(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3(Luận văn thạc sĩ) Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Nhung
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát, thống kê, nghiên cứu, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố
ở bất kì công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hường
Trang 4
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và làm luận văn này, em đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giảng viên, Ban lãnh đạo khoa Ngữ Văn, Phòng Sau Đại học, Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Nhung
đã tận tình hướng dẫn em trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành đề tài luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đã nhiệt tình ủng hộ, chia sẻ khó khăn, khích lệ, động viên tinh thần trong suốt thời gian em học tập và hoàn thành luận văn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2021
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hường
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Dự kiến đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Một số khái niệm công cụ 7
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến từ ngữ 7
1.1.2 Các khái niệm liên quan đến câu 8
1.2 Khái quát về nghĩa của câu 9
1.2.1 Nghĩa miêu tả 9
1.2.2 Nghĩa tình thái 12
1.3 Các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3 và nội dung, mục đích dạy học tiếng Việt ở bậc tiểu học 25
1.3.1 Các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3 25
1.3.2 Nội dung, mục đích dạy học tiếng Việt ở bậc tiểu học 26
1.4 Một số đặc điểm phát triển tâm lí của học sinh lớp 2, 3 27
1.5 Tiểu kết chương 1 29
Chương 2: KHẢO SÁT NGHĨA MIÊU TẢ VÀ NGHĨA TÌNH THÁI CHỦ QUAN CỦA CÂU TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC LỚP 2, 3 30
Trang 6iv
2.1 Nhận xét chung 30
2.2 Nghĩa miêu tả của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 32
2.2.1 Khái quát về nghĩa miêu tả của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 32
2.2.2 Sự tình hành động của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 33
2.2.3 Sự tình quá trình của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 35
2.2.4 Sự tình tư thế của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 37
2.2.5 Sự tình tính chất, quan hệ của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 39
2.3 Nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 41
2.3.1 Khái quát về nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 41
2.3.2 Nghĩa tình thái nhận thức của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 44
2.3.3 Nghĩa tình thái đánh giá của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 48
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGHĨA MIÊU TẢ, NGHĨA TÌNH THÁI Ở CÂU TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC LỚP 2, 3 69
3.1 Một số đặc điểm của nghĩa ở câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 69
3.1.1 Đặc điểm về số lượng câu có nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái trên tổng số câu khảo sát 69
3.1.2 Đặc điểm nghĩa miêu tả của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 70
3.1.3 Đặc điểm nghĩa tình thái của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 72
3.2 Nghĩa của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 với việc thực hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học 75
3.2.1 Nghĩa của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 với việc cung cấp kiến thức cho học sinh 76
3.2.2 Nghĩa của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 với việc góp phần hình thành nhân cách cho học sinh 86
3.3 Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHẦN PHỤ LỤC
Trang 7NTTĐG : Nghĩa tình thái đánh giá
NTTĐL : Nghĩa tình thái đạo lí
NTTKQ : Nghĩa tình thái khách quan
NTTNT : Nghĩa tình thái nhận thức
NTTTĐ : Nghĩa tình thái thái độ
