1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong dạy học môn Địa lí ở trường phổ thông, có rất nhiều kĩ năng cần hình thành và rèn luyện cho HS. Với đặc trưng của bộ môn Địa lí là kĩ năng biểu đồ và nhận xét số liệu thống kê có ý nghĩa hết sức quan trọng. Mặc dù vậy, thực tế hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà kĩ năng biểu đồ, nhận xét số liệu thống kê cũng như một số kĩ năng khác ở HS chưa thực sự tốt.Đất nước ta đang hướng đến mục tiêu năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp, để thực hiện được mục tiêu đónguồn lực con người là quan trọng. Trong quá trình thực hiện mục tiêu đó giáo dục được coi là quốc sách để đào tạo những con người toàn diện, có phẩm chất năng lực, tri thức, kĩ năng. Để thực hiện được yêu cầu trên người giáo viên ngoài việc trang bị cho học sinh kiến thức cần phải có phương pháp rèn luyện cho các em về kĩ năng, đặc biệt trong giảng dạy bộ môn địa lí việc rèn luyện kĩ năng cho các em là rất cần thiết và quan trọng, trong đó phải kể đến kĩ năng biểu đồ,phân tích bảng số liệu khá cần thiết. Trong quá trình dạy tôi thấy có rất nhiều em còn khá lúng túng, không biết cách vẽ, không xác định được yêu cầu của đề bài, không xác định được biểu đồ cần vẽ, và đặc biệt là phân tích bảng số liệu thống kê các em còn khá yếu trong phần này nên xuất phát từ thực tế .Chính vì lẽ đó, tôi đã chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng biểu đồ, nhận xét số liệu thống kê trong dạy học Địa lí ở Trung học phổ thông” làm sáng kiến kinh nghiệm của mình. Đề tài này của tôi nhằm hệ thống hóa lại những vấn đề cơ bản về lí luận liên quan đến việc rèn luyện kĩ năng quan trọng trong dạy học môn Địa lí ở trường phổ thông đó là: Kĩ năng biểu đồ, nhận xét số liệu thống kê. Từ đó, giúp HS có được kĩ năng biểu đồ, nhận xét số liệu thống kê một cách tốt nhất. 2.MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ Nghiên cứu các cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ cho học sinh THPT giúp cho giáo viên và học sinh có những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và học tập môn Địa lí nói chung , đồng thời củng cố, nâng cao việc rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ cho học sinh nói riêng. Tìm hiểu một số phương pháp rèn luyện kĩ năng vẽ và nhận xét biểu đồ địa lí của giáo viên bộ môn. Tìm hiểu vai trò của giáo viên trong việc rèn luyện kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ địa lí cho học sinh. Giúp chúng ta tìm ra phương pháp vẽ và nhận xét biểu đồ có hiệu quả nhất. Học sinh có kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ, nhận xét bảng số liệu thống kê thành thạo để nắm bắt kiến thức nhanh, có hứng thú say mê môn học. Trên cơ sở đó, đề xuất một số ý kiến góp phần cùng các giáo viên giảng dạy bộ môn Địa Lí trong việc rèn luyện kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ địa lí cho học sinh ở THPT được hiệu qủa hơn. Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực trong quá trình học tập bộ môn Địa Lí trong nhà trường; tạo tiền đề cho việc học tập có suy nghĩ, sáng tạo; tiến đến việc tự nghiên cứu, tự học và biết áp dụng trong thực tiễn cuộc sống. Tránh việc học tủ, ghi chép máy móc, khắc phục những hạn chế trong kết quả học tập môn Địa Lí của học sinh về kỹ năng , kiến thức và quá trình vận dụng thực tiễn. Nghiên cứu đề tài có tính khả thi, hiệu quả và thiết thực, nhằm góp phần nâng cao năng lực giảng dạy học bộ môn Địa Lí. 3.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Rèn luyện kĩ năng biểu đồ , nhận xét số liệu thống kê
Trang 1ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG BIỂU ĐỒ, NHẬN XÉT SỐ LIỆU THỐNG KÊ
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I PHẦN MỞ ĐẦU 1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong dạy học môn Địa lí ở trường phổ thông, có rất nhiều kĩ năng cần hình thành vàrèn luyện cho HS Với đặc trưng của bộ môn Địa lí là kĩ năng biểu đồ và nhận xét số liệuthống kê có ý nghĩa hết sức quan trọng Mặc dù vậy, thực tế hiện nay, do nhiều nguyên nhânkhác nhau mà kĩ năng biểu đồ, nhận xét số liệu thống kê cũng như một số kĩ năng khác ở
HS chưa thực sự tốt.Đất nước ta đang hướng đến mục tiêu năm 2020 cơ bản trở thành nướccông nghiệp, để thực hiện được mục tiêu đónguồn lực con người là quan trọng Trong quátrình thực hiện mục tiêu đó giáo dục được coi là quốc sách để đào tạo những con người toàndiện, có phẩm chất năng lực, tri thức, kĩ năng Để thực hiện được yêu cầu trên người giáoviên ngoài việc trang bị cho học sinh kiến thức cần phải có phương pháp rèn luyện cho các
em về kĩ năng, đặc biệt trong giảng dạy bộ môn địa lí việc rèn luyện kĩ năng cho các em làrất cần thiết và quan trọng, trong đó phải kể đến kĩ năng biểu đồ,phân tích bảng số liệu khácần thiết Trong quá trình dạy tôi thấy có rất nhiều em còn khá lúng túng, không biết cách
vẽ, không xác định được yêu cầu của đề bài, không xác định được biểu đồ cần vẽ, và đặcbiệt là phân tích bảng số liệu thống kê các em còn khá yếu trong phần này nên xuất phát từ
thực tế Chính vì lẽ đó, tôi đã chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng biểu đồ, nhận xét số liệu thống kê trong dạy học Địa lí ở Trung học phổ thông” làm sáng kiến kinh nghiệm của
mình Đề tài này của tôi nhằm hệ thống hóa lại những vấn đề cơ bản về lí luận liên quan đếnviệc rèn luyện kĩ năng quan trọng trong dạy học môn Địa lí ở trường phổ thông đó là: Kĩnăng biểu đồ, nhận xét số liệu thống kê Từ đó, giúp HS có được kĩ năng biểu đồ, nhận xét
số liệu thống kê một cách tốt nhất
2.MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ
- Nghiên cứu các cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ chohọc sinh THPT giúp cho giáo viên và học sinh có những biện pháp nhằm nâng cao chấtlượng, hiệu quả giảng dạy và học tập môn Địa lí nói chung , đồng thời củng cố, nâng caoviệc rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ cho học sinh nói riêng
- Tìm hiểu một số phương pháp rèn luyện kĩ năng vẽ và nhận xét biểu đồ địa lí củagiáo viên bộ môn
Trang 2- Tìm hiểu vai trò của giáo viên trong việc rèn luyện kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồđịa lí cho học sinh.
