I.1.Lí do chọn đề tài: Từ trước đến nay chúng ta vẫn quan niệm hoạt động giáo dục là quá trình giảng dạy trên lớp là quá trình cho và nhận tri thức. Dạy học có nghĩa là truyền thụ và tiếp nhận kiến thức. Tuy nhiên đó là quan niệm chưa đúng và chưa đầy đủ vì chúng ta bỏ quên đi hoặc vẫn xem nhẹ mảng HĐGDNGLL. Chúng ta biết rằng quá trình hoạt động sư phạm nó bao gồm hai quá trình; quá trình dạy học trên lớp và quá trình HDGDNGLL. Theo quyết định số 162006 QĐBGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Giáo dục và đào tạo ban hành khung chương trình giáo dục phổ thông thì qui định rất rõ số tiết HĐGDNGLL ở cấp Tiểu học, THCS, THPT là 4 tiết 1 tháng. Tại chương II điều 26 của Thông tư số: 122011TTBGDĐT ngày 283 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành điều lệ trường THPT và trường trung học có nhiều cấp học cũng đã qui định: “Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động” Như vậy từ các văn bản chỉ đạo thực hiện trên thì chúng ta thấy HĐGDNGLL hoạt động bắt buộc ở các trường học trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Năm học 2016 2017 cũng là năm học đầu tiên toàn ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình hành động đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Để thực hiện được nhiệm vụ trên đòi hỏi mỗi nhà trường cần có sự đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc trong công tác quản lý, chỉ đạo, trong đó có đổi mới công tác giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường. Đổi mới công tác giảng dạy nó bao gồm cả đổi mới phương pháp giảng dạy chính khóa và đổi mới HĐGDNGLL. Nghị quyết TƯ II của Ban chấp hành Trung ương khoá VIII cũng đã ghi rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện hình thành nếp tư duy sáng tạo của người học, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân...” Điều 2 Luật Giáo dục (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2009 đã ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp,…; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội (2001 2010) của nước ta, nêu rõ; “ Bồi dưỡng
Trang 1I.ĐẶT VẤN ĐỀ.
I.1.Lí do chọn đề tài:
Từ trước đến nay chúng ta vẫn quan niệm hoạt động giáo dục là quá trình giảng dạytrên lớp là quá trình cho và nhận tri thức Dạy học có nghĩa là truyền thụ và tiếp nhận kiếnthức Tuy nhiên đó là quan niệm chưa đúng và chưa đầy đủ vì chúng ta bỏ quên đi hoặcvẫn xem nhẹ mảng HĐGDNGLL Chúng ta biết rằng quá trình hoạt động sư phạm nó bao
gồm hai quá trình; quá trình dạy học trên lớp và quá trình HDGDNGLL
Theo quyết định số 16/2006/ QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộtrưởng Giáo dục và đào tạo ban hành khung chương trình giáo dục phổ thông thì qui địnhrất rõ số tiết HĐGDNGLL ở cấp Tiểu học, THCS, THPT là 4 tiết/ 1 tháng Tại chương IIđiều 26 của Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo ban hành điều lệ trường THPT và trường trung học có nhiều cấp học cũng
đã qui định:
“Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động”
Như vậy từ các văn bản chỉ đạo thực hiện trên thì chúng ta thấy HĐGDNGLL hoạtđộng bắt buộc ở các trường học trong hệ thống giáo dục Việt Nam
Năm học 2016 - 2017 cũng là năm học đầu tiên toàn ngành Giáo dục và Đào tạotiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, tiếp tục
triển khai thực hiện Chương trình hành động đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Để thực hiện được nhiệm vụ trênđòi hỏi mỗi nhà trường cần có sự đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc trong công tác quản lý, chỉđạo, trong đó có đổi mới công tác giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trongcác nhà trường Đổi mới công tác giảng dạy nó bao gồm cả đổi mới phương pháp giảngdạy chính khóa và đổi mới HĐGDNGLL Nghị quyết TƯ II của Ban chấp hành Trung
Trang 2ương khoá VIII cũng đã ghi rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện hình thành nếp tư duy sáng tạo của người học, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân ”
Điều 2 Luật Giáo dục (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2009 đã ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp,…; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2001- 2010) của nước ta, nêu rõ; “ Bồi dưỡng
thế hệ trẻ tinh thần yêu nước,…, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ.”