Trang 8v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của câu trong các văn bản tập đọc lớp
2, 3 xét về mặt số lượng 30 Bảng 2.2: Bốn loại nghĩa miêu tả của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 32 Bảng 2.3: Năm loại nghĩa tình thái của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 41 Bảng 3.1: Đối chiếu kết quả khảo sát trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 và
trong một số văn bản tự sự, trữ tình về tỉ lệ câu có nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái 69 Bảng 3.2: Đối chiếu tỉ lệ xuất hiện của mỗi loại nghĩa miêu tả ở câu trong các
văn bản tập đọc lớp 2, 3 và trong một số văn bản tự sự, trữ tình 71 Bảng 3.3: Đối chiếu tỉ lệ xuất hiện mỗi loại nghĩa tình thái của câu trong các văn
bản tập đọc lớp 2, 3 và một số văn bản tự sự, trữ tình 72
Trang 9vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ xuất hiện của nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của câu trong
các văn bản tập đọc lớp 2, 3 31 Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ xuất hiện bốn loại nghĩa miêu tả của câu trong các văn bản
tập đọc lớp 2, 3 33
Sơ đồ 2.3: Tỉ lệ xuất hiện mỗi loại nghĩa tình thái trên tổng số câu có nghĩa
tình thái 43 Biểu đồ 2.4: Tỉ lệ xuất hiện của mỗi loại nghĩa tình thái trên tổng số lần xuất
hiện của nghĩa tình thái 44 Biểu đồ 3.1: Đối chiếu kết quả khảo sát trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 và
trong một số văn bản tự sự, trữ tình về tỉ lệ câu có nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái 70
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Câu là một đơn vị
thông báo nhỏ nhất, và nghĩa của câu phục vụ trực tiếp cho việc giao tiếp Nghĩa của câu góp phần quan trọng tạo nên nội dung của các văn bản tập đọc ở cấp Tiểu học Muốn tìm hiểu những nội dung cơ bản của các văn bản tập đọc không thể không dựa vào nghĩa của câu
Những năm gần đây, nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái nổi lên như một trong những trọng tâm nghiên cứu của ngôn ngữ học Có thể nói sự quan tâm đến nghĩa của câu là một tất yếu trong quá trình phát triển của ngôn ngữ học Bởi lẽ không quan tâm đến nghĩa của câu thì chúng ta sẽ không hiểu được bản chất của ngôn ngữ, với tư cách là công cụ con người dùng để phản ánh thế giới trong hoạt động nhận thức và tương tác xã hội
1.2 Qua thực tế, chúng tôi nhận thấy:
Các văn bản tập đọc giảng dạy ở Tiểu học nói chung, các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 nói riêng (trong Chương trình hiện hành) tương đối đa dạng Nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái trong những văn bản tập đọc đó có những biểu hiện phong phú Việc tìm hiểu chúng có thể giúp thấy được các nét bản chất của nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái trong câu, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lí luận chung
về nghĩa của câu và các bộ phận của nó trong các văn bản văn học tiếng Việt Điều đó
có thể phục vụ thiết thực cho việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt, đồng thời giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực học tập các môn học khác
1.3 Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái có một vai trò hết sức quan trọng trong
lời nói Nó bao gồm một phạm trù rất rộng các ý nghĩa liên quan đến chức năng diễn đạt nghĩa miêu tả/ biểu hiện và chức năng liên nhân của câu Nghiên cứu về nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp
2, 3 có thể giúp hiểu thêm về nghĩa của câu và các phương tiện biểu đạt cùng đặc
điểm của các văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3; phát hiện những nét riêng
của nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong những văn bản văn học dành cho thiếu nhi
1.4 Từ trước đến nay, chưa có nhiều công trình quan tâm nghiên cứu nghĩa của
câu trong các văn bản dành cho thiếu nhi, đặc biệt là nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của