- Giúp chúng ta tìm ra phương pháp vẽ và nhận xét biểu đồ có hiệu quả nhất
- Học sinh có kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ, nhận xét bảng số liệu thống kê thànhthạo để nắm bắt kiến thức nhanh, có hứng thú say mê môn học
- Trên cơ sở đó, đề xuất một số ý kiến góp phần cùng các giáo viên giảng dạy bộmôn Địa Lí trong việc rèn luyện kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ địa lí cho học sinh ở THPTđược hiệu qủa hơn
- Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực trong quá trình học tập bộ môn Địa Lítrong nhà trường; tạo tiền đề cho việc học tập có suy nghĩ, sáng tạo; tiến đến việc tự nghiêncứu, tự học và biết áp dụng trong thực tiễn cuộc sống
- Tránh việc học tủ, ghi chép máy móc, khắc phục những hạn chế trong kết quả họctập môn Địa Lí của học sinh về kỹ năng , kiến thức và quá trình vận dụng thực tiễn
- Nghiên cứu đề tài có tính khả thi, hiệu quả và thiết thực, nhằm góp phần nâng cao nănglực giảng dạy học bộ môn Địa Lí
3.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Rèn luyện kĩ năng biểu đồ , nhận xét số liệu thống kê của Địa lí trong quá trình dạyhọc Địa lí ở trường THPT Trường Chinh năm học 2015-2017
4 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Áp dụng nghiên cứu tại trường THPT Trường Chinh, tỉnh Đắk Lắk
- Tôi được nhà trường phân công giảng dạy bộ môn Địa Lí ở cả 3 khối 10, 11, 12 :Qua thực tế giảng dạy, qua kinh nghiệm khi nghiên cứu áp dụng vào các tiết dạy tôi thấyhọc sinh xác định và vẽ biểu đồ còn rất hạn chế, nhiều em có khả năng lĩnh hội và vận dụngkiến thức còn chậm dẫn đến việc học tập các môn học nói chung và việc học tập bộ mônĐịa Lí nói riêng còn gặp nhiều khó khăn
- Nên tôi quyết định phạm vi nghiên cứu của đề tài ở cả 3 khối 10, 11, 12 THPT.Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 08 năm 2015 đến tháng 02 năm 2017
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Thu thập, chọn lọc, phân tích và hệ thống hóa các tài liệu cần thiết làm cơ sở cho lýluận
- Tìm hiểu thực trạng học tập của học sinh
- Thực nghiệm sư phạm , kiểm chứng hiệu quả của đề tài
- Đọc sách, tham khảo tài liệu sách và tài liệu vô cùng phong phú trên mạng Internet
Trang 3- Thực tế chuyên đề, thảo luận cùng một số đồng nghiệp.
- Dạy học thực tiễn trên lớp để rút ra kinh nghiệm
- Thông qua học tập bồi dưỡng thường xuyên các chu kỳ
- Thông qua các buổi ôn tập, thực hành, thầy trò cùng nhau phân tích sai lầm và rút
ra kinh nghiệm thực tiễn
Dựa vào kinh nghiệm giảng dạy bộ môn Địa Lí của các giáo viên có kinh nghiệm củatrường trong những năm học trước và vốn kinh nghiệm của bản thân đã rút ra được một sốvấn đề có liên quan đến nội dung của đề tài này
Trong những năm học vừa qua chúng tôi đã quan tâm đến những vấn đề mà học sinhmắc phải Qua những giờ học sinh làm bài tập tại lớp, qua các bài kiểm tra dưới các hìnhthức khác nhau, bước đầu tôi đã nắm được các kết quả của học sinh khi chưa áp dụngphương pháp kiểm tra đánh giá theo định hương năng lực học sinh Sau đó tôi tổng hợp và
so sánh với kết quả mới áp dụng
Trong quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã sử dụng những phương phápsau :
- Thu thập, chọn lọc, phân tích và hệ thống hóa các tài liệu cần thiết làm cơ sở cho lýluận
- Tìm hiểu thực trạng học tập của học sinh
- Thực nghiệm sư phạm , kiểm chứng hiệu quả của đề tài
- Điều tra toàn diện các đối tượng học sinh trong các khối tôi dạy Tìm hiểu tâm lýcủa các em khi học môn Địa Lí, quan điểm của các em khi làm bài thực hành về vẽ biểu đồ,nhận xét bảng số liệu
- Phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục khi áp dụng nội dung đang nghiên cứuvào thực tiễn giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng kết quả học tập của học sinh một cáchkhách quan
Trang 4II NỘI DUNG
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 BIỂU ĐỒ ĐỊA LÍ
1.1.1 Quan niệm:Biểu đồ là một hình vẽ cho phép mô tả một cách dễ dàng, trực quan các
số liệu thống kê phản ánh tiến trình của một hiện tượng, mối tương quan về độ lớn của cácđối tượng hoặc cơ cấu thành phần của một tổng thể, của các sự vật, hiện tượng và quátrình địa lí
1.2 Phân loại biểu đồ
1.2.1 Dựa vào bản chất của biểu đồ:
+ Biểu đồ cơ cấu: biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động của một lãnh thổ, biểu đồ cơ cấuGDP phân theo thành phần kinh tế,…
+ Biểu đồ so sánh: biểu đồ so sánh cơ cấu xuất nhập khẩu
+ Biểu đồ động thái: phản ánh quá trình phát triển và sự biến thiên theo thời gian củacác đối tượng như sự gia tăng dân số qua các thời kì, sự thay đổi của nhiệt độ và lượng mưaqua các tháng trong năm, sự thay đổi về diện tích, sản lượng lúa qua các năm,
+ Biểu đồ quy mô và cơ cấu: biểu đồ cơ cấu diện tích cây công nghiệp lâu năm ở TâyNguyên qua 2 năm khác nhau,
+ Biểu đồ cơ cấu và động thái: biểu đồ thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu theo ngành,biểu đồ cơ cấu xuất nhập khẩu, (qua ít nhất 4 mốc thời gian)
