PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU I.1.Lí do chọn đề tài. Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đang chủ trương đổi mới căn bản toàn diện giáo dục theo hướng ‘phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở khoa học để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực’, giáo dục trung học phổ thông nước ta đang thực hiện chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm học sinh học được cái gì đến quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để thực hiện được điều này đòi hỏi nhà trường không chỉ dạy ‘Kiến thức đơn thuần’ mà phải dạy cho học sinh biết sử dụng kiến thức đã học vào những trường hợp cụ thể, có ý nghĩa đối với học sinh. Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm có tính lí luận và thực tiễn cao. Muốn học tốt bộ môn học sinh phải nắm vững bản chất của các hiện tượng, quá trình, từ đó vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên để học sinh có thể tiếp thu kiến thức và vận dụng vào thực tế là một việc không hề dễ dàng, đòi hỏi bản thân người giáo viên phải luôn gắn lí luận với thực tiễn trong mỗi bài giảng cũng như trong kiểm tra đánh giá. Nếu làm được như vậy sẽ tăng hứng thú đối với bộ môn của học sinh, phát huy được tính chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực cho học sinh qua đó góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường phổ thông. Xuất phát từ thực tế trên và với kinh nghiệm giảng dạy bộ môn trong những năm qua, tôi chọn đề tài: ‘Nâng cao năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống trong thực tiễn của học sinh qua dạy học phần Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10’ làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của bản thân. I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài. Nâng cao năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tiễn trong sinh học 10 Nghiên cứu lý luận về đổi mới phương pháp dạy học cho HS trong nhà trường PT để đề xuất nội dung và phương pháp nâng cao năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn cho HS trong dạy học Sinh học lớp 10. Nghiên cứu chương trình và SGK Sinh học lớp 10 để xác định kiến thức liên quan đến nội dung cần giáo dục cho HS. Soạn giáo án thực nghiệm và câu hỏi trắc nghiệm khách quan. I.3. Đối tượng nghiên cứu: Các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo hướng phát huy tính tích cực của HS. Nội dung chương trình và SGK Sinh học lớp 10 cơ bản. GV và HS trường THPT Trường Chinh – Eah’leo.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Mục lục 01
Phần I: Mở Đầu 02
I.1 Lí do chọn đề tài 02
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 03
I.3 Đối tượng nghiên cứu 03
I.4 Giới hạn đề tài 03
I.5 Phương pháp nghiên cứu 03
Phần II Nội dung 05
II.1 cơ sở lí luận 05
II.1.2 Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 05
II.1.2 Đổi mới phương pháo dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả theo hướng phát triển năng lực của học sinh 05
II.2 Thực trạng của vấn đề 06
II.3 Nội dung và hình thức của giải pháp 08
a Mục tiêu của giải pháp 08
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp 08
c Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp 19
d Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề 19
III Kết luận – kiến nghị 21
Tài liệu tham khảo 22
Trang 2PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I.1.Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đang chủ trương đổi mới căn bản toàn diện giáodục theo hướng ‘phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩnăng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tậptrung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở khoa học để người học
tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực’, giáo dục trung học phổthông nước ta đang thực hiện chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sangtiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm học sinh học được cái gì đếnquan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học Để thực hiện được điều này đòihỏi nhà trường không chỉ dạy ‘Kiến thức đơn thuần’ mà phải dạy cho học sinh biết sửdụng kiến thức đã học vào những trường hợp cụ thể, có ý nghĩa đối với học sinh Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm có tính lí luận và thực tiễn cao Muốnhọc tốt bộ môn học sinh phải nắm vững bản chất của các hiện tượng, quá trình, từ đóvận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Tuy nhiên
để học sinh có thể tiếp thu kiến thức và vận dụng vào thực tế là một việc không hề dễdàng, đòi hỏi bản thân người giáo viên phải luôn gắn lí luận với thực tiễn trong mỗibài giảng cũng như trong kiểm tra đánh giá Nếu làm được như vậy sẽ tăng hứng thúđối với bộ môn của học sinh, phát huy được tính chủ động, sáng tạo, phát triển nănglực cho học sinh qua đó góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của nhàtrường phổ thông
Xuất phát từ thực tế trên và với kinh nghiệm giảng dạy bộ môn trong những năm
qua, tôi chọn đề tài: ‘Nâng cao năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết các tình
huống trong thực tiễn của học sinh qua dạy học phần Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10’ làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của bản thân.
