Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong các mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau.. Khái niệm về liên hệ, mối liên hệ và mối
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN:
TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
ĐỀ BÀI :
Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận
“Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến” để lí giải một vấn
đề của thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
PHẦẦN M ĐẦẦU Ở - 3
PHẦẦN N I DUNG Ộ - 4
PHẦẦN 1: N I DUNG VÀ Ý NGHĨA PH Ộ ƯƠ NG PHÁP LU N C A Ậ Ủ NGUYÊN LÝ VÊẦ MỐỐI LIÊN H PH BIÊỐN Ệ Ổ 4 I N Ộ I DUNG C A Ủ NGUYÊN LÝ VÊẦ MỐỐI LIÊN HỆ PHỔ BIÊỐN -4
II Ý NGHĨA PH ƯƠ NG PHÁP LU N Ậ C A Ủ NGUYÊN LÝ VÊẦ MỐỐI LIÊN HỆ PHỔ BIÊỐN -6
PHẦẦN 2: V N D NG N I DUNG VÀ Ý NGHĨA PH Ậ Ụ Ộ ƯƠ NG PHÁP LU N “ Ậ NGUYÊN LÝ VÊẦ MỐỐI LIÊN H Ệ PH BIÊỐN Ổ ” Đ Ể LÍ GI I HO T Đ NG H C T P C A H C SINH, SINH VIÊN HI N NAY Ả Ạ Ộ Ọ Ậ Ủ Ọ Ệ -7
I.M ỐỐI LIÊN HỆ GI A Ữ H C Ọ T P Ậ VÀ TH C Ự HÀNH : -7
II.Đ ÁNH GIÁ TH C Ự TR NG Ạ VI C Ệ V N Ậ D NG Ụ MỐỐI LIÊN HỆ GI A Ữ H C Ọ T P Ậ VÀ TH C Ự HÀNH TRONG HO T Ạ Đ NG Ộ H C Ọ T P Ậ C A Ủ H C Ọ SINH , SINH VIÊN HI N Ệ NAY : -8
III.G I I Ả PHÁP KHẮỐC PH C Ụ : -9
T NG KÊỐT: Ổ - 10
TÀI LI U THAM KH O: Ệ Ả - 11
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học - một khái niệm hiện hữu trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống, tưởng như là vô cùng quen thuộc với chúng ta nhưng cũng không kém phần mơ hồ, trừu tượng Tồn tại dưới tư cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học đã đem đến cho chúng ta một bức tranh toàn diện và tổng quát nhất về thế giới khách quan cũng như về vị trí của con người trong thế giới đó Xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của triết học, đã có rất nhiều học thuyết được đưa ra Tuy nhiên, bài luận sau đây của em sẽ chỉ tập trung giải quyết vấn đề theo quan điểm triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin
Triết học Mác Lênin vốn được biết đến là triết học duy vật biện chứng triệt để Theo đó, phép biện chứng duy vật, cùng với hệ thống những nguyên lý, quy luật và phạm trù của nó, đã phản ánh sự vật, hiện tượng một cách chính xác
nhất Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự
phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất đóng vai trò xương sống trong phép
duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin khi xem xét, giải thích sự vật, hiện tượng
Từ đây, em đã lựa chọn đi sâu và nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến, với chủ đề là: “Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận “Nguyên
lý về mối liên hệ phổ biến” để lí giải một vấn đề của thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong các mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau Việc áp dụng nguyên lí này khi xem xét, nghiên cứu một vấn đề, sự vật hay hiện tượng đời sống sẽ giúp ta có cái nhìn tổng thể và đạt được sự thấu hiểu sâu sắc về các vấn đề, sự vật, hiện tượng đó Hi vọng rằng bài nghiên cứu của em sẽ không chỉ cung cấp cho người đọc một cái nhìn rõ ràng hơn, sâu sắc hơn về thế giới khách quan nói chung mà còn giúp mọi người biết cách vận dụng lý thuyết vào thực tế
để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống hàng ngày
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
PHẦN 1: NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
I Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
1 Khái niệm về liên hệ, mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến
- Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc
tương hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau
Trong đó liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác
động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các
mặt của một sự vật, một hiện tượng Theo cách khác, có thể hiểu, liên hệ là quan
hệ giữa hai đối tượng nếu sự thay đổi của một trong số chúng nhất định làm đối tượng kia thay đổi
Ngược lại, cô lập (tách rời) là trạng thái của các đối tượng khi sự thay đổi
của đối tượng này không làm ảnh hưởng đến các đối tượng khác, không làm chúng thay đổi
- Mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ, khẳng định rằng mối liên hệ là cái vốn có của tất thảy mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, không loại trừ sự vật, hiện tượng nào
- Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khẳng định rằng, không
có đối tượng nào luôn liên hệ còn những đối tượng khác chỉ cô lập Trong các trường hợp liên hệ vẫn có sự cô lập và ở các trường hợp cô lập vẫn có mối liên
hệ qua lại Mọi đối tượng đều trong trạng thái vừa cô lập vừa liên hệ với nhau Chúng liên hệ với nhau ở một số khía cạnh và không liên hệ với nhau ở những khía cạnh khác, trong chúng có cả những biến đổi khiến các đối tượng khác thay đổi lẫn những biến đổi không làm các đối tượng khác thay đổi Như vậy, quan điểm biện chứng duy vật cho rằng, các sự vật, hiện tượng của thế giới tồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau, không tách biệt nhau