Trang 112
câu trong các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 Trong các nhà trường, khi phân tích, tiếp nhận các văn bản tập đọc, người dạy và người học cũng chưa có ý thức rõ ràng về việc vận dụng tri thức nghĩa của câu Trong khi những tri thức này có vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh đọc hiểu văn bản tập đọc, trên cơ sở đó, có rèn kĩ năng tạo lập các loại văn bản tương ứng
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài luận văn của mình là Nghĩa
miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3
Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ có những đóng góp nhất định về mặt lí luận và thực tiễn
2 Lịch sử vấn đề
Trong hệ thống các nghiên cứu, tìm hiểu tiếng Việt, đã có một số công trình đề cập đến lí luận về các thành phần nghĩa của câu và một số công trình khảo sát một thành phần nghĩa hoặc một loại nghĩa trong một thành phần nghĩa của câu tiếng Việt
2.1 Các công trình đề cập tới tri thức lí luận về nghĩa và các thành phần nghĩa của câu
Những tri thức cơ bản về nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái đã được đề cập trong:
Cơ sở ngữ nghĩa phân tích ngữ pháp của Nguyễn Văn Hiệp [14]; Ngữ pháp tiếng Việt [24]; Một số vấn đề cơ bản về ngữ nghĩa học (trên cứ liệu tiếng Việt) - Đề cương bài giảng dành cho học viên Cao học, ĐHSP-ĐH Thái Nguyên, 2013 [21]; Vận dụng tri thức ngữ nghĩa học trong dạy học Ngữ Văn, Đề cương bài giảng dành cho học viên Cao học, ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, 2018 [28]; Nghĩa tình thái của câu tiếng Việt và việc vận dụng trong dạy học Ngữ Văn [27] và bài báo: “Phân loại nghĩa tình thái của câu tiếng Việt” [26], của Nguyễn Thị Nhung Cuốn Câu tiếng Việt [16] của Nguyễn
Thị Lương cũng ít nhiều đề cập đến hai thành phần nghĩa này
2.2 Các công trình nghiên cứu việc vận dụng tri thức nghĩa của câu vào phân tích tác phẩm văn chương
Đã có một số luận văn, khóa luận tìm hiểu về nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái
trong tác phẩm văn chương Đó là luận văn cao học: Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu của Lương Văn Hưng [15]; và các
luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Nhung như:
Nghĩa tình thái của câu trong đoạn hội thoại (trên những văn bản ở SGK Ngữ Văn 11
Trang 123
- tập 1) của Vũ Thị Kim Thoa [36]; Nghĩa tình thái đánh giá của câu trong các văn bản truyện và kí giảng dạy ở trường THPT của Phùng Thanh Hảo [10] Bên cạnh đó
là các khóa luận tốt nghiệp của sinh viên trường ĐHSP Thái Nguyên do PGS.TS
Nguyễn Thị Nhung hướng dẫn như: Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của câu trong đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” (Lưu Quang Vũ) của Lê Mai Hoa Hiên [13]; Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của câu trong “Nghèo” (Nam Cao) (của Phạm Thị Ngọc) [30]; Nghĩa tình thái nhận thức của câu trong một số văn bản truyện và kí được giảng dạy ở trường THPT (của Hoàng Thị Thương) [39]; Nghĩa tình thái đạo lí của câu trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng) và Hồn Trương Ba da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) (của Nguyễn Thị Liên) [17]; Nghĩa tình thái của câu trong trích đoạn “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” trích kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng (của Lê Thị Mai) [19]; Nghĩa tình thái của câu trong “Vội vàng”, “Tràng Giang”,
“Đây thôn Vĩ Dạ” và “Từ ấy” (của Hoàng Thị Kiều Lý) [18]; Nghĩa tình thái thái độ của câu trong một số văn bản truyện được giảng dạy ở trường THPT (của Dương Thị Thúy Quỳnh) [33]; Nghĩa tình thái nhận thức của câu đối thoại trong truyện ngắn
Nam Cao trước cách mạng tháng Tám (của Nguyễn Thị Thúy) [38]
Tác giả Nguyễn Thị Nhung cũng có một số bài báo về vấn đề vận dụng tri thức nghĩa tình thái vào việc tìm hiểu tác phẩm văn chương Đó là: “Nghĩa tình thái của