Nguy n Th H ng Nhung 2
Trang 3I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
- Nâng cao năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tiễn trongsinh học 10
- Nghiên cứu lý luận về đổi mới phương pháp dạy học cho HS trong nhà trường PT
để đề xuất nội dung và phương pháp nâng cao năng lực giải quyết các tình huốngthực tiễn cho HS trong dạy học Sinh học lớp 10
- Nghiên cứu chương trình và SGK Sinh học lớp 10 để xác định kiến thức liên quanđến nội dung cần giáo dục cho HS
- Soạn giáo án thực nghiệm và câu hỏi trắc nghiệm khách quan
I.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo hướng phát huytính tích cực của HS
- Nội dung chương trình và SGK Sinh học lớp 10 cơ bản
- GV và HS trường THPT Trường Chinh – Eah’leo
I.4 Giới hạn đề tài:
Chỉ nghiên cứu nội dung ở các bài thuộc phần III: Sinh học vi sinh vật trong
chương trình Sinh học 10 cơ bản.
I.5 Phương pháp nghiên cứu.
a Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu lý luận về phương pháp huy huy tính tích cực, chủ động , sáng tạo cho
HS trong nhà trường PT để đề xuất các biện pháp vận dụng thực tiễn cho HS trongdạy học Sinh học lớp 10
- Soạn giáo án thực nghiệm theo hướng nâng cao năng lực giải quyết các tình huốngthực tiễn cho HS
- Vận dụng lý thuyết TN để xây dựng câu hỏi TN kiểm tra hiệu quả của đề tài
b Điều tra cơ bản:
- Dùng phiếu điều tra tình hình vận dụng kiến thức thực tiễn của HS lớp 10 ở cáctrường THPT
- Dự giờ GV Sinh học phổ thông
c Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm chéo để đánh giá hiệu quả của việcnâng cao năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn cho HS trong dạy học Sinhhọc lớp 10 ở trường PT
Trang 4- Kiểm tra hiệu quả dạy học bằng câu hỏi TN đã chuẩn bị sẵn ở cả lớp thực nghiệm vàđối chứng.
d Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm
- Thống kê kết quả giải câu hỏi TN
- Xử lý kết quả bằng toán thống kê
- Sử dụng những hiểu biết về lý luận dạy học để phân tích và bàn luận
Nguy n Th H ng Nhung 4
Trang 5PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
II.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
II.1.2 Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Theo quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục trung học của Nhà nước hiện nay, chươngtrình giáo dục phổ thông chuyển từ chương trình định hướng nội dung dạy học sangchương trình định hướng năng lực
Chương trình định hướng theo nội dung có ưu điểm là việc truyền thụ cho người họcmột lượng tri thức một cách khoa học và có hệ thống Tuy nhiên trong thực tế hiệnnay chương trình giáo dục này không còn thích hợp bởi sản phẩm giáo dục là nhữngcon người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động Trong khi đóyêu cầu của xã hội và thị trường lao động là những người có năng lực hành động, khảnăng sáng tạo và khả năng giải quyết linh hoạt các vấn đề trong thực tiễn
Khác với chương trình định hướng theo nội dung chương trình định hướng theo nănglực thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất, nhân cách chú trọng nănglực vận dụng tri thức trong những tình hướng thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con ngườinăng lực giải quyết các tình huống trong cuộc sống và nghề nghiệp
II.2.2 Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả theo hướng pháttriển năng lực của học sinh
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hóahọc sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắnvới những tình huống cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ vớihoạt động thực hành, thực tiễn
Để đổi mới phương pháp dạy học cần:
- Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại…
- Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
- Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo tình huống, dạy học định hướnghành động
Trang 6- Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lí hỗ trợ dạyhọc.
- Chú trọng phương pháp dạy học đặc thù bộ môn
- Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh
- Dạy học theo hướng tích hợp các môn học
Gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới về kiểm tra, đánh giá thành tíchhọc tập của học sinh Một trong những điểm quan trọng trong đổi mới kiểm tra, đánhgiá kết quả học tập của học sinh là chuyển từ đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánhgiá năng lực của người học, tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểukiến thức sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết các vấn đề thực tiễn, đặc biệtchú trọng đánh giá năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo
II.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Như đã nói Sinh học là bộ môn khoa học nghiên cứu về sự sống nên tương đối gần gũiđối với học sinh Học sinh có thể dễ dàng quan sát, kiểm chứng cũng như áp dụngkiến thức đã học trong thực tế cuộc sống Đặc biệt đối với phần Sinh học vi sinh vậttrong chương trình Sinh học 10, đây là phần có nội dung kiến thức phong phú, cónhiều ứng dụng vào thực tế cuộc sống như chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường,phòng chống bệnh tật…Học sinh có thể áp dụng kiến thức vào thực tế đời sống tại giađình như làm mắm, làm dưa chua, hay khi rửa rau nên ngâm rau khoảng 15 phút trongnước muối… Những tưởng rằng, với kiến thức phong phú được cung cấp, sát vớithực tế cuộc sống của học sinh như vậy, các em hoàn toàn có khả năng làm chủ đượckiến thức, việc giải thích những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày cũngnhư việc áp dụng kiến thức đã học chỉ là “vấn đề đơn giản” Nhưng điều đó đã khôngdiễn ra trên thực tế như những gì chúng ta mong đợi
Sau khi học xong, ở trên lớp học sinh có thể trình bày một cách đầy đủ và chính xáckhái niệm vi sinh vật, virut, bệnh truyền nhiễm , quá trình phân giải các chất ở visinh vật, các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật Thế nhưng, vớinhững câu hỏi lệnh rất đơn giản trong sách giáo khoa đại loại như: ‘Hãy kể tên một sốthực phẩm được sản xuất bằng cách sử dụng vi sinh vật phân giải prôtêin?’ hay ‘Hãy
Nguy n Th H ng Nhung 6
Trang 7kể tên những chất diệt khuẩn thường dùng trong gia đình, bệnh viện, trường học?’cũng làm cho các em lúng túng chứ chưa nói đến những câu hỏi yêu cầu các em vậndụng kiến thức để giải thích, chứng minh.