1.2.2 Dựa vào hình thức thể hiện của biểu đồ:
+ Biểu đồ tròn
+ Biểu đồ đường biểu diễn (đồ thị, biểu đồ hình đường, )
+ Biểu đồ cột (cột đơn, nhóm cột, biểu đồ thanh ngang, tháp tuổi, )
+ Biểu đồ miền (biểu đồ miền thể hiện số liệu tuyệt đối, biểu đồ miền thể hiện số liệutương đối)
+ Biểu đồ kết hợp giữa cột và đường
Ngoài ra còn có một số dạng biểu đồ khác, nhưng nhìn chung chúng được phân làm 2 nhómsau:
+ Biểu đồ theo đường hoặc cột: có tọa độ hoặc chiểu cao tỉ lệ với độ lớn của đốitượng
+ Biểu đồ theo diện: hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật, có diện tích tỉ lệ với độlớn của hiện tượng
Trang 51.1.3 Quy trình thành lập biểu đồ (vẽ biểu đồ)
1.1.3.1 Bước 1: Xác định nội dung mà biểu đồ phải thể hiện:
+ Tiến trình phát triển của một hiện tượng hay một số hiện tượng địa lí (gia tăng dân
số, sự thay đổi diện tích và sản lượng lương thực của một lãnh thổ hoặc tốc độ gia tăng củamột số sản phẩm công nghiệp qua các năm, tốc độ tăng trưởng về khối lượng hàng hóa củacác ngành vận tải qua các giai đoạn, )
+ Sự tương quan và so sánh quy mô giữa các đại lượng (diện tích và sản lượng lúagiữa các vùng, sản lượng lương thực và mức bình quân lương thực theo đầu người ở haiđồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, )
+ Cơ cấu của một tổng thể: cơ cấu các ngành trong GDP, cơ cấu dân số theo độtuổi,
+ Cả về tiến trình và tương quan về đại lượng qua các năm: Diện tích gieo trồng vàsản lượng cà phê qua các năm của nước ta,
+ Cả về mối tương quan, cơ cấu và tiến trình của đối tượng: Cơ cấu xuất nhập khẩucủa nước ta qua các năm,
Cơ sở để xác định nội dung biểu đồ cần thể hiện chính là lời dẫn hay yêu cầu của bài
tập, bài thực hành: Vẽ biểu đồ thể hiện
1.1.3.2 Bước 2: Xác định loại biểu đồ cần vẽ Đây là bước rất quan trọng vì nếu xác định
sai loại biểu đồ cần vẽ sẽ kéo theo việc vẽ biểu đồ sai yêu cầu, việc nhận xét sẽ khó có thểhoàn thiện Muốn lựa chọn được loại biểu đồ thích hợp nhất so với yêu cầu của đề bài cầncăn cứ vào một số cơ sở sau:
Khả năng thể hiện của từng loại biểu đồ:
Thực tế trên báo chí hay các tài liệu tham khảo có nhiều loại biểu đồ khác nhaunhưng trong chương trình Địa lí phổ thông cũng như các đề thi trong các kì thi tốt nghiệp,thi cao đẳng, đại học và thi học sinh giỏi các cấp thường yêu cầu HS vẽ một trong số cácloại biểu đồ sau: hình cột, hình tròn, hình đường (đồ thị), hình miền (hoặc diện), biểu đồ kếthợp cột và đường Mỗi loại biểu đồ dùng để thể hiện một hoặc nhiều mục đích khác nhau:
• Biểu đồ hình cột
- Biểu đồ cột đơn: thể hiện rõ qui mô và động thái phát triểncủa một đối tượng địa lí.
- Biểu đồ cột ghép (nhóm cột) có cùng đơn vị tính: thể hiện rõ sự so sánh qui mô và động thái phát triểncủa các đối tượng địa lí.
- Biểu đồ cột ghép (nhóm cột) có các đơn vị tính khác nhau: thể hiện rõ sự so sánh qui mô và động thái phát triểncủa các đối tượng địa lí khác nhau.
Trang 6- Biểu đồ cột chồng vẽ theo số liệu tuyệt đối: thể hiện rõ nhất sự so sánh qui mô của các đối tượng địa lí.
- Biểu đồ cột chồng vẽ theo số liệu tương đối: thể hiện rõ nhất cơ cấu thành phần của một tổng thể.
- Biểu đồ thanh ngang: dạng đặc biệt của biểu đồ cột, không thể hiện cho các đối
tượng theo thời gian
Tóm lại, biểu đồ cột thường dùng để thể hiện động thái phát triển của đối tượng, so sánh
tương quan độ lớn (quy mô) giữa các đối tượng hoặc thể hiện cơ cấu thành phần của một
tổng thể Tuy nhiên, loại biểu đồ này thích hợp nhất trong việc thể hiện sự so sánh tương quan về độ lớn giữa các đối tượng và động thái phát triển của đối tượng
• Biểu đồ theo đường (đồ thị, đường biểu diễn):
- Biểu đồ có 1 hoặc nhiều đường khác nhauvẽ theo giá trị tuyệt đối: thích hợp nhất trong việc thể hiện tình hình, diễn biến của một hay một số đối tượng địa lí qua một chuỗi
thời gian (có số năm nhiều và tương đối liên tục) như: sự thay đổi sản lượng một hoặc một
số loại cây trồng qua các năm, sản lượng lương thực trong một thời kì, sự phát triển về dân
số và sản lượng lúa qua các thời kì
- Biểu đồ có nhiều đường khác nhau vẽ theo giá trị tương đối (%): thích hợp nhất trong việc thể hiện tốcđộ tăng trưởng (tốc độ gia tăng, tốc độ phát triển) của một số đối
tượng địa lí trong mỗi giai đoạn như: diện tích, năng suất và sản lượng lúa, sản lượng củamột số ngành công nghiệp, số lượng gia súc, gia cầm của ngành chăn nuôi, tốc độ tăngtrưởng về khối lượng vận chuyển của các ngành giao thông vận tải,
• Biểu đồ hình tròn (hoặc vuông):
- Biểu đồ hình tròn: có ưu điểm nổi bật trong việc thể hiện cơ cấu của đối tượng của một lãnh thổ tại một hoặc một số mốc thời gian nhất định.
- Biểu đồ các hình tròn có bán kính khác nhau: thích hợp trong việc thể hiện cả sự so sánh về quy mô và cơ cấu của đối tượng ở các địa điểm hoặc thời gian khác nhau.
=>Biểu đồ hình tròn có ưu thế trong việc thể hiện cơ cấu thành phần của một tổng thể, thể hiện sự so sánh về quy mô, cơ cấu thành phần của đối tượng.