phát ngôn thuộc ngôn ngữ nhân vật trong Hai đứa trẻ (Thạch Lam)” [22]; “Tìm hiểu
tính cách nhân vật Bá Kiến thông qua nghĩa tình thái của câu” [25]; “Mấy nét về văn hóa Việt Nam qua các câu chứa nghĩa tình thái đạo nghĩa” [23]; …
Đây là những nghiên cứu giúp thấy được các biểu hiện sinh động của nghĩa miêu
tả và đặc biệt là nghĩa tình thái chủ quan với các loại, các sắc thái của mỗi loại trong sử dụng Bên cạnh đó, cũng giúp hiểu sâu sắc hơn về văn hóa Việt Nam, về các tác phẩm văn chương, phục vụ tốt cho việc tiếp nhận hay giảng dạy về các tác phẩm này
Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu tập trung, đầy đủ các thành phần
nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản dành cho thiếu nhi
nói chung, trong các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 nói riêng
Do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái chủ quan
của câu trong các văn bản tập đọc ở lớp 2, 3 với hi vọng công trình sẽ đem lại
những hiểu biết sâu sắc hơn lí luận về nghĩa của câu nói chung và kiến thức về
Trang 134
nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái nói riêng Từ đó giúp nâng cao kĩ năng vận dụng tri thức về các thành phần nghĩa của câu vào tìm hiểu các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 nói riêng, các văn bản tiếng Việt dành cho trẻ em nói chung nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn tiếng Việt ở trường Tiểu học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Qua việc tìm hiểu nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái của câu với các sắc thái cụ thể, phong phú của nó trong các văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3, củng cố tri thức về các thành phần nghĩa chính trong câu tiếng Việt và rút ra những kết luận bước đầu về đặc điểm nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái của câu trong các văn bản dành cho thiếu nhi
- Qua việc xác định vai trò của nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái của câu trong các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 với việc thực hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt
ở trường tiểu học, có những kết luận bước đầu về vai trò của các thành phần nghĩa
chính của câu với văn bản văn học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận, thực tiễn của đề tài
- Khảo sát, thống kê, chỉ ra đặc điểm của sự xuất hiện các loại nghĩa miêu tả
và nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3
- Phân tích đặc điểm, xác định vai trò của nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3 với việc thực hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc đang được giảng dạy ở lớp 2, 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu, phạm vi khảo sát
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các loại nghĩa của nghĩa miêu tả, các loại nghĩa tình thái chủ quan và những sắc thái nghĩa của mỗi loại nghĩa đó, cùng phương tiện biểu đạt của chúng trong các văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3
Trang 145
- Phạm vi khảo sát của luận văn là 143 văn bản nghệ thuật của các tác giả Việt Nam được sử dụng vào giảng dạy tập đọc ở lớp 2, 3 (lớp 2 có 67, lớp 3 có 76 văn bản)
theo Chương trình tiểu học hiện hành (chúng tôi nói tắt là các văn bản tập đọc lớp 2, 3)
Chúng tôi chọn khảo sát các văn bản nghệ thuật của các tác giả Việt Nam vì các văn bản
đó là loại văn bản chính ở chương trình tập đọc lớp 2, 3, câu trong đó có chứa các loại nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái của câu tiếng Việt Chúng tôi chỉ chọn khảo sát các văn bản giảng dạy ở hai lớp do sự hạn chế về dung lượng của luận văn cũng như thời gian nghiên cứu Và hai lớp 2, 3 ở giữa cấp học, những đặc trưng về ngữ nghĩa của văn bản giảng dạy tập đọc có thể phần nào đại diện cho đặc trưng ngữ nghĩa của văn bản giảng dạy ở cấp tiểu học
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ vận dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra khảo sát để tìm các loại nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái khác nhau trong các câu
- Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết
+ Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lí thuyết
- Phương pháp miêu tả: được sử dụng để thấy được về cơ bản diện mạo của nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái, của từng bộ phận nghĩa miêu tả, từng sắc thái của mỗi loại nghĩa tình thái trong câu văn của các văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3 Trong phương pháp này, chúng tôi sử dụng những thủ pháp giải thích bên trong và giải thích bên ngoài
+ Các thủ pháp giải thích bên trong: thủ pháp phân loại và hệ thống hóa, thủ pháp phân tích nghĩa tố để xác định hệ thống nghĩa
+ Các thủ pháp giải thích bên ngoài: thủ pháp giải thích ngôn cảnh được sử dụng để thấy được những yếu tố cụ thể, phương diện cụ thể của ngôn cảnh tình huống
và ngôn cảnh văn hóa trong đó câu được sử dụng
6 Dự kiến đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu thành công có thể đem lại những đóng góp về lí luận và thực tiễn:
- Về mặt lí luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể góp phần làm sáng tỏ tri thức lí luận về nghĩa của câu trong các văn bản tiếng Việt dành cho trẻ em
Trang 156
- Về mặt thực tiễn: Tri thức nghĩa của câu có thể vận dụng vào việc rèn kĩ năng tiếp nhận văn bản tập đọc được giảng dạy ở lớp 2, 3 nói riêng, các văn bản tập đọc được giảng dạy ở chương trình Tiểu học nói chung
Kết quả nghiên cứu đề tài còn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu văn bản nghệ thuật cho học sinh Tiểu học nói riêng và văn bản nghệ thuật cho trẻ em nói chung
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục
Phần nội dung, chia làm 3 chương với các nội dung chính sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Khảo sát nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái chủ quan của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3
Chương 3: Đặc điểm và vai trò của nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái ở câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3
Trang 3627
b Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học
Theo Chương trình giáo dục phổ thông (Ban hành theo Quyết định số 16/2006/
QĐ - BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo) thì mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học là:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa (theo [3])
Xét vai trò của nghĩa của câu trong các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 chính là xét vai trò của nó trong việc góp phần thực hiện các mục tiêu trên
1.4 Một số đặc điểm phát triển tâm lí của học sinh lớp 2, 3
Theo tài liệu về tâm lí học giáo dục thì ở lứa tuổi 7, 8, não của trẻ em đã đạt trọng lượng 90% trọng lượng não người lớn Cấu trúc của não bộ, thùy trán phát triển mạnh, tế bào não tiến triển về cấu tạo và có sự phân hóa rõ rệt về chức năng Tuy nhiên, vỏ não chưa hoàn toàn đều khiển được phần dưới vỏ nên khả năng kiềm chế của lứa tuổi này còn yếu Mặt khác, hưng phấn thường mạnh, do đó, ở độ tuổi này, các em rất hiếu động Những đặc điểm về thể chất trên dẫn tới một số đặc điểm về sự phát triển của trí tuệ và nhân cách
- Một số đặc điểm của sự phát triển trí tuệ của học sinh lớp 2, 3 là:
+ Tri giác phát triển khá nhanh, đặc biệt là tri giác về những thuộc tính bề ngoài của sự vật và hiện tượng Tri giác không chủ định còn chiếm ưu thế Ở độ tuổi này, các
em dễ thích nghi với tín hiệu và phương pháp giảng dạy trực quan
+ Sự chú ý không chủ định vẫn còn chiếm ưu thế, chú ý có chủ định chưa phát triển
+ Trí tưởng tượng đã phát triển nhưng còn mang tính tản mạn, ít có tổ chức, đang hướng về gần với hiện thực hơn
Trang 3728
+ Hình thức tư duy chủ yếu của các em vẫn là tư duy trực quan, tư duy cụ thể, chuyển dần sang tư duy hình tượng và trừu tượng Đặc điểm chủ yếu trong sự phát triển tư duy của lứa tuổi này là tư duy mang màu sắc cảm xúc
- Một số đặc điểm của sự phát triển nhân cách của học sinh lớp 2, 3 là:
+ Ở độ tuổi này, đời sống tình cảm trở thành vấn đề cơ bản, nổi bật Tình cảm
là nhân lõi quan trọng trong đời sống tâm lí và nhân cách của các em Học sinh lớp 2,
3 giàu cảm xúc, dễ xúc động trước tác động của thế giới Các em thích đọc truyện, nhất là truyện khoa học, văn học có tính chất li kì Tình cảm thẩm mĩ cũng phát triển nhanh chóng Các em yêu mến cái đẹp trong thiên nhiên, ở con người, yêu thế giới có cây, động vật, Tình cảm đạo đức của các em đang hình thành, phát triển Các em kính trọng bố mẹ, thầy cô, bạn bè; và dần có những tình cảm rộng lớn hơn: tình yêu
Tổ quốc, yêu lao động, tình thần tự hào dân tộc, lòng căm thù giặc sâu sắc,
+ Những phẩm chất về ý chí của các em đang hình thành và phát triển nhưng chưa ổn định Tính độc lập phát triển chưa cao, các em thường phải dựa vào ý kiến của người lớn trong gia đình và thầy cô giáo Năng lực tự chủ của học sinh lứa tuổi này đã hình thành nhưng còn yếu, tính tự phát còn bộc lộ rõ
+ Về tính cách, các em rất hiếu động, hay bắt chước, biết biểu lộ thái độ, sự đánh giá đối với xã hội và người khác Nhiều em đã thể hiện sự thật thà, dũng cảm Nhưng nhìn chung, tính cách các em chưa ổn định, còn hiện tượng bướng bỉnh, khó bảo
+ Các em đã có hứng thú với nhiều lĩnh vực (học tập, đọc sách, lao động, thể thao, vui chơi, ) nhưng ít bền vững Các em cũng có nhiều ước mơ, nhưng mơ ước còn xa rời thực tế
- Các đặc điểm về sự phát triển trí tuệ của học sinh lớp 2, 3 nêu trên chính là
cơ sở để đánh giá mức độ hợp lí của tần số xuất hiện mỗi loại nghĩa cũng như phương tiện biểu đạt của nó Cụ thể là sự xuất hiện ở mức độ nhiều ít của phương tiện và nội dung mỗi loại nghĩa trong các bài tập đọc có hay không phù hợp, nếu có thì phù hợp
ở mức độ nào với tâm lí tiếp nhận của học sinh lớp 2, 3 (theo [12, tr 69-72])
Các đặc điểm của sự phát triển nhân cách của học sinh lớp 2, 3 là cơ sở để luận văn đánh giá vai trò của các loại nghĩa Tức mỗi loại nghĩa được biểu đạt có thể giúp gì cho sự phát triển nhân cách của học sinh lớp 2, 3 theo hướng tích cực
Trang 3829
1.5 Tiểu kết chương 1
Ở chương 1, chúng tôi dành để trình bày một số cơ sở lí luận và thực tiễn phục
vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Trước hết là một số khái niệm công cụ làm cơ sở cho việc nhận diện, phân tích các phương tiện biểu hiện của các loại nghĩa Đó là các khái niệm liên quan đến ngữ
âm (ngữ điệu, trọng âm); các khái niệm liên quan đến từ ngữ (khái niệm từ, phân loại
từ về mặt cấu tạo, về mặt ngữ pháp; tổ hợp từ, cặp từ, cặp tổ hợp từ); các khái niệm liên quan đến câu (khái niệm câu, phân loại câu về mặt ngữ pháp) Bên cạnh đó là những tri thức cơ sở về nghĩa miêu tả (khái niệm, sự phân loại các kiểu sự tình theo Dik) và nghĩa tình thái chủ quan của câu (khái niệm, sự phân loại) Đặc biệt, các loại nghĩa tình thái chủ quan cùng từng sắc thái, tiểu sắc thái của nó được chúng tôi đề cập cụ thể về khái niệm, phương tiên biểu hiện để làm cơ sở cho việc nhận diện biểu hiện của những loại và sắc thái nghĩa này ở các bài tập đọc lớp 2, 3
Bên cạnh các cơ sở lí thuyết trên, luận văn còn đề cập một số cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài Luận văn đã đề cập tới các bài tập đọc ở lớp 2, 3 về số lượng, thể loại, chủ điểm của các bài Đồng thời, nội dung và mục tiêu của việc dạy học tiếng Việt ở bậc tiểu học cũng được đề cập để làm cơ sở cho những đánh giá về vai trò của các loại nghĩa trong các bài tập đọc ở lớp 2, 3
Một nội dung quan trọng nữa trong cơ sở thực tiễn của đề tài là một số đặc điểm phát triển tâm lí (sự phát triển trí tuệ, nhân cách) của học sinh lớp 2, 3 Bởi giải thích sự xuất hiện của các loại nghĩa là dựa vào đặc điểm trí tuệ, tâm lí tiếp nhận Xét vai trò của các loại nghĩa ở chương 3 chính là xét mỗi loại nghĩa được biểu đạt có thể giúp gì cho sự phát triển nhân cách của học sinh lớp 2, 3 theo hướng tích cực
Trang 3930
Chương 2 KHẢO SÁT NGHĨA MIÊU TẢ VÀ NGHĨA TÌNH THÁI CHỦ QUAN CỦA
CÂU TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC LỚP 2, 3
2.1 Nhận xét chung
Để có cơ sở cho những nhận xét về sự xuất hiện của các thành phần nghĩa của câu trong các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 và có cơ sở cho việc phân tích, đánh giá vai trò của những thành phần nghĩa này, chúng tôi đã khảo sát sự xuất hiện của các thành phần nghĩa trong mỗi câu của các văn bản Nghĩa miêu tả được chúng tôi xác định trên mỗi sự tình, nghĩa tình thái được xác định theo phương tiện biểu
hiện Kết quả khảo sát của chúng tôi được trình bày ở phụ lục
Có thể tóm tắt kết quả khảo sát các thành phần nghĩa của câu trong các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 qua bảng sau:
Bảng 2.1: Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của câu trong các văn bản tập đọc lớp 2, 3 xét về mặt số lượng
Nghĩa của câu
Số câu mang nghĩa trên tổng số câu khảo sát
Số lần xuất hiện của nghĩa trên tổng
số câu khảo sát
Số lần xuất hiện của nghĩa trên tổng
số câu mang kiểu nghĩa đó
Nghĩa miêu tả 2310/ 2387
(96,8%)
4895/2387 (205,1%)
4895/2310 (211,9%) Nghĩa tình thái
chủ quan
921/ 2387 (38,6%)
1348/2387 (56,5%)
1348/921 (146,4%) Như vậy, nghĩa miêu tả có trong 2310 trên tổng số 2387 câu, chiếm đến 96,8% Trong đó có một số câu chứa nhiều sự tình nên trong 2310 câu trên có 4895
sự tình tương ứng với 4895 lần xuất hiện của nghĩa miêu tả Như vậy, trung bình mỗi câu có đến nhỉnh hơn 2 lần xuất hiện của nghĩa miêu tả Nếu tính trên số câu mang nghĩa miêu tả thì tỉ lệ này là 211,9% Nghĩa là mỗi câu chứa nghĩa miêu tả thì trung bình có hơn 2 lần xuất hiện của kiểu nghĩa này Đây là thành phần nghĩa có tỉ lệ xuất hiện cao ở các câu trong các văn bản tập đọc giảng dạy ở lớp 2, 3 Chẳng hạn:
(1) Mỗi khi cầm quyển sách, cậu chỉ đọc vài dòng đã ngáp ngắn ngáp dài, rồi
bỏ dở (Có công mài sắt có ngày nên kim, TV2, t1, tr.4)
Câu trên chứa 4 vị từ (cầm, đọc, bỏ dở, ngáp ngắn ngáp dài), tức biểu thị 4 sự
tình, có 4 nghĩa miêu tả
Trang 4031
Nghĩa tình thái chủ quan (từ đây chúng tôi gọi tắt là nghĩa tình thái) xuất hiện trong 921 câu trên tổng số 2387 câu, chiếm tỉ lệ thấp hơn nhiều so với nghĩa miêu tả (38,6%) Số lần xuất hiện của nghĩa tình thái là 1348 lần, tính trên tổng số câu thì tỉ lệ
là 56,5%; nghĩa là trung bình 2 câu có một lần xuất hiện của nghĩa tình thái Còn tính
số lần xuất hiện trên tổng số câu mang nghĩa tình thái thì tỉ lệ là 146,4%; nghĩa là cứ
2 câu có chứa nghĩa tình thái thì trung bình có 3 lần xuất hiện của kiểu nghĩa này Chẳng hạn trong:
(2) Cậu có cái tên mới đẹp làm sao!
vừa chứa nghĩa tình thái cảm xúc với sắc thái tán thưởng, khen ngợi (mới đẹp làm sao) và có nghĩa tình thái thái độ sắc thái thân mật, trìu mến (cậu)
Như vậy, có một điều thú vị là chỉ có hơn 38% câu mang nghĩa tình thái Nhưng nhiều câu trong số đó mang trên 1 nghĩa tình thái
Có thể đối chiếu hai kiểu nghĩa này rõ hơn qua bảng sau:
Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ xuất hiện nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái của câu trong các văn
bản tập đọc lớp 2, 3
Sơ đồ cho thấy, nghĩa miêu tả luôn chiếm tỉ lệ cao hơn nghĩa tình thái: khi tính
số câu mang nghĩa trên tổng số câu, khi tính số lần xuất hiện trên tổng số câu và cả khi tính số lần xuất hiện trên tổng số câu mang nghĩa miêu tả Số câu không xuất hiện nghĩa miêu tả chỉ là 3,2% Trong khi số câu không xuất hiện nghĩa tình thái là 61,4% Các tỉ lệ này cho thấy nội dung được chú trọng đề cập ở các văn bản tập đọc lớp 2 là các sự tình, là nghĩa miêu tả