Các kiến thức sinh học về vi sinh vật lẽ ra phải là một trong các cơ sở tốt nhất để họcsinh vận dụng vào thực tiễn, nhưng điều đó dường như vẫn còn “xa vời” đối với các
em Có lẽ đối với học sinh kiến thức vẫn chỉ là nội dung các khái niệm, quá trình, quiluật, cách giải các bài tập kiến thức chỉ “nằm yên” một cách khiêm tốn trên nhữngtrang vở, trang sách mà không thể trở thành một trong những hành trang tốt cho cuộcsống của mỗi học sinh
Trăn trở với thực trạng đáng buồn trên, tôi đã thử đi tìm đâu là những nguyên nhân
cơ bản của vấn đề trên?
Nguyên nhân cơ bản đầu tiên phải kể đến, là sự quá tải của chương trình Nội dungkiến thức trong phần lớn các bài học là quá nhiều, không thích ứng với thời gian quyđịnh của mỗi tiết học Thực tế giảng dạy cho thấy, với thời gian 45 phút của một tiếthọc, nếu chỉ sử dụng một cách “tiết kiệm” nhất: 1 phút để ổn định lớp, 5 phút để kiểmtra bài cũ (chủ yếu là kiểm tra những kiến thức rất cơ bản), 3 phút để củng cố bài(thực chất chỉ đủ để nhắc lại những kiến thức chính vào cuối tiết học), 1 phút dặn dòthì thời gian còn lại chỉ là 35 phút dành cho thầy và trò tiến hành các hoạt động nhậnthức của bài học Trong khoảng thời gian này, với nội dung kiến thức tương đối nhiều,việc làm cho học sinh hiểu được kiến thức bài học thôi cũng đã là khó khăn, giáo viênkhông còn đủ thời gian để liên hệ kiến thức mà học sinh vừa lĩnh hội được với thực tếđời sống, hoặc nếu có liên hệ được thì cũng chỉ dưới hình thức liệt kê tên gọi của các
sự vật, hiện tượng mà thôi
Thứ hai là phần lớn học sinh hổng kiến thức từ lớp dưới, vốn kiến thức cơ bản rất
ít, kiến thức nào đối với các em cũng ‘mới’ cũng ‘lạ’, học sinh không có phương pháphọc tập bộ môn, không gắn kết được lí thuyết với thực hành, kiến thức trong sách vởvới đời sống thực tế
Thứ ba thuộc về giáo viên đứng lớp, chưa có sự chuẩn bị tốt nhất cho bài giảng,giáo án còn thiên về cung cấp kiến thức giáo khoa một cách thuần túy, chưa coi trọng
Trang 8việc soạn và sử dụng bài giảng theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của họcsinh, điều này làm cho học sinh khá thụ động trong việc lĩnh hội và vận dụng kiếnthức Giáo viên chưa khơi gợi được hứng thú, sự quan tâm của học sinh đối với bộmôn.
Thứ tư do thiếu thốn phương tiện dạy học, thiết bị thực hành thí nghiệm Đa sốphương tiện dạy học do giáo viên tự sưu tầm hoặc tự làm dưới dạng tranh ảnh, sơ đồ;nhiều bài thực hành không thực hiện được do thiếu dụng cụ thí nghiệm
Nguyên nhân cuối cùng không thể không nhắc tới là cách kiểm tra đánh giá chủ yếutập trung tái hiện kiến thức, hiểu kiến thức còn hạn chế vận dụng kiến thức vào mộttình huống cụ thể có ý nghĩa trong đời sống thực tế
Giải quyết thực trạng trên như thế nào là một vấn đề khó Ở đây bản thân tôi chỉxin đưa ra một số giải pháp mang tính đơn lẻ, mong rằng những giải pháp này có thểgiúp ích cho chúng ta cải thiện được ít nhiều thực trạng trên, nhằm giúp học sinh hứngthú học tập thông qua thực tế bộ môn
II.3 NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA GIẢI PHÁP
a Mục tiêu của giải pháp
- Nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nhận thức và hành động, giúp cho học sinh ứngphó được trước các tình huống của cuộc sống, có khả năng làm chủ bản thân
- Góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo
vệ quyền con người đồng thời góp phần đào tạo chủ nhân tương lai của đất nước cótrách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và tổ quốc
- Nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực,lành mạnh, luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn
đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêuđời và làm chủ cuộc sống của chính mình
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
b.1.Tích hợp các nội dung kiến thức có liên quan đến thực tế đời sống vào bài họcTrong phần Sinh học vi sinh vật có rất nhiều kiến thức liên quan đến các vấn đề nhưbảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe, phòng chống HIV/AIDS… có thể lồng ghép, liên
hệ trong các bài giảng
Nguy n Th H ng Nhung 8
Trang 9- Trong bài 32: Bệnh truyền nhiễm và miễn dịch có thể tích hợp toàn bài bảo vệ sứckhỏe, bảo vệ môi trường.
Mục I.1 Khái niệm bệnh truyền nhiễm → học sinh thấy được tác nhân gây bệnh làcác vi khuẩn, vi nấm, động vật nguyên sinh…nên khi mắc bệnh cần đến trung tâm y tế
để chữa trị không nên tin vào các hủ tục lâu đời tại địa phương như cúng… để chữabệnh
Mục I.2 Phương thức lây truyền → học sinh biết cách tránh lây nhiễm một số bệnhthường gặp tại gia đình, lớp học…như đối với bệnh thủy đậu: tránh tiếp xúc trực tiếpqua vết bệnh, dịch vết bệnh, đồ dùng hàng ngày…
Mục II.3 Phòng chống bệnh truyền nhiễm → có ý thức vệ sinh môi trường sạch sẽnhằm loại trừ và hạn chế các ổ VSV gây bệnh phát triển Có ý thức giữ vệ sinh chungnơi công cộng: trường học, bệnh viện, ; tránh tiếp xúc với nguồn bệnh
Khi gắn quá trình học tập với cuộc sống hàng ngày sẽ làm cho học sinh thấy được việchọc tập có ý nghĩa, thấy ‘thế giới nhà trường’ không tách biệt với ‘thế giới cuộc sống’.Khi học xong vấn đề nào đó học sinh thấy có ứng dụng thực tiễn cho cuộc sống thìcác em sẽ chú ý hơn, chủ động tìm tòi, tư duy tìm hiểu Từ đó các em hứng thú đối với
bộ môn, dần dần gắn được lí thuyết học trên lớp với thực tế cuộc sống tại gia đình, địaphương
Trang 10* Giới thiệu một giáo án tích hợp:
Bài 27: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA VI SINH VẬT
I MỤC TIÊU
1 Kiến thức: Qua bài này học sinh cần:
- Nêu được đặc điểm của một số chất hóa học ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinhvật
- Trình bày được ảnh hưởng của các yếu tố vật lí đến sinh trưởng của vi sinh vật
- Nêu được một số ứng dụng mà con người đã sử dụng các yếu tố hóa học và lí học đểkhống chế vi sinh vật có hại
2 Kiểm tra bài cũ: (5phút)
? Hãy nêu đặc điểm 4 pha sinh trưởng của quần thể vi khuẩn trong môi trường nuôicấy không liên tục ?
Nguy n Th H ng Nhung
10
Trang 11? Vì sao, trong nuôi cấy không liên tục, vi sinh vật tự phân hủy ở pha suy vong, còntrong nuôi cấy liên tục hiện tượng này không xảy ra?
3 Bài mới:
HOẠT ĐỘNG I: CHẤT HÓA HỌC
PP: Vấn đáp tìm tòi Chất hóa học ảnh hưởng
một số chất hữu cơ cho sự
sinh trưởng của mình mà
chúng không thể tự tổng
HS đọc thông tin trang
105 SGK để trả lời yêucầu nêu được các vaitrò của chất dinhdưỡng, 1 vài loại chấtdinh dưỡng cơ bản
I Chất hóa học:
1 Chất dinh dưỡng:
Chất dinh dưỡng là nhữngchất giúp cho VSV đồnghoá và tăng sinh khối hoặcthu năng lượng Bao gồm: + Các hợp chất hữu cơ như
prôtêin là các chất dinhdưỡng cần thiết cho sự sinhtrưởng, phát triển của sinhvật
+ Các chất vô cơ chứa cácnguyên tố vi lượng như
Mn, Zn, Mo có vai tròtrong quá trình thẩm thấu,hoạt hoá enzim
* Nhân tố sinh trưởng Một số VSV còn cần một
số chất hữu cơ cho sự sinh