Trang 7 Căn cứ vào lời dẫn, bảng số liệu và yêu cầu của bài tập:
* Căn cứ vào lời dẫn và yêu cầu của bài tập:
- Dạng lời dẫn có chỉ định Ví dụ: “Từ bảng số liệu, hãy vẽ biểu đồ hình tròn thể
hiện cơ cấu sử dụng … năm ” Như vậy, ta có thể xác định ngay được biểu đồ cần thể hiện
- Dạng lời dẫn kín Ví dụ: “Cho bảng số liệu sau Hãy vẽ biểu đồ thích hợp nhất
thể hiện… & cho nhận xét)” Như vậy, bảng số liệu không đưa ra một gợi ý nào, muốn xácđịnh được biểu đồ cần vẽ, ta chuyển xuống nghiên cứu các thành phần sau của câu hỏi Vớidạng bài tập có lời dẫn kín thì bao giờ ở phần cuối “trong câu kết” cũng gợi ý cho chúng tanên vẽ biểu đồ gì
- Dạng lời dẫn mở Ví dụ: “Cho bảng số liệu Hãy vẽ biểu đồ sản lượng công
nghiệp nước ta phân theo các vùng kinh tế năm )” Như vậy, trong câu hỏi đã có gợi ýngầm là vẽ một loại biểu đồ nhất định Với dạng “lời dẫn mở” cần chú ý vào một số từ gợi
mở trong câu hỏi, cụ thể:
+ Trong lời dẫn có những từ gợi mở đi kèm như: “tăng trưởng”,“biến động”, “phát triển”, “qua các năm từ đến ” Ví dụ: Tốc độ tăng dân số của nước ta qua các năm ;
Tình hình biến động về sản lượng lương thực ; Tốc độ phát triển của nền kinh tế v.v =>Chọn biểu đồ đường biểu diễn
+ Trong lời dẫn có những từ gợi mở đi kèm như: “khối lượng”, “sản lượng”,“diện tích” từ năm đến năm ”, hay “qua các năm ” Ví dụ: khối lượng hàng hoá vận
chuyển ; sản lượng lương thực của …; diện tích trồng cây công nghiệp => Chọn biểu đồcột
+ Trong lời dẫn có những từ gợi mở đi kèm như: “cơ cấu”, “phân theo”, “trong đó”,“bao gồm”, “chia ra”, “chia theo ” Ví dụ: Giá trị ngành sản lượng công nghiệp phân
theo ; Hàng hoá vận chuyển theo loại đường ; Cơ cấu tổng giá trị xuất - nhập khẩu =>Chọn biểu đồ hình tròn, cột chồng hoặc hình miền vẽ theo giá trị tương đối
* Căn cứ vào bảng số liệu
Việc nghiên cứu đặc điểm của bảng số liệu để chọn vẽ biểu đồ thích hợp, cần lưu ý:
Trang 8- Nếu bảng số liệu đưa ra dãy số liệu: Tỉ lệ (%), hay giá trị tuyệt đối phát triển theomột chuỗi thời gian (có ít nhất là từ 4 thời điểm trở lên) Nên chọn vẽ biểu đồ đường biểudiễn.
- Nếu có dãy số liệu tuyệt đối về qui mô, khối lượng của một (hay nhiều) đối tượngbiến động theo một số thời điểm (hay theo các thời kỳ) Nên chọn biểu đồ hình cột đơn vàcột ghép
- Trong trường hợp có 2 đối tượng với 2 đại lượng khác nhau, nhưng có mối quan hệhữu cơ Ví dụ: diện tích (ha), năng suất (tạ/ha) của một vùng nào đó theo chuỗi thời gian.Chọn biểu đồ kết hợp giữa cột và đường
- Nếu bảng số liệu có từ 3 đối tượng trở lên với các đại lượng khác nhau (tấn, mét,ha ) diễn biến theo thời gian Chọn biểu đồ đường biểu diễn thể hiện tốc độ tăng trưởng(%)
- Trong trường hợp bảng số liệu trình bày theo dạng phân ra từng thành phần Ví dụ:tổng số, chia ra: nông - lâm – ngư; công nghiệp – xây dựng; dịch vụ Với bảng số liệu này tachọn biểu đồ cơ cấu, có thể là hình tròn; cột chồng; hay biểu đồ miền Cần lưu ý:
+ Nếu vẽ biểu đồ hình tròn: Các thành phần trong tổng thể không quá nhiều và códưới 4 mốc năm hoặc dưới 4 đơn vị lãnh thổ
+ Nếu vẽ biểu đồ cột chồng: Khi một tổng thể có quá nhiều thành phần, nếu vẽ biểu
đồ hình tròn thì các góc cạnh hình quạt sẽ quá hẹp, trường hợp này nên chuyển sang vẽ biểu
đồ cột chồng (theo đại lượng tương đối (%) cho dễ thể hiện)
+ Nếu vẽ biểu đồ miền: Khi trên bảng số liệu, các đối tượng trải qua từ 4 thời điểmtrở lên (trường hợp này không nên vẽ hình tròn)
* Căn cứ vào lời kết của câu hỏi
Có nhiều trường hợp, nội dung lời kết của câu hỏi chính là gợi ý cho vẽ một loại biểu
đồ cụ thể nào đó Ví dụ: “Cho bảng số liệu sau… Anh (chị) hãy vẽ biểu đồ thích hợp Nhậnxét về sự chuyển dịch cơ cấu… và giải thích nguyên nhân của sự chuyển dịch đó” Như vậy,trong lời kết của câu hỏi đã ngầm cho ta biết nên chọn loại biểu đồ (thuộc nhóm biểu đồ cơcấu) là thích hợp
Tóm lại, để lựa chọn được loại biểu đồ cần vẽ, GV cần rèn luyện cho HS kĩ năng phântích từng yếu tố: lời dẫn, bảng số liệu và yêu cầu của bài tập một cách thường xuyên, có hệthống qua các bài tập cuối bài trong SGK, bài thực hành và bài ôn tập Để việc rèn luyện kĩnăng vẽ biểu đồ cho HS, GV cũng cần tự biên soạn hệ thống bài tập yêu cầu HS vẽ biểu đồphù hợp với nội dung chương trình và đối tượng HS
Trang 91.1.3.3 Bước 3: Xử lí số liệu (nếu cần)
Trên cơ sở loại biểu đồ đã lựa chọn và bảng số liệu trong đã cho, cần xem xét và xácđịnh xem để vẽ biểu đồ theo yêu cầu của đề bài có cần phải xử lí số liệu hay không, nếu cóthì tính toán như thế nào? Dưới đây là một số phép tính thường được sử dụng trong quátrình vẽ biểu đồ:
Đối với yêu cầu vẽ biểu đồ cơ cấu mà bảng số liệu đã cho tính bằng giá trị tuyệt đối
thì cần tính tỉ lệ % của các thành phần trong cơ cấu tổng thể:
Đối với yêu cầu vẽ biểu đồ cơ cấu và qui mô của các đối tượng qua 2 hoặc 3 năm mà
bảng số liệu ở giá trị tuyệt đối thì bên cạnh việc tính tỉ lệ của từng thành phần như trên cầnphải tính bán kính hình tròn để thể hiện tương quan về qui mô của đối tượng theo cách sau: R1= 1,0 đơn vị bán kính; đơn vị bán kính
Trong đó: R1, R2 lần lượt là bán kính của hình tròn thứ nhất, thứ 2
G1, G2 lần lượt là tổng giá trị (quy mô) của đối tượng thứ nhất, thứ 2
Lưu ý: Tùy khổ giấy vẽ, tỉ lệ của R1 và R2 để chọn 1 đơn vị bán kính bằng bao nhiêu cmcho phù hợp (không nên chọn R1 = 1cm)
Đối với yêu cầu vẽ biểu đồ tốc độ tăng trưởng của một số sản phẩm mà bảng số liệu
đã cho là số liệu tuyệt đối với các đơn vị khác nhau, thì phải tính tốc độ tăng trưởng củatừng sản phẩm so với giá trị của năm gốc như sau:
Lấy năm đầu tiên trong dãy số liệu là năm gốc (năm gốc bằng 100%), ta có tốc độ tăngtrưởng của năm sau so với năm gốc là:
Trong đó: Tt là tốc độ tăng trưởng củanăm sau so với năm gốc, Gs là giá trị củanăm sau, Gg là giá trị của năm gốc
Tính chỉ số phát triển (mức tăng liên hoàn) là mức tăngcủa năm sau so với năm trước
được tính theo công thức:
Trong đó: Tt là tốc độ tăng trưởng củanăm sau so với năm trước, Gs là giá trị củanăm sau, Gt là giá trị của năm trước
Tính tỉ suất gia tăng tự nhiên của dân số:
Tỉ suất gia tăng tự nhiên (%) = Tỉ suất sinh thô (‰) – tỉ suất tử thô (‰)
Trang 10(chú ý sau khi tính xong cần chuyển về đơn vị %)
Tính tỉ suất gia tăng cơ giới của dân số:
Tỉ suất gia tăng cơ giới (%) = Tỉ suất xuất cư– tỉ suất nhập cư
Tính năng suất của một loại cây trồng nào đó (chú ý phải đổi đơn vị tính)
Tính bình quân lương thực theo đầu người
Tính thu nhập bình quân theo đầu người
Tính giá trị xuất nhập khẩu (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu)
Giá trị xuất nhập khẩu = giá trị xuất khẩu + giá trị nhập khẩu
Tính cán cân xuất nhập khẩu
Cán cân xuất nhập khẩu = Giá trị xuất khẩu – Giá trị nhập khẩu
Tính tỉ lệ xuất nhập khẩu
Tính tỉ lệ nhập khẩu
Tính tỉ lệ xuất khẩu so với nhập khẩu
Ghi chú:
Tỉ lệ xuất khẩu (%) = Giá trị xuất khẩu
Tổng giá trị xuất nhập khẩu
Trang 11- Trong quá trình làm bài kiểm tra, thi nhất thiết phải ghi cách tính và tính cụ thể một thành phần, sau đó ghi tương tự ta có bảng số liệu mới => tiến hành lập bảng số liệu
đã qua xử lí, chú ý đơn vị của bảng số liệu mới.
- Trong quá trình xử lí số liệu nếu các số liệu không tương đồng về giá trị cần phải
có sự chuyển đổi cho phù hợp.
VD: Tính bình quân GDP theo đầu người mà trong bảng số liệu cho GDP tính bằng tỉ đồng, dân số là triệu người thì cần phải chuyển từ tỉ đồng ra triệu đồng rồi mới tính.
1.1.3.4 Bước 4: Vẽ biểu đồ
Sau khi xác định loại biểu đồ, xử lí số liệu (nếu cần) => Vẽ biểu đồ Việc vẽ biểu đồphải đảm bảo tính chính xác và thẩm mĩ
- Xây dựng hệ trục tọa độ: trục tung (trục giá trị) và trục hoành (trục định loại) Hệ
trục tọa độ phải phù hợp với khổ giấy vẽ, cân đối,
+ Trục tung được sử dụng làm thước đo giá trị của đối tượng cần vẽ nên trên đó phảichia khoảng cách các giá trị cho phù hợp với bảng số liệu (khoảng cách giữa các giá trị phảiđều nhau, phải ghi trị số của thước đo) đồng thời phải đánh mũi tên và ghi đơn vị tính lênphía trên mũi tên (triệu tấn, triệu người, tỉ USD, ) Giá trị đầu tiên của thước đo được đặt ởgốc hệ trục tọa độ, có thể lấy bằng 0 hoặc bằng một giá trị nào đó để khi vẽ xong biểu đồcác độ cao của cột được phân biệt rõ ràng Giá trị lớn nhất của thước đo cần lấy cao hơn sovới giá trị cao nhất trong bảng số liệu
Chú ý: Đối với biểu đồ cột có 2 trục tung thì vẽ 2 trục tung có chiều cao bằng nhau, trên đó xác định giá trị lớn nhất của 2 trục sao cho có sự tương đồng nhau là được còn các yếu tố khác chúng không phụ thuộc vào nhau.
+ Trục hoành thường dùng để chỉ các yếu tố về thời gian (năm, thời kì, giai đoạn),không gian lãnh thổ (tỉnh, thành phố, vùng, ) hay chỉ tiêu kinh tế theo ngành (công nghiệp,vật nuôi, cây trồng, )
Nếu trục hoành thể hiện yếu tố thời gian với các mốc năm cụ thể thì khoảng cách giữa các cột trên trục này phải phù hợp với tỉ lệ khoảng cách giữa các mốc năm trong bảng
số liệu nhất là khi biểu đồ phản ánh động thái phát triển của đối tượng Thời gian luôn được tính theo chiều từ trái qua phải.
Ngược lại nếu trục hoành thể hiện yếu tố thời gian là thời kì hay giai đoạn hoặc chỉ
về không gian lãnh thổ hoặc phản ánh chỉ tiêu kinh tế theo ngành thì khoảng cách giữa các yếu tố trên trục hoành luôn cách đều nhau.
