộp tải trọng Osterberg
Phân tích các ưu, nhược điểm, phạm vi sử dụng của phương pháp
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hộp tải trọng Osterberg
Phạm vi nghiên cứu: Khả năng đánh giá sức chịu tải của cọc của phương pháp
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 7Chương 4: Thiết bị và vật liệu
Chương 5: Quy trình tiến hành thí nghiệm
Chương 6: Sự cố - cách khác phục và biện pháp an toàn lao độngChương 7: Ưu - nhược điểm và phạm vi ứng dụng
Chương 8: Kết luận
Trang 8CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP THỬ TẢI TĨNH
BẰNG HỘP TẢI TRỌNG OSTERBERG
2.1 Lịch sử nghiên cứu và hình thành thí nghiệm
Nhằm khắc phục những nhược điểm của phương pháp thử tải tĩnh truyền thống, vàođầu những năm 1980, giáo sư người Mỹ Jorj O Osterberg của Trường Đại họcNorthwestern, Florida đã đưa ra phương pháp nén tĩnh mới mà sau này mang tên ông là
“Phương pháp thử tải tĩnh bằng hộp tải trọng Osterberg” và lần đầu tiên áp dụng vào năm
1984 Cho đến ngày nay phương pháp này đã được ứng dụng rộng rãi, được đưa vào cáctiêu chuẩn kỹ thuật của nhiều nước, ngay cả Việt Nam phương pháp này đã được ứng dụngthành công
Về mặt thương mại, Công ty Loadtest độc quyền về thiết bị thí nghiệm với giá khácao Hiện nay, một số nước đã chế tạo lại theo nguyên lý trên để giảm giá thành tuy vẫn phảitốn một khoản để mua bản quyền
Ngày nay, thí nghiệm Osterberg được thực hiện dựa trên tiêu chuẩn “ASTM – D1143Standard Test Method for Piles Under Static Axial Load – Quick load test”
2.2 Ứng dụng thí nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Trên thế giới
Dự án tuyến đường sắt Hung Tung Lau – Hồng Kông
Thử tải Osterberg cho cọc đóng tại Mỹ, đặc dự án di dân Thành phố Morgan
Thí nghiệm ở cảng Orange, Florida
Trang 9CHƯƠNG 3: NGUYÊN LÝ THÍ NGHIỆM
3.1 Lý thuyết cơ sở
Thí nghiệm Osterberg thực chất là thí nghiệm nén tĩnh cọc, về mặt nguyên lý hoàntoàn giống với thí nghiệm nén tĩnh, chuyên dụng cho các cọc khoan nhồi và barrette (nhưngvẫn có thể áp dụng cho cọc đúc sẵn)
Các hộp Osterberg được đặt sẵn trong thân cọc trước khi đổ bê tông cọc khoan nhồihay cọc barret (hoặc đặt khi đổ bê tông trong nhà máy đối với cọc đúc sẵn) Khi tăng tải tiếnhành đo chuyển vị đầu cọc và mũi cọc hay vị trí đặt hộp tải trọng Thí nghiệm được xem làkết thúc khi đạt đến sức kháng ma sát hoặc sức chống mũi giới hạn (cọc bị phá hoại ở thànhhoặc ở mũi) Kết quả thu được là các đường cong biểu thị quan hệ tải trọng – chuyển vị củađỉnh và mũi cọc Từ kết quả đó, xây dựng quan hệ tải trọng-chuyển vị như trong thử tải tĩnhtruyền thống và xác định sức chịu tải của cọc theo một số giả thiết
Nguyên tắc thí nghiệm là đặt tải trực tiếp tại mũi hay thân cọc bằng một thiết bị gọi
là hộp Osterberg (hay O-cell), khi đó sử dụng ngay tải trọng cọc, ma sát đất thành bên cọc
và sức kháng mũi làm đối trọng để tăng tải
Hộp Osterberg thực ra là một hộp gia tải bằng kích thủy lực, đặt tại vị trí mũi cọchoặc lý tưởng hơn là trên thân cọc ở tại nơi sao cho lực ma sát bên (ở phía trên hộp) cânbằng với lực kháng đầu cọc (ở phía dưới)
Sức chịu tải cực hạn của cọc được mô hình lý thuyết gồm 2 thành phần: sức khángmũi và ma sát thành bên, các đại lượng này có thể được tính toán dựa vào các đặc trưng củađất:
Trong phương pháp thử tải tĩnh bằng hộp tải trọng Osterberg, tải trọng thử không đặttrên đầu cọc mà ở mũi hoặc ở thân cọc Khi gia tải, cọc dịch chuyển lên phía trên (trường
Trang 10Hình : Mô hình thí nghiệm và so sánh sơ đồ đặt lực trong chất tải truyền thống và thử tải bằng hộp tải trọng Osterberg
Hình : Hộp tải trọng Osterberg
hợp hộp tải trọng đặt cở mũi cọc), hoặc có đoạn cọc dịch chuyển lên phía trên và có đoạncọc dịch chuyển xuống phía dưới (trường hợp hộp tải trọng đặt ở khoảng giữa thân cọc).Tương ứng với trường hợp trên, lực kháng ma sát của đất xung quanh thân cọc có chiềuhướng xuống dưới ngăn cản dịch chuyển đi lên của cọc và lực kháng của đất mũi cọc cóchiều hướng lên trên ngăn cản chuyển dịch đi xuống của phần mũi cọc và phần dưới của
hộp tải trọng Trong trường hợp sau, đoạn cọc phía trên hộp tải trọng có lực kháng ma sátcủa đất xung quanh thân cọc có chiều hướng xuống dưới dưới ngăn cản dịch chuyển đi lên
và đối với đoạn cọc phía dưới hộp tải trọng lực kháng ma sát của đất xung quanh thân cọc
và lực kháng mũi cọc có chiều hướng lên trên ngăn cản dịch chuyển đi xuống của đoạn cọc
đó và của mũi cọc
Trang 113.3 Các giả thiết
Đường cong chuyển vị - tải trọng mũi trong cọc được chất tải truyền thống giống nhưđường cong chuyển vị - tải trọng xây dựng với chuyển dịch đi xuống của hộp tải trọng tạiđáy
Đường cong chuyển vị - tải trọng ma sát bên của chuyển dịch đi lên trong thí nghiệmhộp tải trọng giống như chuyển dịch đi xuống trong một thí nghiệm chất tải truyền thống
Bỏ qua độ nén trong thân cọc khi xem nó là vật rắn
Trang 12CHƯƠNG 4: THIẾT BỊ VÀ VẬT LIỆU
4.1 Thiết bị thí nghiệm
4.1.1 Hộp tải trọng Osterberg
Hộp tải trọng Osterberg - còn gọi là hộp O-Cell là bộ phận quan trọng nhất của côngnghệ này Đây là một kích thủy lực, có hình lăng trụ tròn khi dùng cho cọc khoan nhồi vàhình hộp vuông hay chữ nhật khi dùng cho cọc đóng Chất lỏng dùng để tạo áp lực là hỗnhợp dầu và nước sạch Hiện nay, Công ty LOADTEST giữ độc quyền về công nghệ sản xuất
và thường sản xuất một số loại kích sau:
Cho cọc khoan nhồi :
Bảng 4-1: Các kích thước hộp tải trọng Osterberg cho cọc khoan nhồi và thông số
Khả năng sinh
tải ( Tấn )
Đường kính(Insơ)
Chiều cao(Insơ)
Hành trình(Insơ)
Trọng lượngbản thân (KG)40
5-3/165-3/1610-3/411-5/811-5/812-1/8
336666
914.586135360495Cho cọc đóng :
Bảng 4-2: Các kích thước hộp tải trọng Osterberg cho cọc đóng và thông số
P (T): Khả năng sinh tải của Osterberg
Py/c (T): Tải trọng thử yêu cầuTrong những trường hợp đặc biệt, cần thiết người ta có thể thiết kế cả cho chế tạonhững hộp kích có kích thước và năng lực phù hợp với yêu cầu cảu thí nghiệm tại các côngtrình cụ thể
Trang 13Hình 4-1: Kích thủy lực Osterberg
Trang 14Hộp tải trọng Osterberg có mặt trên và dưới được hàn với hai tấm thép dày từ40÷50mm Các tấm thép này có kích thước trùng khít với kích thước trong của lồng thép,được cắt lỗ và gá lắp trước một phễu dẫn hướng tại vị trí ống đổ bê tông đi qua Ngoài ra,người ta cũng cắt thêm một số lỗ nhỏ hơn để tạo điều kiện thuận lợi cho việc dâng vữa bêtông trong quá trình đổ bê tông cọc.
Hình 4-2: Các tấm thép dày 40÷50 mm
Hình 4-3: Hộp tải trọng Osterberg
Trang 16Hình : Các loại thanh truyền
Hình : Đầu đo điện tử LVWDT
b) Hệ thống đo chuyển vị đầu cọc và mũi cọc
• Đầu đo điện tử LVWDT (Linear Vibrating Wire Displacement Tranducer –Thiết bị đo biến dạng dây rung tuyến tính) được chia đến 0,01mm và đo đượcchuyển vị cực đại là 150mm
• Đầu đo điện tử LVDT (Linear Variable Displacement Tranducer – Thiết bị đobiến dạng tuyến tính) chia vạch đến 0,025mm và đo được chuyển vị cực đại100mm
• Các đồng hồ đo theo phương pháp cơ học
Trang 18Hình 4-6: Thanh truyền
• Dầm và thước theo dõi chuyển vị của dầm là một dầm thép I được kê trên 2gối cố định được sử dụng làm “mốc” cho các phép chuyển vị, sự ổn định theophương thẳng đứng của “mốc” được theo dõi bằng một máy đo cao điện tử.Các chuyển vị (nếu có) của “mốc” cũng được ghi nhận và chuyển đến máytính để máy tự động xử lý các số liệu nhận được từ các đầu đo chuyển vị
Hình 4-7: Dầm I dùng làm móc cố định đo chuyển vị
Trang 19Hình 4-8: Thước đo chuyển vị của dầm - mốc cố định
Hình 4-9: Máy đo cao điện tử theo dõi chuyển vị của dầm – mốc cố định
Trang 20Các đầu đo áp được kết nối với các O-cell, bơm cao áp và hệ thống ống dẫn theo sơ
đồ sau:
Hình 4-10: Sơ đồ hệ thống áp lực
Trang 21d) Máy bơm vữa và hệ thống ống dẫn vữa
Hệ thống ống dẫn vữa là các ống bảo vệ thanh truyền đo chuyển vị xuống của mũicọc Vữa được bơm bởi máy bơm vữa áp lực cao để bịt kín lỗ rông do chuyển vị xuống củatấm thép dưới tạo ta
Hình 4-12: Máy trộn và bơm vữa
e) Thiết bị ghi nhận số liệu và xử lý số liệu tải chỗ: Datalogger, Indicater
Hình 4-13: Bộ phận thu nhận số liệu (Datalogger)
Trang 22f) Máy tính với phần mềm xử lý kết quả
Hình 4-14: Máy tính và bộ phận thu thập số liệu
4.2 Vật liệu
Vật liệu làm hệ thống ống dẫn áp lực, ống bảo vệ thanh truyền, ống bơm vữa bê tông
Ở Việt Nam thường sử dụng ống cấp nước tráng kẽm
Nước ngọt từ các nguồn cung cấp nước sạch sinh hoạt để trộn với dầu hòa tan docông ty chế tạo Hộp tải osterber cung cấp để tạo ra dầu thủy lực cho hệ bơm tạo áp lực
Vật liệu phù hợp để chế tạo một dầm làm mốc cho việc quan trắc chuyển vị của cọctrong quá trình thí nghiệm Để tránh các ảnh hưởng xấu đến các số liệu đo đạc, dầm nàyđược đỡ trên các trụ cách tâm cọc thử ít nhất ba lần đường kính thân cọc Để đảm bảo tincậy phải bố trí máy cao đạc để quan trắc dầm
Vật liệu để bảo vệ khu làm việc ( bao gồm làm hàng rào ngăn cách và che chắn trongđiều kiện thời tiết bất lợi cho thiết bị thí nghiệm và người tham gia thí nghiệm ) theo yêucầu của kỹ sư tư vấn
Nguồn năng lượng điện ổn định cho ánh sáng, cho công tác hàn và các thiết bị thínghiệm…
Vật liệu cần thiết để chế tạo giá đỡ, các bản giá đỡ và các thiết bị cần thiết khác để
Trang 23CHƯƠNG 5: QUY TRÌNH TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM
5.1 Chuẩn bị hộp tải trọng Osterberg (hộp kích O-cell)
Số lượng năng lực của kích được lựa chon theo thiết kế thí nghiệm và đều có chứngchỉ xuất xưởng của nhà sản xuất Mặt trên và mặt dưới của các hộp kích được hàn với haitấm thép dày 40-50 mm Các tấm thép này có kích thước trùng khít với kích thước trong củalồng thép, được cắt lỗ và gá lắp trước một phễu dẫn hướng tại vị trí ống đổ bê tông đi qua.Ngoài ra người ta cũng cắt thêm một số lỗ nhỏ hơn để tạo điều kiện thuận lợi dâng vữa bêtông trong qúa trình đổ bê tông cọc
Các thiết bị trên được gắn chặt trước vào vị trí đã xác định ở lồng thép , có thể là đáycọc nhưng vị trí của O-Cell thường cách mũi cọc ít nhất 1,5d để tránh kích bị nghiêng dobiến dạng không đều của đất ở mũi cọc
Hình 5-15: Liên kết Kích O-cell với tấm thép dày 40-50mm
Trang 24Hình 5-16: Hàn hộp tải trọng Osterberg vào lồng thép
5.2 Chuẩn bị và lắp đặt các thiết bị đo đạc
Thanh truyền
Các đầu đo chuyển vị:
• Đầu đo điện tử LVDT, đầu đo điện tử LVWDT
• Cũng có thể sử dụng các đồng hồ đo theo phương pháp cơ học
• Hoặc kết hợp cả hai: đầu đo điện tử và đồng hồ đo để kiểm tra, đối chứng.Các đầu đo áp lực
Lắp đặt các thiết bị đo đạc vào lồng thép (thanh truyền, ống bảo vệ thanh truyền, ốngdẫn áp lực, ống bơm vữa bê tông, thiết bị đo biến dạng…)
Hình 5-17: Lắp đặt thanh truyền và ống bảo vệ
Trang 25Hình 5-18: Lắp đặt các ống dẫn áp lực, ống bơm vữa, thiết bị đo chuyển vị
Hình 5-19: Lắp đặt các thiết bị đo đạc tại hiện trường
5.3 Thi công cọc thử
Sau khi lỗ khoan cọc được chuẩn bị xong, đoạn lồng thép thứ nhất có lắp hộp O-Cell
và thiết bị đo được hạ vào lỗ cọc , các đoạn lồng thép tiếp theo cũng được lắp đặt như việcthi công các cọc khác Khi cẩu lắp khung cốt thép nằm ngang để đưa vào hố cần phải cóbiện pháp và khung đỡ thích hợp để đảm bảo không làm hỏng thiết bị
Trang 26Sau khi kiểm tra đúng độ sâu của hộp O-Cell, tiến hạnh đổ bể tông qua các lỗ khoéttrên tấm thép.
Hình 5-20: Cẩu lồng thép
Hình 5-21: Hạ lồng thép vào hố khoan
Trang 27Hình 5-22: Đổ bê tông cọc
5.4 Lắp đặt hệ thống đo đạc và thu thập số liệu
Lắp đặt hệ thống đo đạc và thu thập số liệu theo sơ đồ sau:
Trang 28Hình 5-23: Sơ đồ lắp đặt hộp kích và hệ thống đo đạc
1 - Thước theo dõi chuyển vị của dầm
2 - Dầm (Mốc cố định)
3 - A&B:LVDT lắp đặt với dầm mốc và thép đầu cọc đo chuyển vị lên của cọc
4 - C&D:LVWDT đo chuyển vị tấm thép đáy so với đầu cọc
5 - E&F: LVDT đo chuyển vị tấm thép trên so với đầu cọc
Trang 295.5 Tiến hành gia tải và ghi nhận dữ liệu
5.5.1 Phương pháp và tiêu chuẩn áp dụng
Tải trọng đặt thông qua việc tăng áp lực hỗn hợp nước + dầu trong hộp tải trọngthông qua hệ thống ống dẫn đặt trước trong cọc và được theo dõi bằng các đồng hồ đo áplực gắn trên máy bơm và đầu đo điện tử
Việc tăng tải được thực hiện theo các quy định trong tiêu chuẩn Hoa Kỳ ASTM D1143: Phương pháp gia tải nhanh (Quick Load Test Procedures – ASTM 1995)
-5.5.2 Cấp tải thí nghiệm
Mỗi cấp tải thường có áp lực 10% [P] ( P là sức chịu tải cho phép của cọc thử ), Mỗicấp tải được giữ trong vòng 8 phút
Quá trình tăng tải kết thúc khi cọc đạt sức chịu tải giới hạn theo sức chống mũi, hoặc
ma sát thành bên, hoặc khả năng tạo tải cực hạn, hoặc đạt đến độ mở rộng cực hạn của hộptải trọng Osterberg, hoặc theo yêu cầu riêng của thiết kế - tư vấn
Tại từng cấp tải trọng, ghi nhân dữ liệu lại các khoảng thời gian 1 phút, 2 phút, 4phút khi cấp tải trọng được giữ không đổi
5.6 Bơm vữa sau khi thử
Trong quá trình thử tải, thân cọc bị tách làm 2 phần nên khi hoàn thành việc thử tảithì tiến hành bơm đầy vữa vào bên trong kích và khoảng trống hình thành trong quá trình thínghiệm để liên kết các đoạn thân cọc
5.6.1 Bơm vữa vào bên trong hộp Osterberg
Thành phần của bơm vữa gồm xi măng Portland và nước, không dùng cát Vữa phảilỏng và dễ bơm, tỷ lệ nước/xi măng = 0,4-0,5, lượng vữa phụ thuộc vào số lượng và đườngkính của hộp kích Cường độ chịu nén của vữa không thấp hơn 25 Mpa
Nối đầu ra của máy bơm vào một ống thủy lực của hộp Osterberg để tiến hành bơmvữa vào hộp kích Duy trì áp lực bơm trong khoảng 0,5-1 Mpa, khi thấy chất lượng của vữabơm vào và ra giống nhau thì ngừng bơm Lấy mẫu nén xác định cường độ R28
5.6.2 Bơm vữa vào khoảng không gian bao quanh hộp Osterberg
Thành phần của vữa và việc trộn vữa được thực hiện như đối với vữa bơm vào hộpOsterberg
Khối lượng vữa chuẩn bị thường > 3 lần khối lượng theo tính toán lý thuyết để lấpđầy khoảng không gian bao quanh hộp Osterberg và các ống dẫn vữa
Trước tiên bơm nước để tống ra ngoài các nút bịt các đường ống dẫn vữa đặt trước.Sau đó tiến hành bơm vữa liên tục cho tới khi vữa phun ra ở đầu ống thứ hai Nếu khôngquan sát được dòng vữa phun ra từ ống 2 thì chuyển bơm đến ống thứ 2 và bơm cho đến khiđược 1,5 khối lượng lý thuyết