Trong thời gian gần đây, nhiều trường THPT trong tỉnh Đăk Lăk trong đó có trườngTHPT Trường Chinh, tiết HĐGDNGLL đã được đưa vào chương trình chính khóa theochương trình đổi mới của bậc học phổ thông Cùng với những tri thức từ các bộ môn khoahọc khác, HĐGDNGLL không chỉ giúp HS có thêm kỹ năng sống mà còn tạo điều kiệncác em hoàn thiện nhân cách con người mới Tuy nhiên trong qúa trình thực hiện vẫn còntồn tại một số hạn chế nhất định như việc triển khai thiếu tính hệ thống và chưa khai tháchết tiềm năng của cán bộ quản lý (CBQL), GV, HS và các lực lượng GD khác, điều kiệnCSVC – tài chính chưa đảm bảo nội dung hoạt động ít thay đổi, hình thức hoạt độngthiếu đa dạng, dễ gây sự nhàm chán trong hoạt động của HS, không hấp dẫn thu hút được
sự tham gia của đông đảo HS, không tạo được sân chơi lành mạnh, sinh động, dẫn đếnhiệu quả GD thấp
Từ thực tế nêu trên chúng tôi rất trăn trở trước thực trạng tổ chức các tiết họcHĐGDNGLL hiện nay ở trường THPT Trường Chinh tỉnh Đăk Lăk nói riêng và của các
trường THPT địa bàn nói chung, đã thúc đẩy tôi chọn và nghiên cứu đề tài : “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các tiết Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT ”
I.2 Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu :
Trang 3Nhằm đưa ra một số giải pháp, biện pháp giúp lãnh đạo nhà trường, GVCN tổ chứctốt các tiết HĐNGLL trong trường THPT hiện nay.
Nhằm đưa ra một số giải pháp tham khảo cho các đồng chí hiện đang giữ chức vụ là
Ủy viên BTV, Ủy viên BCH Đoàn trường, Bí thư các chi Đoàn ở trường Trung học phổthông tổ chức tốt các tiết học HĐNGLL
Giúp GVCN có kế hoạch và phương hướng HĐGDNGLL đạt hiệu quả cao Gópphần nâng cao kết quả học tập của học sinh thúc đẩy phong trào học tập, rèn luyện của họcsinh
Trên cơ sở thực tiễn dạy học và làm công tác Đoàn với cương vị là Bí thư Đoàntrường nhiều năm chúng tôi có cái nhìn nhận tổng quát, cụ thể nhất về thực trạng vấn đề
HĐNGLL ở trường THPT Trường Chinh - Đắk Lắk ngày càng được tốt hơn Từ đó đưa
vào ứng dụng trong quá trình dạy học và công tác Đoàn trong các năm học tiếp theo
I.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
CBQL, GV và Học sinh trường THPT Trường Chinh
Đoàn trường THPT Trường Chinh
I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Thực trạng về việc thực hiện HĐNGLL ở trường THPT Trường Chinh Thời giannghiên cứu từ năm 2012 đến 2016
I.5 Phương pháp nghiên cứu :
Phương pháp thống kê: khảo sát thống kê các đối tượng học sinh, giáo viên Chủ
nhiệm, CBQL trường học thông qua các tiết HĐNGLL
Phương pháp phân tích, so sánh: tìm ra cách tổ chức HĐNGLL nào là tốt nhất, so
sánh với các đơn vị bạn
Phương pháp tổng hợp khái quát: rút ra được những nhận xét khoa học và kết luận
có có giá trị thực tiễn từ những vấn đề đã nghiên cứu
Trang 4II PHẦN NỘI DUNG II.1 Cơ sở lý luận của vấn đề:
II.1.1 Cơ cở pháp lí việc thực hiện HĐGDNGLL ở trường THPT.
Việc nghiên cứu HĐGDNGLL ở trường THPT chúng tôi căn cứ vào một số văn bảnsau:
Quyết định số 16/2006/ QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởngGiáo dục và đào tạo ban hành khung chương trình giáo dục phổ thông trong đó qui định sốtiết HĐGDNGLL ở cấp Tiểu học, THCS, THPT là 4 tiết/ 1 tháng
Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục vàĐào tạo ban hành điều lệ trường THPT và trường trung học có nhiều cấp học
Công văn số 1283/SGDĐT-VP ngày 13/9/2016 của Sở Giáo dục và đào tạo tỉnhĐắk Lắk về phương hướng, nhiệm vụ và một số giải pháp cơ bản của ngành giáo dục vàđào tạo năm học 2016-2017
Nghị quyết số 12/2008/NQLT-BGĐT – TWĐTNCSHCM giữa Bộ Giáo dục và đào
tạo với TƯ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về “Tăng cường công tác giáo dục toàn diện, học
sinh, sinh viên và xây dựng tổ chức Đoàn, Hội, Đội trong nhà trường giai đoạn 2008 – 2012”
II.1.2 Hoạt động GDNGLL là gì?
II 1.2.1 Khái niệm HĐGDNGLL: Như đã biết, quá trình GD và quá trình dạy
học là những bộ phận của quá trình sư phạm toàn diện, thống nhất
Trong quá trình dạy học, ngoài việc truyền thụ cho học sinh những tri thức khoa họcmột cách có hệ thống, còn phải luôn mang lại hiệu quả GD, tức là GD nhân cách cho HSthông qua nội dung các môn học và tạo điều kiện cho toàn bộ quá trình GD đạt được hiệuquả cao
Trong quá trình GD, ngoài việc hình thành cho HS thái độ đúng đắn, các hành vi vàcác thói quen tốt, các kỹ năng hoạt động và ứng xử trong các mối quan hệ về xã hội, chínhtrị, đạo đức, pháp luật , còn phải tạo cơ sở để các em có thể bổ sung và hoàn thiện kiến
thức đã học trong quá trình dạy học Vậy HĐGDNGLL là gì?
Có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về HĐGDNGLL và nhìn chung các khái niệm cónhiều điểm tương đồng nhau:
Trang 5- Theo T.A.Ilina: Công tác giáo dục học sinh ngoài giờ học thường được coi là
công tác giáo dục ngoại khóa Công tác này, bổ sung và làm sâu thêm công tác giáo dục nội khóa, trước tiên là phương tiện để phát hiện đầy đủ tài năng và năng lực của trẻ em, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của học sinh đối với một hoạt động nào đó; đó là một hình thức tổ chức giải trí của học sinh và là cơ sở để tổ chức việc thực tập về hành vi đạo đức, để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này
- Tác giả Đặng Vũ Hoạt quan niệm: “Hoạt động GDNGLL là việc tổ chức giáo dục
thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học-kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí , để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách.”
Từ các định nghĩa trên, có thể thấy rằng: HĐGDNGLL là hoạt động GD được tổ
chức ngoài thời gian học trên lớp Đây là một trong hai hoạt động cơ bản, được thực hiện một cách có tổ chức, có mục đích theo kế hoạch của nhà trường; hoạt động tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động học tập trên lớp, nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của xã hội đối với thế hệ trẻ
HĐGDNGLL do nhà trường tổ chức và quản lý với sự tham gia của các lực lượng
xã hội Nó được tiến hành tiếp nối hoặc xen kẽ hoạt động dạy - học trong phạm vi nhàtrường hoặc trong cộng đồng Hoạt động này diễn ra trong cả năm học và cả thời gian nghỉ
hè để khép kín quá trình sư phạm, làm cho quá trình này được thực hiện ở mọi nơi mọi lúc
II.1.2.2 Mục tiêu, vai trò, vị trí, ý nghĩa của HĐGDNGLL:
* Mục tiêu: HĐGDNGLL ở trường THPT nhằm các mục tiêu sau :
+ Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống tốt của dân tộc, biết tiếp thu nhữnggiá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại; củng cố mở rộng kiến thức đã học trên lớp, có ýthức trách nhiệm đối với bản thân và xã hội, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp tương lai chobản thân
+ Củng cố vững chắc các kỹ năng cơ bản đã được rèn luyện từ THCS để trên cơ sở
đó tiếp tục phát triển các năng lực chủ yếu như: năng lực tự hoàn thiện, năng lực giao tiếpứng xử, năng lực thích ứng, năng lực hoạt động chính trị xã hội, năng lực tổ chức quản lý,năng lực hợp tác và cạnh tranh lành mạnh , có lối sống phù hợp với các giá trị xã hội
Trang 6+ Bồi dưỡng nhân sinh quan, thế giới quan khoa học để từ đó có thái độ đúng đắntrước những vấn đề của cuộc sống; biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân và đấutranh tích cực với những biểu hiện sai trái của người khác; có hứng thú và nhu cầu thamgia các hoạt động chung; tích cực chủ động và linh hoạt trong các họat động tập thể; biếtcảm thụ và đánh giá cái đẹp trong cuộc sống.
* Vai trò, vị trí, ý nghĩa của HĐGDNGLL ở trường THPT:
HĐGDNGLL là một bộ phận gắn bó hữu cơ, thống nhất và toàn diện của quá trình
sư phạm ở nhà trường phổ thông nói chung và trường THPT nói riêng; là điều kiện thuậnlợi để HS phát huy vai trò chủ thể của mình trong hoạt động, nâng cao được tính tích cựchoạt động, qua đó rèn luyện những nét nhân cách của con người mới phát triển toàn diện.(xem bảng 1)
Bảng.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa 2 hoạt động GD trong quá trình sư phạm
HĐGDNGLL là điều kiện tốt nhất để HS phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủđộng của các em trong quá trình học tập, rèn luyện toàn diện HĐGDNGLL vừa củng cố,
mở rộng kiến thức đã học, vừa phát triển các kỹ năng sống cơ bản của HS theo mục tiêu
GD ở THPT Mặt khác, HĐGDNGLL thu hút và phát huy tiềm năng của các lực lượng
Vì vậy, việc nhà trường tổ chức các HĐGDNGLL với những hình thức đa dạng cóvai trò tổ chức định hướng của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có vị trí rất quan trọng đối với
HS lứa tuổi này Đây là những hoạt động không thể thiếu, có tác dụng thiết thực đối vớiviệc hình thành và phát triển nhân cách các em
II.2 Thực trạng của vấn đề :
II.2.1 Những thuận lợi – khó khăn
2.1.1 Khái quát chung về nhà trường.
QUÁ TRÌNH SƯ PHẠM
HĐ DẠY VÀ HỌC TRÊN
LỚP
NHÂN CÁCH - SỨC LĐ PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
HĐ GDNGLL
Trang 7Trường THPT Trường Chinh được thành lập vào ngày 25 tháng 8 năm 2008 theoQuyết định số 2203/2008/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Lắk Trường đóng trên địa bànthôn 2 xã Dliê Yang huyện EaH’leo tỉnh Đắk Lắk Phía Đông giáp với xã Chư Bãh thị xãAyunpa tỉnh Gia Lai và Huyện Krông Năng, phía Tây giáp với xã EaH’leo huyện EaH’leo,phía Nam giáp với xã Dliê Yang huyện EaH’leo, phía bắc giáp với xã EaH’leo huyện EaH’leo Trường ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu về việc học tập của con em 3 xã cánh Đôngcủa huyện EaH’leo Đây là một trong số những ngôi trường còn hết sức non trẻ, khó khănnhất của ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Đắk Lắk
đã trở thành truyền thống của nhà trường được các thế hệ học sinh hưởng ứng tham gianhiệt tình
Đội ngũ giáo Đoàn viên giáo viên trẻ khỏe, nhiệt tình với công tác nhất là các hoạt
động tập thể (Độ tuổi trung bình 28,6 tuổi.)
2.1.3 Khó khăn:
Trường THPT Trường Chinh ở xa khu dân cư, xa chính quyền địa phương 3 xãEaSol, Eahiao, Dliê Yang (trung bình cách trung tâm 3 xã khoảng 7 Km, cách trung tâm
huyện 10 Km) một trường có dân cư gồm nhiều thành phần, nhiều dân tộc ở khắp mọi
miền đến đây lập nghiệp Tỷ lệ HS người dân tộc của nhà trường luôn ở mức từ 40% trởlên Người dân ở đây chủ yếu làm nghề nông, chỉ có một số ít là người cán bộ công nhân
Trang 8viên nhà nước và tiểu thương nên điều kiện kinh tế của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.
Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo lớn Chính vì những điều kiện khó khăn trên nên đa số phụhuynh chưa thật sự quan tâm đến việc học tập – vui chơi của con em mình
Trường có nhiều em học sinh nhà ở cách xa trường, ở xã khác tới học như; Thôn 9
xã Eahiao cách trường 30km, Buôn Cham xã EaSol cách trường 20 km Đặc biệt từ 5 nămhọc gần đây trường tiếp nhận những học sinh các xã khác trên địa bàn huyện về học tậpnhư xã CưAmung, Eawi, Eatir cách trường 40 km nên ánh hưởng rất lớn đến việc học tậpcủa con em và các hoạt động Đoàn trong đó có HDGDNGLL
Tình hình an ninh trật tự từ khi mới thành lập hết sức phức tạp Do điều kiện trường
ở xã khu dân cư, xa chính quyền địa phương 3 xã EaSol, Eahiao, Dliê yang (trung bìnhcách trung tâm 3 xã khoảng 7 Km, cách trung tâm huyện 10 Km) nên nơi đây trở thành nơi
tụ tập cho một bộ phận thanh niên hư hỏng ra uống rượu, quậy phá đánh nhau
Đoàn trường là một trong những đơn vị non trẻ mới được thành lập là một trong 5Đoàn trường khối trường học trực thuộc huyện Đoàn EaH’leo thành lập sau nhất (tháng 8năm 2008)
II.2.2 Thực trạng vấn đề HĐGDLL hiện nay ở trường THPT Trường Chinh.
II.2.2.1 Thực trạng về sử dụng CSVC – TBDH, huy động các nguồn kinh phí phục
vụ cho HĐGDNGLL.
CSVC – TBDH: (gồm: phòng học, phòng bộ môn, hội trường, phong màn, âm
thanh, ánh sáng, máy phô tô, vi tính xách tay, đèn chiếu, đàn Orcgan, phòng nghe nhìn,phòng đa chức năng, sân chơi bãi tập,, sân vận động, sân khấu, dụng cụ và các thiết chếTD-TT, các băng đĩa hình, đầu máy Karaoke, nối mạng Internet, thư viện điện tử, báo tạpchí GD…), để phục vụ cho HĐGDNGLL
Trang 9Bảng 2: Thống kê trang thiết bị cơ sở vật chất.
Khảo sát ý kiên CB-GV về CSVC cơ đáp ứng được yêu cầu thực tế HDGDNGLLkhông? Qua số liệu thống kê được hỏi 65 CB-GV, cho thấy:
+ Có khá đầy đủ, đáp ứng rất tốt yêu cầu: 85%.
+ Đầy đủ, đáp ứng được yêu cầu: 5%.
+ Còn thiếu nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu: 5%.
+ Thiếu trầm trọng, bất cập: 5%
Như vậy, nói chung CSVC - TBDH tương đối đầy đủ đáp ứng nhu cầu tổ chức cácHĐGDNGL
- Về huy động, sử dụng các nguồn kinh phí cho HĐGDNGLL, có 65 ý kiến của
CB-GV được hỏi, tỷ lệ tập trung như sau:
+ Từ ngân sách chi thường xuyên của nhà nước: 35%.
+ Từ quỹ hỗ trợ xã hội hóa, tài trợ 11%
+ Từ hỗ trợ của quỹ Hội Cha mẹ HS: 2%.
+ Từ quỹ phúc lợi của Công đoàn trường: 2%.
+ Từ quỹ hoạt động của Đoàn trường: 50%.
Như vậy, tỷ lệ các nguồn kinh phí huy động cho HĐGDNGLL chủ yếu vẫn chỉ tậptrung vào nguồn ngân sách nhà nước và quỹ Đoàn trường, nhưng vẫn ở mức thấp Còn lạicác nguồn huy động khác quá thấp, còn thiếu thốn, chưa ngang hàng so với yêu cầu đòi hỏicủa thực tế đặt ra
II.2.2.2 Nhận thức về HDGDNGLL.
a, Đối với CBQL và giáo viên:
Trang 10Đa số nhận thức ở CB-GV nhà trường vẫn chưa xem trọng về hoạt động GDNGLLxem hoạt động này là hoạt động sau hoạt động dạy học chính khóa là hoạt động phong tràodành cho Đoàn TN tổ chức chỉ là hoạt động vui chơi, giải trí.
Kết quả khảo sát như sau:
Bảng: 3: Nhận thức về vị trí HĐGDNGLL của CBQL và GV Nhận xét: Có đến 69% CBQL-GV nhận thức HĐGDNGLL đứng ở vị trí ở sau hoạt
động dạy - học Như vậy họ chỉ biết ưu tiên quan tâm đầu tư cho công tác chuyên môn dạy
- học thuần túy trên lớp đã duy trì ổn định từ nhiều năm qua, đáp ứng yêu cầu thi cử trướcmắt Điều này chứng tỏ hầu hết CBQL-GV đều có nhận thức bước đầu chưa đầy đủ về vị
trí hoạt động này Đặc biệt với con số 07,69% CBQL-GV chưa xác định đúng vị trí của
hoạt động Tất cả đó, thể hiện phần nào đó về mặt nhận thức của CBGV còn mơ hồ về mụctiêu GD toàn diện, thực hiện đổi mới chương trình GD phổ thông nói chung và vai trò vị trícủa các hoạt động GD nói riêng, trong đó có HĐGDNGLL đến việc hình thành nhân cáchtoàn vẹn HS Thực trạng này đặt ra cho ngành GD, cho các nhà trường phổ thông, choCBQL phải tăng cường nâng cao hơn nữa công tác tuyên truyền, GD nhận thức về hoạtđộng này, để trả lại đúng vị trí của nó
b, Đối với học sinh:
Đa số HS trường chúng tôi thì thích các loại hình hoạt động GDNGLL như: Vănhóa, văn nghệ, TDTT Các nội dung hoạt động tập trung sự chú ý của HS là: Thanh niênvới vấn đề lập thân, lập nghiệp; HS với truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng,bảo vệ di sản văn hóa; những vấn đề có tính nhân loại toàn cầu (nhân đạo, bệnh tật, đóinghèo…)… (xem bảng 4)
Chúng tôi đã khảo sát 100 em học sinh của 3 khối lớp 10, 11, 12 trong các năm học
2012 đến 2016 với kết quả như sau:
Rất thích Không thích
Trang 111 Hoạt động tìm hiểu, ứng dụng, sáng tạo khoa học kỹ thuật 45 55
5 Truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng, bảo vệ di sản
6 Những vấn đề có tính nhân loại như: bệnh tật, đói nghèo, dân
Bảng: 4: Nhận thức của HS về loại hình và nội dung HĐGDNGLL
Các loại hình và nội dung hoạt động HS không thích thú khi tham gia là: hoạt động
xã hội - chính trị; hoạt động xây dựng và bảo vệ môi trường; hoạt động lao động và hướngnghiệp; lẽ sống của thanh niên trong giai đoạn CNH - HĐH; nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ
tổ quốc; tình bạn, tình yêu, hôn nhân gia đình…các hoạt động tìm hiểu ứng dụng sáng tạokhoa học kỹ thuật; hoạt động theo hứng thú khoa học kỹ thuật, nghệ thuật Nguyên nhân
có nhiều nhưng do trình độ học sinh yếu so với vùng, miền khác
+ Lúng túng trong cách thức và phương pháp tổ chức hoạt động chiếm 42%;
+ Năng lực hoạt động tập thể, khả năng thao tác, điều hành làm MC (dẫn chươngtrình) qúa kém chiếm 35%
HS chỉ nhận thức được những hoạt động có hình thức, nội dung mang tính phongtrào, bề nổi gắn liền với tâm lý lứa tuổi và nhà trường thường tổ chức như hoạt động vănhóa, văn nghệ; TD - TT; giao lưu dã ngoại…Đặc biệt các em nhận thức rất đúng về nhữngkhó khăn gặp phải khi tham gia tiết sinh hoạt HĐGDNGLL trong thực tế, thuộc về phươngthức, kỹ năng, năng lực hoạt động tập thể Tất cả đó, giúp chúng ta có căn cứ suy nghĩ và
đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức về năng lực hoạt động tập thể cho HS
II.2.2.3, Các nguyên nhân thành công và những yếu tố tác động đến những hạn chế.
a Nguyên nhân thành công:
Hoạt động GDNGLL là một hoạt động nằm trong hoạt động dạy học nói chung ởtrong các nhà trường được qui định rõ trong Quyết định số 16/2006/ QĐ-BGDĐT ngày 05
Trang 12tháng 5 năm 2006 của bộ trưởng bộ Giáo dục và đào tạo ban hành khung chương trình giáodục phổ thông Trong những năm học vừa qua HĐGDNGLL của trường THPT TrườngChinh đã đạt được nhiều thành tích góp phần rất lớn vào việc đổi mới phương dạy - họcmới trong những thành công đó chúng tôi nhận thấy có một số nguyên nhân sau:
Được sự ủng hộ của các cấp lãnh đạo; Chi bộ, BGH, các tổ chức đoàn thể trong nhàtrường
Sự phối hợp tốt giữa Đoàn trường với Công đoàn các tổ chức đoàn thể trong nhàtrường là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc tổ chức các HĐGDNGLL
Điều kiện CSVC- tài chính đủ và đầy đủ là yếu tố hàng đầu trong việc thành côngcủa các HĐGDNGLL
Sự cố gắng nỗ lực làm việc, gương mẫu của người đứng đầu tổ chức Đoàn trườngvới vai trò người đứng đầu là Bí thư Đoàn trường (trước đây là đ/c Trần Kiên nay là đ/cTrần Đình Thao)
Luôn luôn lắng nghe và học hỏi từ những mô hình, hoạt động hay của các Đoàntrường bạn đặc biệt là Đoàn các trường THPT ( tham gia giao ban khối các trường học củahuyện Đoàn 2 tháng 1 lần )
b Các yếu tố tác động đến những hạn chế
Trình độ dân trí và trình độ nhận thức của phụ huynh học sinh về học tập nói chung
và về công tác Đoàn nói riêng còn có nhiều hạn chế; tỷ lệ học sinh dân tộc cao; bình quân
tỷ lệ theo năm học là trên 40%)
Trường mới thành lập nên đội ngũ CBQL, GV, cán bộ Đoàn còn non kinh nhiệm.Đoàn viên học sinh đa số con em nông dân cho nên rất hạn chế khi tham gia cáchoạt động Đoàn
II.2.3 Phân tích, đánh giá chung về về thực trạng công tác HĐGDNGLL ở trường THPT Trường Chinh trong những năm qua.
Từ những phân tích trên chúng ta thấy được trường THPT Trường Chinh tuy mớithành lập 8 năm và đang bước vào năm thứ 9 nhưng đã có những thành công nhất định.Trong những thành công đó có các HĐGDNGLL Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tạinhiều vấn đề mà chúng tôi đã đề cập ở trên
Trang 13Chúng ta thấy được thành công lớn nhất của các HĐGDNGLL ở trường THPTTrường Chinh chính là các hoạt động phong trào Các hoạt động đó đã tạo ra được nhữngsân chơi lành mạnh bổ ích góp phần ngăn chặn và hạn chế được các tệ nạn xã hội như: matúy, vi phạm ATGT, nghiện games online, bạo lực học đường, … Hiện nay trên các trangmạng xã hội trực tuyến không hiếm tình trạng học sinh vi phạm về đạo đức lối sống, savào các tệ nạn xã hội,… nhưng đối với học sinh trường THPT Trường Chinh thì tình trạng
Để quản lí HS thật tốt trong các HĐGDNGLL thì công tác kỷ luật cần phải đề cao
Kỷ luật nghiêm minh các trường hợp vi phạm để mang tính răn đe và làm gương Trongcác năm học vừa qua Hội đồng kỷ luật nhà trường trung bình đã xử lí và kỷ luật trong mộtnăm từ 8 đến 10 trường hợp Đoàn viên học sinh
Công tác thi đua khen thưởng cần phải kịp thời mang tính động viên tinh thần cao
Kết thúc các hoạt động cần phải khen thưởng ngay không để trôi theo thời gian vì như vậy
học sinh nhanh quên và các hoạt động không mang lại hiệu quả
Bên cạnh những thành công, những mặt tốt, những cái làm được thì chúng tôi cũngnhận thấy còn rất nhiều hạn chế mà một trong những hạn chế lớn nhất là trình độ học tậpcủa học sinh còn yếu – kém nhiều, một số phong trào còn hạn chế làm theo thời vụ, kỹnăng HĐGDNGLL của CB, GV-HS nhiều hạn chế …
Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chưa đi sâu vào vấn đề tăng cường chất lượnghọc tập chính khóa của HS mà chúng tôi chỉ nói đến vấn đề một số giải pháp quản lí nhằm
Trang 14nâng cao chất lượng việc thực hiện các tiết HĐGDNGLL ở trường THPT Trường Chinhtrong những năm học vừa qua.
III.3 Các giải pháp và biện pháp thực hiện.
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác HĐGDNGLL tại trường THPT TrườngChinh trong 4 năm học vừa qua (2012-2016) dựa vào các yếu tố: Cơ sở vật chất-Tài chính,nhận thức của giáo viên, nhận thức của học sinh chúng tôi đưa ra các nhóm giải pháp sauđây:
3.1 Xây dựng BCĐ HĐGDNGLL cấp trường
3.1.1 Mục tiêu của biện pháp:
Xác định BCĐ là là đầu tàu đặc thù, nhằm giúp cho lãnh đạo nhà trường chỉ đạo tốt
kế hoạch thực hiện chương trình HĐGDNGLL của nhà trường, kiểm tra đánh giá đượchoạt động BCĐ là cầu nối tạo sự phối hợp, cộng tác chặt chẽ nhịp nhàng giữa các tổchức, hội đoàn thể, bộ phận chức năng, trong nhà trường và các lực lượng GD khác đượcthông suốt, ổn định, phân bố thời gian hợp lý, tránh các hoạt động GD diễn ra trong nhàtrường chồng chéo, trùng lắp, cản trở lẫn nhau
3.1.2 Nội dung và cách thức thực hiện.
Qua khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng ở phần II, chúng tôi thấy còn rất nhiềucán bộ, giáo viên chưa còn coi nhẹ HĐGDNGLL nên trong các hoạt động chưa thành lậpBCĐ HĐGDNGLL, việc chỉ đạo chủ yếu là giao cho cán bộ Đoàn phụ trách nên hiệu quảchỉ đạo điều hành thấp
Vậy để nâng cao chất lượng quản lý các HĐGDNGLL, trước tiên nhà trường cần tổchức, củng cố, kiện toàn lại BCĐ hoạt động như sau:
Tùy theo hoạt động và chủ điểm Hiệu trưởng ra quyết định thành lập BCĐ và hìnhthành các tiểu ban phụ trách, bổ sung, kiện toàn các thành viên hàng năm vào đầu năm học
Trang 15+ Các thành viên:
Đại diện cấp ủy Chi bộ (Đảng bộ); Chủ tịch Công đoàn; Phó Bí thư Đoàn trường;
Kế toán- tài vụ; Y tế học đường; Tổ trưởng giám thị, GVCN các lớp, GVBM có năng lựctrong các lĩnh vực hoạt động…
BCĐ HĐGDNGLL sẽ trực tiếp chỉ đạo 3 tiểu ban ứng với 3 nhiệm vụ hoạt độngsau:
a Tiểu ban Các HĐ Văn-Thể -Mỹ - Trò chơi:
Chịu trách nhiệm tổ chức các sinh hoạt Văn nghệ, TD -TT, GD thẩm mỹ Tổ chứccác câu lạc bộ: văn thơ, võ thuật, ngoại ngữ, khoa học, hoá trang, giao lưu kết nghĩa, thihùng biện, tư vấn tình bạn, tình yêu…
b Tiểu ban nề nếp, nghi lễ, thi đua – khen thưởng, kỷ luật:
Theo dõi thi đua nề nếp sinh hoạt GV, HS, tập thể lớp Điều động CSVC, nhân sự,trang trí… Đánh giá thi đua khen thưởng – kỷ luật trong và sau các hoạt động
c Tiểu ban tài chính – hậu cần:
Làm nhiệm vụ xã hội hoá GD, huy động nguồn thu tài lực - vật lực của nhà trường
và cộng đồng để đảm bảo kinh phí tổ chức các hoạt động
Đây là mô hình đề xuất, số lượng các tiểu ban còn tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thểcủa từng nhà trường quyết định Điều quan trọng là chọn được các trưởng tiểu ban lànhững người có năng lực và có tâm huyết với nghề
Sau khi đã thành lập hoặc củng cố, kiện toàn BCĐ, điều quan trọng là phân côngnhiệm vụ cụ thể cho các thành viên của ban và sự phối hợp chặt chẽ các hoạt động giữacác tiểu ban
3.1.3 Yêu cầu để thực hiện tốt biện pháp này thì BCĐ phải:
- Duy trì đều đặn chế độ giao ban hai tháng một lần để đánh giá kết quả các hoạtđộng đã thực hiện và cụ thể hoá kế hoạch chỉ đạo hoạt động chủ điểm các tháng tiếp theo.Kịp thời rút kinh nghiệm những mặt chưa tốt và triển khai phát huy những mặt tích cực
- Xây dựng kế hoạch chỉ đạo cụ thể các chủ điểm hoạt động hàng tháng cho trưởngcác tiểu ban và GVCN các khối lớp cho tháng sau
- Có kế hoạch bồi dưỡng năng lực đội ngũ GV và BCĐ HĐGDNGLL bên cạnh cáchoạt động bồi dưỡng khác
Trang 16- Nhà trường hết sức chú ý quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ về CSVC, kinh phí, quĩthời gian và không gian để ban này có môi trường hoạt động tốt.
3.2 Phát huy vai trò tham mưu Đoàn Thanh niên để nâng cao hiệu quả HĐGDNGLL.
3.2.1 Mục tiêu của biện pháp:
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (Đoàn TNCS HCM) là một tổ chức chínhtrị, đội quân dự bị, cánh tay đắc lực của Đảng Đoàn là nơi tập hợp tầng lớp thanh niên tiên
tiến, với sức trẻ, lòng nhiệt huyết, là tầng lớp “dám nghĩ, dám làm” của xã hội Chúng ta cũng thường nói : “Nơi nào cần thanh niên có, nơi nào khó có thanh niên” Lực lượng
Đoàn viên, thanh niên Việt Nam ngày càng thể hiện rõ vai trò, tính chất trẻ của mình.Đoàn TNCS HCM trong trường THPT là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của thanhniên HS, là thủ lĩnh các hoạt động sôi nổi của tuổi trẻ học đường mang ý nghĩa GD cao,bên cạnh nhiệm vụ tuyên truyền GD chính trị tư tưởng Hoạt động của Đoàn diễn ra chủyếu ngoài giờ học trên lớp, vì vậy Đoàn là lực lượng nòng cốt phối hợp với nhà trườngtrong tổ chức các HĐGDNGLL
Đoàn trường THPT Trường Chinh trong những năm học vừa qua là Đoàn trườngvững mạnh cấp tỉnh được TƯ Đoàn và tỉnh Đoàn Đăk Lăk tặng bằng khen nhiều lần.Trongthực tiễn, trường nào tổ chức Đoàn hoạt động vững mạnh thì nơi đó các hoạt động GD tậpthể, phong trào, các HĐGDNGLL bắt buộc và tự chọn cũng diễn ra sôi nổi suốt trong nămhọc và ngược lại tổ chức Đoàn yếu – kém thì công tác HĐGDNGLL cũng không thể triểnkhai được một cách nhanh chóng và thành công
3.2.2 Nội dung và cách thức thực hiện:
Phải xác định rõ nhiệm vụ của Đoàn Thanh niên trong việc phối hợp tổ chứcHĐGDNGLL cho HS Các nhiệm vụ thực hiện phối hợp cụ thể là:
- Thường xuyên tổ chức GD nâng cao nhận thức tư tưởng, vận động, thuyếtphục, tuyên truyền, làm gương, nêu gương tốt trước HS
- Lập kế hoạch, chương trình các HĐGDNGLL để tham mưu cho BCĐ
- Tổ chức thực hiện các kế hoạch đề ra
- Kiểm tra giám sát, đánh giá kết quả thực hiện
- Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng hoạt động tập thể