Trang 12- Vẽ các cột của biểu đồ:
+ Các cột của biểu đồ chỉ khác nhau về chiều cao, còn chiều ngang phải bằng nhau.+ Cột của biểu đồ không nên vẽ dính vào trục tung
+ Ghi trị số trên đầu mỗi cột
+ Các cột hay các phần của cột thể hiện cùng một đối tượng phải được kí hiệu giốngnhau
+ Trong trường hợp của biểu đồ cột đơn, nếu có sự chênh lệch quá lớn về giá trị củamột vài cột (lớn nhất) và các cột còn lại Ta có thể dùng thủ pháp là vẽ trục tung gián đoạn ởchỗ trên giá trị cao nhất của các cột còn lại Như vậy, các cột có giá trị lớn nhất sẽ được vẽthành cột gián đoạn, như vậy biểu đồ vừa đảm bảo tính khoa học và thẩm mĩ
- Đối với biểu đồ tròn thể hiện qui mô và cơ cấu cần phải vẽ chính xác tương quanbán kính theo số liệu đã tính toán, đối với biểu đồ thể hiện cơ cấu không cần vẽ chính xác vềtương quan bán kính
- Nếu biểu đồ có 2 hình tròn trở lên, tâm của các hình tròn nên nằm trên một đườngthẳng theo chiều ngang Đồng thời phải thống nhất qui tắc vẽ, vẽ hình quạt thứ nhất lấy từtia 12 giờ (như mặt đồng hồ), rồi vẽ tiếp cho hình quạt thứ 2, 3 thuận chiều kim đồng hồ
- Trường hợp vẽ biểu đồ cặp hai nửa hình tròn thì trật tự vẽ có khác đi một chút Đốivới nửa hình tròn trên ta vẽ hình quạt thứ nhất bắt đầu từ tia 9 giờ, rồi vẽ tiếp cho thànhphần thứ 2, 3 thuận chiều kim đồng hồ; đối với nửa hình tròn dưới ta cũng vẽ hình quạtthứ nhất từ tia 9 giờ và vẽ cho thành phần còn lại nhưng ngược chiều kim đồng hồ
- Thiết kế chú giải trước khi vẽ các hình quạt thể hiện các phần của đối tượng Trật
tự vẽ các hình quạt phải theo đúng trật tự được trình bày ở bảng chú giải
- Ghi giá trị % vào mỗi thành phần trong biểu đồ, trường hợp hình quạt nhỏ quá cóthể ghi sát bên ngoài của cung tròn
• Biểu đồ đường (đồ thị)
- Xây dựng hệ trục: Như hệ trục tọa độ trong biểu đồ cột Tuy nhiên có một số khác
biệt:
+ Trục ngang: Chỉ để chỉ yếu tố thời gian qua các năm (khoảng cách giữa các năm
luôn phải được chia đúng theo tỉ lệ khoảng cách giữa các năm trong bảng số liệu)
Mốc năm đầu tiên luôn trùng với gốc tọa độ (nếu có 2 trục đứng thì mốc năm cuối cùng
luôn trùng với chân trục đứng bên phải)
Trang 13+ Trục đứng: Được sử dụng làm thước đo kết hợp với trục hoành để xác định tọa độ
nên trường hợp biểu đồ có nhiều đường biểu diễn phải xác định tỉ lệ của trục đứng sao chocác đường không quá sát nhau
- Vẽ đường biểu diễn:
+ Xác định tất cả các tọa độ ứng với tất cả các năm ở trục ngang, sau đó dùng thước
nối tất cả các điểm lại với nhau ta có đường biểu diễn (Lưu ý trong trường hợp có nhiều đường biểu diễn nên vẽ từng đường để tránh nối nhầm).
+ Nếu vẽ biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng thì tất cả các đường biểu diễn đều xuấtphát từ giá trị 100 trên trục đứng
+ Biểu đồ có nhiều đường biểu diễn phải có kí hiệu riêng cho từng đường, thường sửdụng các kí hiệu như: , , , , đặt tại các điểm tọa độ ứng với mốc năm (mỗi kí hiệucho một đường); ghi giá trị tại mỗi điểm nút (trong trường hợp biểu đồ có nhiều đường biểudiễn mà các đường này lại nằm sát nhau thì không cần ghi)
• Biểu đồ miền
* Biểu đồ miền theo số liệu tương đối:
- B1: Kẻ một hình chữ nhật
+ Cạnh đáy tương tự như trục hoành trong biểu đồ đường thể hiện tốc độ tăng
trưởng- chỉ thể hiện thời gian qua các năm, do đó khoảng cách các năm luôn phải chia đúng tỉ lệ khoảng cách các năm trong bảng số liệu (năm đầu tiên trùng với gốc tọa độ bên trái, năm cuối cùng ở dưới chân cạnh bên phải).
+ Cạnh bên trái hình chữ nhật được sử dụng làm thước đo có giá trị từ 0- 100%,khoảng cách luôn được chia đều theo 10% hoặc 20%
- B2: Vẽ đường ranh giới giữa các miền
+ Đường ranh giới các miền được vẽ tương tự như trong biểu đồ đường
+ Chỉ có miền ranh giới đầu tiên thì các điểm tọa độ được xác định bằng các giá trị
có trong bảng số liệu, từ ranh giới thứ 2 trở đi giá trị của các đường ranh giới được tính theogiá trị cộng gộp của giá trị thành phần 1 với thành phần 2,
+ Trong trường hợp biểu đồ có 3 miền chỉ cần xác định chính xác 2 đường ranh giớithứ nhất và thứ 2
+ Giá trị của mỗi miền được ghi ở giữa các miền tương ứng với các mốc năm
- B3: Thể hiện mỗi miền bằng một kí hiệu riêng biệt
* Biểu đồ miền theo số liệu tuyệt đối:
Trang 14- B1: Vẽ hệ trục tọa độ(tương tự trong biểu đồ đường chỉ có 1 trục tung và 1 trục
hoành)
+ Trục tung luôn được tính từ giá trị 0, các giá trị trên trục tung là giá trị tuyệt đối.+ Trục hoành chỉ thể hiện thời gian là các mốc năm cụ thể, khoảng cách giữa cácnăm phải phù hợp với khoảng cách giữa các năm trong bảng số liệu
- B2: Vẽ đường ranh giới: Tương tự như đường ranh giới trong biểu đồ miền tương
đối
- B3: Thể hiện mỗi miền bằng một kí hiệu riêng biệt.