2 Tính chất của mối liên hệ phổ biến.
Trang 5Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất cơ bản của mối liên hệ
- Tính khách quan:
Mối liên hệ của sự vật, hiện tượng của thế giới đều là cái vốn có, nó tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức con người Tức là con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó chứ không được quyết định
Ví dụ: Sự phụ thuộc của các loài sinh vật vào môi trường, khi môi trường thay đổi, sinh vật cũng tự thay đổi để thích ứng: các loài sinh vật biến nhiệt thay đổi nhiệt độ cơ thể để phù hợp với nhiệt độ môi trường sống Điều này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người mà là điều vốn có trong tự nhiên
- Tính phổ biến:
Tính phổ biến thể hiện ở chỗ, bất kỳ ở đâu, trong tự nhiên, xã hội và tư duy đều có vô vàn mối liên hệ đa dạng, chúng giữ những vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận động, chuyển hoá của các sự vật, hiện tượng Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hoá lẫn nhau không những diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy, mà còn diễn ra giữa các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng
Ví dụ: Mối liên hệ giữa cây cối và mặt trời là qua hình thức quang hợp, khi cây hấp thụ ánh sáng mặt trời để thực hiện quá trình “hô hấp” và sinh trưởng Đồng thời, cùng lúc ấy, trong chính bản thân cái cây cũng có tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau của các bộ phận như lá, rễ, …
- Tính đa dạng, phong phú:
Sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì mối liên hệ biểu hiện khác nhau Có thể chia các mối liên hệ thành nhiều loại: mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ trực tiếp, mối liên hệ gián tiếp, … Các mối liên hệ này có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng
Ví dụ: Các loài vật đều có mối liên hệ với nước nhưng ở các mức độ khác nhau: cá không thể sống thiếu nước và rời khỏi môi trường nước chúng sẽ chết; với loài chim thú, nước cũng rất quan trọng để uống nhưng không cấp thiết đến từng giây phút như cá; với loài người, nước không chỉ để uống mà còn để nấu
ăn, làm thuỷ điện, …
Trang 6Tuy để phân loại các mối quan hệ cần tuỳ thuộc vào tính chất và vai trò của từng mối liên hệ nhưng việc phân loại này chỉ mang tính tương đối, bởi vì các mối liên hệ của các đối tượng rất phức tạp, không thể tách chúng khỏi tất cả các mối liên hệ khác Mọi liên hệ còn cần được nghiên cứu cụ thể trong sự biến đổi và phát triển cụ thể của chúng
II Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
1 Quan điểm toàn diện:
Từ nguyên lí về mối liên hệ phổ biến của phép duy vật biện chứng, rút ra
nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Nguyên
tắc này yêu cầu:
+ Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong
chỉnh thể thống nhất của các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính và các mối liên hệ của đối tượng đó
+ Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của
đối tượng đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại, chỉ có như vậy, nhận thức mới có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên hệ, quan hệ và tác động qua lại của đối tượng
+ Thứ ba, cần xem xét đối tượng trong mối liên hệ với đối tượng khác và
môi trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp Đồng thời, cần xem xét đối tượng trong không gian, thời gian nhất định, nghĩa là phải nghiên cứu quá trình vận động của đối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán tương lai của nó
+ Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện chỉ thấy
mặt này mà không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xét tràn lan, dàn đều, không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật nguỵ biện (cố ý đánh tráo các mối liên hệ cơ bản thành không cơ bản hoặc ngược lại)
và chủ nghĩa chiết trung (lắp ghép vô nguyên tắc các mối liên hệ trái ngược nhau vào một mối liên hệ phổ biến)
Như vậy, khi xem xét các đối tượng, ta phải nghiên cứu chúng trong mối
quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, giữa các mặt của đối tượng