1.1.3.5 Bước 5: Ghi chú giải, tên biểu đồ
- Lập bảng chú giải
Đối với biểu đồ có từ 2 đối tượng trở lên phải lập bảng chú giải, các chú giải nên lậpthành bảng riêng để bảo đảm tính mĩ thuật
+ Các kí hiệu trong bảng chú giải phải tương ứng với kí hiệu trên biểu đồ
- Ghi tên biểu đồ: Tên biểu đồ được đặt theo yêu cầu trong đề bài và phải phản ánh được 3
khía cạnh: cái gì, ở đâu, khi nào Tên biểu đồ có thể ghi ở phần trên hoặc dưới biểu đồ(Trong các đề tài nghiên cứu khoa học, tên biểu đồ được quy định đặt ở phía dưới)
1.1.3.6 Bước 6: Nhận xét và giải thích
* Nhận xét:
- GV cần hướng dẫn HS đọc kỹ câu hỏi để nắm yêu cầu và phạm vi cần nhận xét,phân tích, sau đó tìm ra mối liên hệ (hay tính qui luật nào đó) giữa các số liệu, không được
bỏ sót các dữ kiện cần phục vụ cho nhận xét, phân tích
- Trước tiên cần nhận xét, phân tích các số liệu có tầm khái quát chung, sau đó phântích các số liệu thành phần; Tìm mối quan hệ so sánh giữa các con số theo hàng ngang; Tìmmối quan hệ so sánh các con số theo hàng dọc; Tìm giá trị nhỏ nhất (thấp nhất), lớn nhất &trung bình (đặc biệt chú ý đến những số liệu hoặc hình nét đường, cột…trên biểu đồ thểhiện sự đột biến tăng hay giảm)
- Rèn luyện cho HS kỹ năng tính tỉ lệ (%), hoặc tính ra số lần tăng (hay giảm) đểchứng minh cụ thể ý kiến nhận xét, phân tích
Tóm lại, theo nguyên tắc chung, biểu đồ thể hiện cái gì thì phần nhận xét nên tập trung vàonội dung đó Tuy nhiên, mỗi loại biểu đồ lại có yêu cầu về kĩ năng phân tích, nhận xét khácnhau, cụ thể:
- Đối với biểu đồ hình cột:
Trang 15+ Nếu biểu đồ thể hiện sự so sánh qui mô giữa các đối tượng địa lí, khi so sánh phải tính bằng lần (gấp mấy lần).
+ Nếu biểu đồ thể hiện sự so sánh giữa các đối tượng địa lí nhưng vẽ bằng giá trịtương đối (%), khi so sánh phải tính ra giá trị trung bình, sau đó so sánh các thành phần vớigiá trị trung bình (cao hơn/thấp hơn mức trung bình bao nhiêu %)
+ Biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu của một tổng thể khi so sánh phải so sánh tỉ trọng thành phần trong cơ cấu, nhận xét sự thay đổi cơ cấu qua các năm hay sự khác nhau
về cơ cấu giữa các vùng lãnh thổ
+ Biểu đồ cột thể hiện động thái phát triển của đối tượng: nhận xét xu hướng phát triển (tăng hay giảm), tình hình phát triển ổn định hay không ổn định, nhanh hay chậm.
- Đối với biểu đồ đường:
+ Nhận xét chung về xu hướng biến động của các đối tượng địa lí được thể hiện trênbiểu đồ (tăng, giảm, hay ổn định có liên tục hay không, nhịp độ tăng giảm qua các năm hoặccác giai đoạn ra sao (giai đoạn nào tăng nhanh nhất hoặc giảm nhanh nhất)
Nêu lên mối quan hệ giữa các đối tượng được thể hiện trên biểu đồ
+ So sánh giữa các đối tượng địa lí về xu hướng, nhịp độ và tốc độ phát triển
- Đối với biểu đồ kết hợp cột và đường:
+ Nhận xét từng đối tượng như trong phần nhận xét đối với biểu đồ hình cột hoặcđường
+ Nhận xét về mối quan hệ giữa các đối tượng được thể hiện trên biểu đồ
- Đối với biểu đồ tròn
+ Biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu:
Nhận xét tỉ trọng của các thành phần trong biểu đồ (thành phần nào chiếm tỉ trọng
cao nhất ( %), thành phần nào thấp nhất ( %)
Nếu có từ 2 biểu đồ tròn trở lên thì trong phần nhận xét cần:
Nhận xét khái quát chung cho các biểu đồ.
Nhận xét sự thay đổi(sự chuyển dịch) về cơ cấu theo thời gian và không gian, thành phân nào tăng ( %), thành phần nào giảm ( %), nếu có một số thành phần cùng giảm thì
thành phần nào giảm nhiều hơn, cùng tăng thì thành phần nào tăng nhiều hơn
Nếu trong bài tập có yêu cầu “nhận xét về sự thay đổi quy mô và cơ cấu” thì cần phải dựa thêm vào bảng số liệu để so sánh (quy mô tăng/ giảm hoặc lớn hơn/ nhỏ hơn bao nhiêu lần).
- Đối với biểu đồ miền
Trang 16+ Biểu đồ miền vẽ theo số liệu tương đối:
Nhận xét khái quát về sự so sánh tỉ trọng giữa các thành phần trong cơ cấu: thành
phần nào chiếm tỉ trọng lớn nhất, nhỏ nhất hoặc cao hơn, thấp hơn
Nhận xét về xu hướng thay đổi cơ cấu cho cả thời kì: tỉ trọng của thành phần nào tăng, thành phần nào giảm.
Nếu có sự thay đổi đột xuất cần chia ra thành các giai đoạn rồi nhận xét cụ thể.+ Biểu đồ miền vẽ theo giá trị tuyệt đối:
Nhận xét về xu hướng biến đổi về quy mô của từng đối tượng: tăng hay giảm
Xu hướng phát triển của từng đối tượng có ổn định hay không ổn định
So sánh sự thay đổi theo thời gian của các đối tượng (đối tượng nào tăng/ giảmnhanh)
Sự tăng giảm được tính bằng lần hoặc giá trị tuyệt đối, sự so sánh được tính theo giá trị tuyệt đối thể hiện trên trục tung.