và trong sự tác động qua lại giữa đối tượng đó với các đối tượng khác Chỉ như vậy mới có thể nhận thức đúng đắn, chính xác về sự vật, hiện tượng và xử lí hiệu
Trang 7quả các vấn đề trong cuộc sống Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, chiết trung, nguỵ biện trong nhận thức và thực tiễn
2 Quan điểm lịch sử - cụ thể :
Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật còn rút ra nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Nguyên tắc này yêu cầu xem xét sự vật, hiện tượng trong những mối liên hệ cụ thể, có tính đến lịch sử hình thành, tồn tại, dự báo xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng Cơ sở lý luận của nguyên tắc này là không gian, thời gian với vận động của vật chất, là quan niệm chân lý, là cụ thể và chính nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
PHẦN 2: VẬN DỤNG NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN “NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN” ĐỂ LÍ GIẢI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN HIỆN NAY
Chúng ta có thể áp dụng cả các nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc lịch sử
- cụ thể trong việc học của mình Trong học tập luôn xác định được mục tiêu, động cơ và thái độ đúng đắn để đạt điểm cao hơn Việc áp dụng quan điểm toàn diện và lịch sử - cụ thể giúp định hướng việc học sâu hơn và cao hơn Vận dụng quan điểm trên cần có những phân tích, phản ánh cụ thể, toàn diện và phù hợp trên tất cả các khía cạnh của mỗi nghiên cứu
I.Mối liên hệ giữa học tập và thực hành:
+ Hoạt động học tập là gì?
Chúng ta cần phân biệt khái niệm học và hoạt động học Trong cuộc sống, con người luôn có quá trình tiếp thu và tích luỹ kinh nghiệm sống làm tiền đề tạo nên những tri thức khoa học mới và làm tiền đề để tiếp thu những tri thức ở trong nhà trường Đó là việc học, cách học theo phương pháp của cuộc sống thường ngày, tựa như khi con người sinh ra phải “học ăn học nói học gói học mở”, “đi một ngày đàng học một sàng khôn” … Hoạt động học là hoạt động tiếp thu tri thức Trên thực tế, hoạt động học là hoạt động đặc biệt mà chỉ có phương thức học đặc thù (phương thức nhà trường) mới có khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành hoạt động này Qua đó hình thành ở cá nhân những tri thức và năng lực phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn Như vậy, có thể nói, việc học không dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời sống mà phải tiến đến những tri thức có tính lựa chọn cao, khái quát và hệ thống hoá
Trang 8+ Thực hành là gì?
Thực hành là ứng dụng, vận dụng lí thuyết, kiến thức vào đời sống thực tiễn Là quá trình áp dụng những tri thức đã có sẵn hay học hỏi được để làm lại, thực hành lại bằng hành động cụ thể và đem lại kết quả thực tế
+ Mối liên hệ giữa học tập và thực hành là gì?
“Học” luôn phải đi đôi với “hành” thì mới có kết quả tốt Học và hành có mối quan hệ chặt chẽ trong cuộc sống, luôn song hành với nhau Không thể có học mà không có thực hành và ngược lại Học tập là quá trình tích lũy kiến thức
và là nền tảng của mọi vấn đề trong công việc và cuộc sống Học có thể coi là gốc của cây, có gốc thì cây mới sinh trưởng tốt, đẻ nhánh nhiều, vững vàng, không khuất phục trước gió mưa của cuộc đời Học tập sẽ là một ngọn nến soi sáng cho thực hành Nhưng nếu chỉ học mà không áp dụng vào thực tế thì kiến thức đó trở nên vô dụng, lãng phí sức lực, tiền bạc và thời gian Có câu: “Mọi lý thuyết đều là màu xám, nhưng cây đời thì mãi mãi xanh tươi” Luyện tập sẽ giúp
bổ sung và trau dồi kiến thức Đặc biệt trong thời đại công nghệ ngày nay, thực hành tốt là một yêu cầu quan trọng đối với người lao động Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu rõ: Lí luận phải đi đôi với thực tiễn, lí luận mà không có thực tiễn chỉ là lí thuyết suông Bác vận dụng sáng tạo, có hiệu quả lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn đấu tranh của dân tộc ta, đưa nhân dân ta ra khỏi vũng lầy nô lệ, thoát khỏi gông cùm của áp bức, bóc lột, giành lại quyền tự
do cho dân tộc UNESCO cũng đề xuất cách tiếp cận này: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định chính mình” Ngược lại, nếu hành mà không có lí thuyết, tri thức, kinh nghiệm đã đúc kết được dẫn dắt thì việc ứng dụng vào thực tế sẽ gặp nhiều khó khăn, lúng túng và có thể dẫn đến những sai lầm lớn Như vậy, học tập và thực hành có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, là hai mặt của một quá trình thống nhất, không thể tách rời mà phải luôn song hành
II.Đánh giá thực trạng việc vận dụng mối liên hệ giữa học tập và thực hành trong hoạt động học tập của học sinh, sinh viên hiện nay:
Mặt tích cực: hiểu và vận dụng mối liên hệ giữa học lí thuyết và
thực hành giúp học sinh, sinh viên:
+ Phát triển toàn diện, vừa nắm bắt tốt kiến thức trên sách vở, tài liệu, vừa có thể áp dụng vào cuộc sống thực tiễn một cách linh hoạt, linh
Trang 9+ Kiểm chứng được lí thuyết, tri thức mình tiếp thu có áp dụng được vào thực tiễn không, từ đó nắm chắc, nhớ lâu kiến thức hơn, đồng thời hiểu sâu vấn đề được học một cách hiệu quả hơn
+ Có những khoảng thời gian học tập thú vị và thu hút hơn, không nhàm chán khi chỉ nghe giảng lí thuyết mà không thực hành
+ Được vận dụng những tri thức vào thực tế một cách tự do, linh hoạt, sáng tạo và chủ động, không bị rập khuôn Từ đó có được những kiến thức chuyên sâu, hoàn thiện những kĩ năng làm việc và kĩ năng mềm
bổ trợ cho công việc sau này
+ Cải thiện khả năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, mở rộng mối quan hệ khi hoạt động, làm việc nhóm
Như vậy, có thể thấy, “học” và “hành” có mối liên hệ phụ thuộc, tác động lẫn nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau và gắn liền với thực tế Sự kết hợp này giúp tương lai của học sinh, sinh viên trở nên thuận lợi, thành công, giúp thực hiện hoá các ước mơ, mục tiêu trong cuộc sống
Mặt hạn chế:
+ Nền giáo dục nước nhà hiện nay còn coi trọng lý thuyết mà kém thực hành, làm cho nền giáo dục chưa phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội Mặt khác, do điều kiện kinh tế nước nhà, chưa thể đầu tư nhiều dụng cụ, phòng thí nghiệm chất lượng cho các môn học
+ Do có nhận thức chưa đúng về mối liên hệ giữa học lý thuyết và thực hành nên xem trọng học lý thuyết hơn thực hành hoặc ngược lại, tách biệt lẫn nhau nên dẫn đến kết quả học tập không tốt (học tập không có
kế hoạch, mục tiêu, phương pháp đúng đắn; lười biếng, sống mơ mộng viển vông về cuộc đời nhưng không có ý chí hành động) hoặc không thể áp dụng vào cuộc sống
III.Giải pháp khắc phục:
+ Mỗi cá nhân cần xác định rõ mục tiêu và kế hoạch theo mong muốn của bản thân mà không bị ép buộc để tạo động lực thúc đẩy bản thân ngày càng cố gắng hơn để đạt được mục tiêu của mình
+ Sống thực tế, không mơ mộng, hành động ngay khi đã lên kế hoạch + Trường học cần kết hợp giữa học tập và tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên được thực hành song song với học lí thuyết
Trang 10TỔNG KẾT:
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là các sự vật, hiện tượng luôn tồn tại trong các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, tương tác lẫn nhau, không có một sự vật, hiện tượng nào đứng thực sự biệt lập và chúng ta phải nhìn sự vật, hiện tượng một cách đa diện và có mối liên hệ để xử lí hiệu quả các vấn đề trong cuộc sống
Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lí về mối liên hệ phổ biến vào lí giải mối liên hệ giữa học lí thuyết và thực hành em rút ra kết luận sau:
Mối quan hệ giữa học lý thuyết và thực hành là mối quan hệ biện chứng, phụ thuộc vào nhau, tác động lẫn nhau Học mà không thực hành thì kiến thức trở nên lãng phí; và ngược lại, chỉ thực hành mà không học hỏi thì lúng túng và không đạt hiệu quả cao Học đi đôi với hành là cần thiết và quan trọng để phát triển toàn diện Đây cũng là một nguyên lí giáo dục quan trọng nhưng không phải ai cũng hiểu điều đó
Trên đây là toàn bộ bài tập mà em đã thực hiện Mặc dù đã rất cố gắng, tuy nhiên do chưa có nhiều kinh nghiệm trong tìm kiếm tài liệu, truy xuất thông tin, kiến thức và kĩ năng còn cần cải thiện, nên em hi vọng có thể nhận được những góp ý, chỉnh sửa của thầy cô để ngày càng tiến bộ và hoàn thiện hơn ạ
Em xin chân thành cảm ơn!