Lưu ý:
- Để nhận xét tốt GV cần hướng dẫn HS dựa vào số liệu trong bảng thống kê và biểu
đồ đã vẽ để rút ra nhận xét, đồng thời phải có số liệu để dẫn chứng, không nhận xét chungchung
- Sử dụng ngôn ngữ trong lời nhận xét, phân tích biểu đồ
+ Trong các loại biểu đồ cơ cấu: Số liệu đã được qui thành các tỉ lệ (%) nên khi nhậnxét phải dùng từ “tỉ trọng” trong cơ cấu để so sánh nhận xét Ví dụ, nhận xét biểu đồ cơ cấugiá trị các ngành kinh tế ta qua một số năm: không được ghi “Giá trị của ngành nông – lâm -ngư có xu hướng tăng hay giảm”, mà phải ghi “Tỉ trọng giá trị của ngành nông – lâm - ngư
có xu hướng tăng hay giảm”
+ Khi nhận xét về trạng thái phát triển của các đối tượng trên biểu đồ Cần sử dụngnhững từ ngữ phù hợp Ví dụ:
Về nhận xét tổng quát: GV cần hướng dẫn HS sử dụng các từ diễn đạt sự phát triểnnhư: “phát triển nhanh”; “phát triển chậm”; “phát triển ổn định”; “phát triển không ổnđịnh”; “phát triển đều”; “có sự chệnh lệch giữa các vùng”
Về trạng thái tăng: GV hướng dẫn HS dùng những từ nhận xét theo từng cấp độnhư: “tăng”; “tăng mạnh”; “tăng nhanh”; “tăng đột biến”; “tăng liên tục”,… kèm theo vớicác từ đó, bao giờ cũng phải có số liệu dẫn chứng cụ thể tăng bao nhiêu (triệu tấn, tỉ đồng,triệu người; hay tăng bao nhiêu (%), bao nhiêu lần.)
Trang 17Về trạng thái giảm: HS cần dùng những từ sau: “giảm”; “giảm ít”; “giảm mạnh”;
“giảm nhanh”; “giảm chậm”; “giảm đột biến” và kèm theo cũng là những con số dẫn chứng
cụ thể (triệu tấn; tỉ đồng, triệu dân; hay giảm bao nhiêu (%); giảm bao nhiêu lần.)
- Những từ ngữ thể hiện phải ngắn gọn, rõ ràng, có cấp độ; lập luận phải hợp lý sátvới yêu cầu
2.2 RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NHẬN XÉT BẢNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ
2.2.1 Các điểm cần lưu ý khi làm bài tập phân tích nhận xét và giải thích bảng số liệu thống kê
- Đọc kĩ yêu cầu của đề bài, không bỏ sót các dữ kiện
- Phân tích các số liệu ở tầm khái quát cao trước khi đi vào các chi tiết, xử lí số liệu ởnhiều khía cạnh: tính cơ cấu, tính tốc độ, độ tăng giảm
- Tìm mối quan hệ giữa các số liệu: nguyên nhân, hậu quả, giải pháp
- Đặt ra các câu hỏi để giải đáp trong khi phân tích, tổng hợp các dữ kiện theo yêucầu của đề bài địa lí Trường hợp thường thấy là yêu cầu của đề bài là dựa vào bảng số liệu
để phân tích hiện trạng của một ngành hay một vùng nào đó Khi đó học sinh phải biết huyđộng cả các kiến thức đã học trong sách giáo khoa để làm sáng tỏ bảng số liệu, trả lời cáccâu hỏi đại thể như: Do đâu mà có sự phát triển như vậy? Điều này diễn ra chủ yếu ở đâu?Hiện tượng này có nguyên nhân và hậu quả như thế nào?
Trang 18- Không được bỏ sót các dữ kiện, bởi vì các dữ kiện khi được đưa ra đều có chọn lọc,
có ý đồ trước đều gắn liền với nội dung của bài học trong giáo trình Nếu bỏ sót các dữ kiện,
sẽ dẫn đến các cách cắt nghĩa sai, sót Nếu bảng số liệu cho trước là các số liệu tuyệt đối (vídụ: triệu tấn, tỉ mét, tỉ kw/h ), thì nên tính toán ra một đại lượng tương đối (%), như vậybảng số liệu đã được khái quát hoá ở một mức độ nhất định, từ đó ta có thể dễ dàng nhậnbiết những thay đổi (tăng, giảm, những đột biến,…) của chuỗi số liệu cả theo hàng ngang vàhàng dọc Nhưng khi phân tích phải sử dụng linh hoạt cả chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối (%)
2.2.2 Cách phân tích bảng số liệu:
Nên phân tích từ các số liệu có tầm khái quát cao đến các số liệu chi tiết
Phân tích từ các số liệu phản ánh đặc tính chung của một tập hợp số liệu trước, rồiphân tích các số liệu chi tiết về một thuộc tính nào đó, một bộ phận nào đó của tập hợp cácđối tượng, hiện tượng địa lý được trình bày trong bảng Ví dụ: Bảng số liệu thể hiện tìnhhình phát triển kinh tế của một ngành, hay khu vực kinh tế của một lãnh thổ Trước hết, taphân tích số liệu trung bình của toàn ngành đó hay của các khu vực kinh tế của cả nước;Tìm các giá trị cực đại, cực tiểu; Nhận xét về tính chất biến động của chuỗi số liệu; Gộpnhóm các đối tượng cần xét theo những cách nhất định; ví dụ gộp các đối tượng khảo sáttheo các nhóm chỉ tiêu (cao, trung bình, thấp )
Phân tích mối quan hệ giữa các số liệu
- Phân tích số liệu theo cột dọc và theo hàng ngang Các số liệu theo cột thường làthể hiện cơ cấu thành phần; còn các số liệu theo hàng ngang thường thể hiện qua chuỗi thờigian (năm, thời kỳ,…) Khi phân tích, ta tìm các quan hệ so sánh giữa các số liệu theo cột vàtheo hàng
+ Phân tích các số liệu theo cột là để biết mối quan hệ giữa các ngành, hay khu vựckinh tế nào đó; vị trí của ngành hay khu vực kinh tế trong nền kinh tế chung của cả nước;tình hình tăng/giảm của chúng theo thời gian
+ Phân tích các số liệu theo hàng ngang là để biết sự thay đổi của một thành phần nào
đó theo chuỗi thời gian (tăng/giảm, tốc độ tăng/giảm,…)
- Lưu ý, nếu bảng số liệu cho trước là các số liệu tuyệt đối, thì cần tính toán ra mộtđại lượng tương đối (ví dụ, bảng số liệu cho trước là các chỉ tiêu về diện tích, sản lượng hay
số dân), thì cần phải tính thêm năng suất (tạ/ha), bình quân lương thực theo đầu người(kg/người), tốc độ tăng giảm về diện tích, số dân Mục đích là để biết ngành nào chiếm ưuthế và sự thay đổi vị trí ở những thời điểm sau cả về cơ cấu và giá trị tuyệt đối…
Trong khi phân tích, tổng hợp các dữ kiện địa lí, cần đặt ra các câu hỏi để giải đáp: