Trong con người Tư Ánh – tên thường nhật của ông – còn có nhà thơ Hưởng Triều, nhà văn Nguyễn Hiểu Trường, nhà viết kịch nói và kịch bản điện ảnh Nguyễn Trương Thiên Lý, nhà chính luận T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGÔ THỊ HỒNG MINH
PHONG CÁCH CHÍNH LUẬN CỦA NHÀ BÁO TRẦN BẠCH ĐẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội, 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGÔ THỊ HỒNG MINH
PHONG CÁCH CHÍNH LUẬN CỦA NHÀ BÁO TRẦN BẠCH ĐẰNG
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Dững
Hà Nội, 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin được gửi lời cám ơn trân trọng đến các Thầy giáo, Cô giáo trong và ngoài khoa Báo chí & Truyền thông – trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã nhiệt tình truyền thụ tri thức cho em trong những năm qua
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Dững,
đã tận tình dìu dắt, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, xin cám ơn người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm góp ý
và động viên tôi trong suốt quá trình học và viết luận văn này
Tp.HCM, tháng 12 năm 2011
Ngô Thị Hồng Minh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nên trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Ngô Thị Hồng Minh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Tính thời sự và lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 9
7 Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHONG CÁCH CHÍNH LUẬN VÀ TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHÍNH LUẬN 11
1.1 Một số khái niệm cơ bản về phong cách chính luận 11
1.1.1 Phong cách 11
1.1.2 Chính luận 13
1.1.3 Phong cách chính luận 14
1.1.4 Phong cách ngôn ngữ chính luận trong tác phẩm báo chí 15
1.2.Nhận diện phong cách chính luận qua tác phẩm báo chí chính luận……… …….16
1.2.1 Nhận diện tác phẩm báo chí chính luận 18
1.2.2 Hoàn cảnh xuất hiện tác phẩm báo chí chính luận 18
1.2.3 Vai trò của tác phẩm báo chí chính luận trong đời sống báo chí và đời sống xã hội 22
1.2.4 Trần Bạch Đằng- một trong những cây bút chính luận xuất sắc của nền báo chí cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới 23
1.3 Khái quát về sự nghiệp báo chí Trần Bạch Đằng 24
1.3.1 Cuộc đời - sự nghiệp báo chí Trần Bạch Đằng 24
1.3.2 Chính luận – khuynh hướng xuyên suốt các tác phẩm báo chí Trần Bạch Đằng 29
Tiểu kết chương 1 32
Trang 6CHƯƠNG 2: TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHÍNH LUẬN CỦA NHÀ BÁO TRẦN
BẠCH ĐẰNG 34
2.1 Nội dung tác phẩm báo chí chính luận Trần Bạch Đằng 34
2.1.1 Đề tài Chính trị - Xã hội 35
2.1.2 Đề tài Kinh tế 38
2.1.3 Đề tài Chống tham nhũng 41
2.1.4 Đề tài Thể thao 43
2.1.5 Đề tài Công an nhân dân 46
2.1.6 Đề tài Quốc tế 48
2.2 Nghệ thuật thể hiện tác phẩm báo chí chính luận Trần Bạch Đằng 51
2.2.1 Chọn góc tiếp cận mới, lạ 51
2.2.2 Nghệ thuật đặt tên (rút tít) tác phẩm 52
2.3 Nhận diện phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng 59
2.3.1 Luận bàn những vấn đề lớn, bức xúc, liên quan đến vận mệnh của Đảng, của quốc gia, dân tộc .59
2.3.2 Đậm chất văn chương 61
2.3.3 Giàu tố chất Nam bộ 65
2.3.4 Viết nhiều, viết nhanh, viết sắc 68
Tiểu kết chương 2 70
CHƯƠNG 3: HỌC CÁCH ỨNG XỬ VĂN HÓA VỚI TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHÍNH LUẬN TỪ NHÀ BÁO TRẦN BẠCH ĐẰNG 71
3.1 Cách ứng xử văn hóa của một nhà báo chuyên nghiệp, chuyên viết chính luận71 3.1.1 Ứng xử linh hoạt, uyển chuyển với môi trường truyền thông Việt Nam trong giai đoạn đổi mới 71
3.1.2 Ứng xử cẩn trọng với tư liệu 75
3.1.3 Ứng xử phong nhã với tiếng Việt 78
3.1.4 Ứng xử lịch thiệp với người đọc 79
3.1.5 Ứng xử chuyên nghiệp với cách tổ chức tác phẩm báo chí chính luận 81
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao tính chính luận trong tác phẩm báo chí 86
Trang 73.2.1 Nâng cao năng lực tư duy lý luận và gắn chặt tư duy lý luận với thực tiễn
báo chí sôi động 86
3.2.2 Phải có chính kiến và cách thể hiện chính kiến để định hướng dư luận 89 3.2.3 Ngôn ngữ diễn đạt tác phẩm báo chí nhất định phải là ngôn ngữ chính luận 90
3.3 Một số giải pháp về hoạt động đào tạo phóng viên, nhà báo viết chính luận 91
3.3.1 Đối với hoạt động đào tạo cơ bản trong nhà trường 91
3.3.2 Đối với hoạt động đào tạo tại chỗ ở các cơ quan báo chí 93
Tiểu kết chương 3 .94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 103
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính thời sự và lý do chọn đề tài
Từ khi ra đời và phát triển đến nay, báo chí luôn vận động trong sự đổi mới
cả nội dung và hình thức thể hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng Điều đó làm hình thành một hệ thống các nhóm thể loại riêng của báo chí Trong đó, mỗi nhóm thể loại có đặc điểm riêng, cách thức riêng, lợi thế riêng trong việc phản ánh hiện thực khách quan Đồng thời, nó cũng làm xuất hiện những tác giả, nhà báo không ngừng sáng tạo trong việc sử dụng thể loại báo chí với ngôn ngữ, giọng điệu mang đặc trưng riêng của mình để tạo ra những tác phẩm báo chí hấp dẫn bởi vừa có khả năng thông tin sự kiện, vừa sử dụng lý lẽ soi vào sự kiện hiện tượng nhằm định hướng công chúng đến hành động tích cực
Nhóm thể loại báo chí chính luận ra đời đáp ứng những nhu cầu đó Thế mạnh của nhóm thể loại này thể hiện ở năng lực thông tin lý lẽ trên cơ sở của những
sự việc, sự kiện, hoàn cảnh, tình huống tiêu biểu mới xuất hiện trong đời sống với một nghệ thuật lập luận chặt chẽ, với việc sử dụng bút pháp, ngôn từ rất mềm dẻo, linh hoạt Các tác phẩm báo chí chính luận có khả năng bao quát cuộc sống, phản ánh từ những sự kiện trọng đại đến nét sinh hoạt đời thường trong mọi lĩnh vực chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội Nó theo sát diễn biến của đời sống, nhạy bén với những sự kiện mới mẻ trong dòng thời sự, có khả năng phát hiện hướng vận động của hiện thực Với tất cả những khả năng trên, báo chí chính luận trở thành nhóm thể loại xung kích không thể thiếu trên mặt trận văn hóa thông tin
Mỗi nhà báo đến độ phát triển nào đó của tài năng thì cũng bộc lộ rõ phong cách Có phong cách báo chí lớn như Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với cuộc đời trên 50 năm hoạt động báo chí và hàng nghìn bài báo Đó là phong cách của một nhà báo chiến sỹ suốt cuộc đời đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân, luôn luận chiến chống lại kẻ thù bằng chính nghĩa và lý lẽ sắc
bén Người từng nói: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng Cây bút, trang
giấy là vũ khí sắc bén của họ” Có thể nói trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
và xây dựng Tổ quốc, nền báo chí cách mạng đã sản sinh ra những người con ưu tú
Trang 9Với tinh thần trách nhiệm cao trước xã hội, trước nhân dân, họ luôn quan tâm đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống, nhạy cảm trước những biến thiên tích cực cũng như tiêu cực của xã hội, rất nghiêm khắc trong việc phê phán những hiện tượng sai trái và có nhiều kiến nghị sâu sắc về việc đổi mới đất nước Những tác phẩm đó góp phần không nhỏ trong việc cổ vũ, khích lệ những nhân tố mới, đấu tranh chống tiêu cực, đem đến cho nhân dân sự tin tưởng vào đường lối, chủ trương cách mạng đúng đắn của Đảng và Nhà nước Nhà báo Trần Bạch Đằng là một trong số ít những người con ưu tú đó
Trong cuộc đời 60 năm cầm bút, Trần Bạch Đằng là cây bút đa dạng, đa tài Trong con người Tư Ánh – tên thường nhật của ông – còn có nhà thơ Hưởng Triều, nhà văn Nguyễn Hiểu Trường, nhà viết kịch nói và kịch bản điện ảnh Nguyễn Trương Thiên Lý, nhà chính luận Trần Quang, nhà nghiên cứu lịch sử, địa chí Trần Bạch Đằng… Và quán xuyến trên tất cả, ông là nhà hoạt động chính trị, tham gia phong trào cách mạng từ năm 17 tuổi, đã từng giữ các vị trí lãnh đạo quan trọng và được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh Nhưng, như lời ông tự bạch trong cuốn
Trần Bạch Đằng – cuộc đời và ký ức: “Báo chí là trận địa mà tôi ưa thích, và viết
báo với tất cả hứng thú sẽ cùng đi với tôi đến khi tôi không còn viết được nữa”
Trong thời gian 20 năm (1987-2007), Trần Bạch Đằng tập trung tinh thần và trí tuệ vào công việc của nhà viết chính luận Đặc biệt trong 10 năm cuối đời, tên của Trần Bạch Đằng hầu như không hề vắng mặt trên các nhật báo, tuần báo, bán nguyệt san và nguyệt san Các tác phẩm báo chí chính luận của ông không chỉ được đăng tải trên các báo của thành phố Hồ Chí Minh, mà còn trên các báo của địa phương Nam bộ và cả các báo ở trung ương Có thể nói, trong suốt 3.650 ngày đó, không ngày nào là không có bài của Trần Bạch Đằng, không đăng ở báo này thì đăng ở báo khác Điều đó cho thấy sức đọc, sức suy nghĩ, sức viết của ông thật đáng khâm phục
Với nền tảng văn hóa sâu rộng, mỗi khi đặt bút, Trần Bạch Đằng phân tích,
lý giải các vấn đề hết sức thông tuệ, thuyết phục, độc đáo Hầu như bất kỳ bài nào của ông, từ thiên bút ký dài cho đến tiểu phẩm mươi, mười lăm dòng, người ta cũng
Trang 10có thể lẩy ra những ý mới, những nhận xét, suy ngẫm ít người nghĩ tới Có lẽ, chính những điều này đã làm cho giọng văn chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng rất đặc biệt, mang đậm phong cách cá nhân, không thể lẫn với bất kỳ ai khác
Nghiên cứu phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng để thấy được những đóng góp giá trị của ông cho thể loại báo chí chính luận, để rút ra được những bài học kinh nghiệm về ứng xử văn hóa với tác phẩm báo chí chính luận cho thế hệ nhà báo đang và sẽ viết thể loại báo chí chính luận là một công việc hết sức cần thiết, mang nhiều ý nghĩa Chính vì thế, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tôi
chọn đề tài nghiên cứu: PHONG CÁCH CHÍNH LUẬN CỦA NHÀ BÁO TRẦN
BẠCH ĐẰNG
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đã có một số khóa luận, luận văn tốt nghiệp tại khoa Báo chí và Truyền thông, đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội nghiên cứu về phong cách một
cá nhân nhà báo như Tìm hiểu phóng sự Huỳnh Dũng Nhân của tác giả Nguyễn Thị Hồng Cúc, Phong cách ngôn ngữ nhà báo Hữu Thọ của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung, Phong cách báo chí Lý Sinh Sự của tác giả Nghiêm Thị Thu Hà, Phong cách
hài trong các tiểu phẩm báo chí hiện đại qua ba nhà báo Lý Sinh Sự, Lê Thị Liên Hoan, Thảo Hảo của tác giả Trần Xuân Thân, Tác phẩm ký báo chí của nhà báo Phan Quang của tác giả Hoàng Thu Hằng v.v Cho đến thời điểm này, chưa thấy
công trình nghiên cứu nào về Phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng
Trần Bạch Đằng viết rất nhiều Riêng từ ngày thống nhất đất nước đến nay ông đã viết hàng nghìn bài báo đăng trên hàng chục tờ báo từ Trung ương đến địa phương, trong đó, tỉ lệ bài báo chính luận là áp đảo Có những bài báo chính luận đã
được tập hợp, tuyển chọn và in thành một số cuốn như Truyện dài nhiều thế kỷ,
Thanh kiếm và lá chắn, Đổi mới - Đi lên từ thực tế, Tuyển tập Trần Bạch Đằng v.v
Cũng có một số bài phỏng vấn, bài viết nêu lên những suy nghĩ, quan điểm của ông
về nghề báo cũng như những nhận xét, đánh giá chung của các nhà báo, nhà văn, nhà lãnh đạo về cuộc đời sự nghiệp báo chí của ông Tuy nhiên, các tài liệu đó còn
phân tán và chưa có hệ thống đầy đủ
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu, phân tích các tác phẩm báo chí chính luận của Trần Bạch Đằng, luận văn sẽ bước đầu nhận diện phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng để thấy được những đóng góp của một nhà báo lão thành đã có 60 năm cầm bút Từ đó, luận văn cũng rút ra một số bài học kinh nghiệm về cách ứng
xử văn hóa với tác phẩm báo chí chính luận từ nhà báo Trần Bạch Đằng và nêu lên một số giải pháp về việc nâng cao tính chính luận trong tác phẩm báo chí và về hoạt động đào tạo phóng viên, nhà báo viết chính luận Bên cạnh đó, luận văn cũng hy vọng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng
Đề tài hy vọng sẽ góp phần bổ sung cho kiến thức lý luận báo chí về phong cách của các nhà báo hiện đại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
-Hệ thống hóa và xây dựng các khái niệm liên quan vấn đề nghiên cứu, góp phần làm rõ khung lý thuyết và nhận diện phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng
-Khảo sát các tác phẩm báo chí chính luận của Trần Bạch Đằng đã đăng tải trên
các báo: Thanh Niên, Phụ Nữ TP.HCM, Công An TP.HCM, Tuổi Trẻ, Sài Gòn Giải Phóng, Phụ Nữ, Lao Động (giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2007), để phân
tích những đặc điểm định hình nên phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng
-Khảo sát nguồn tư liệu riêng từ phía gia đình cố nhà báo Trần Bạch Đằng, và tìm hiểu những ý kiến, đánh giá nhận xét từ báo giới, từ công chúng, từ các nhà lãnh đạo có uy tín… nhằm phục vụ cho mục đích đề tài
-Phân tích so sánh dựa trên lý thuyết và tư liệu khảo sát để nhận diện những đặc điểm nổi bật trong phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng, từ đó, luận
Trang 12văn rút ra bài học kinh nghiệm về ứng xử văn hóa với tác phẩm báo chí chính luận
và nêu lên một số giải pháp về việc nâng cao tính chính luận trong tác phẩm báo chí
và về hoạt động đào tạo phóng viên, nhà báo viết chính luận
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Là phong cách chính luận của nhà báo Trần
Bạch Đằng
Đối tượng khảo sát:
-Các tác phẩm báo chí chính luận của Trần Bạch Đằng
-Các bài viết, bài phỏng vấn Trần Bạch Đằng
-Các cuốn sách của Trần Bạch Đằng đã xuất bản liên quan tới cuộc đời và chặng đường làm báo của ông
-Các tờ báo đăng các tác phẩm báo chí chính luận của Trần Bạch Đằng: Tuổi Trẻ,
Thanh Niên, Sài Gòn Giải Phóng, Phụ Nữ TP.HCM, Lao Động, Công An TP.HCM
Đặc biệt, tập trung nghiên cứu 03 tờ thường xuyên, liên tục xuất hiện các bài báo
chính luận của Trần Bạch Đằng trong suốt 10 năm (1998-2007), đó là: Thanh Niên, Phụ Nữ TP.HCM và Công An TP.HCM
- Gia đình cố nhà báo, nhóm trợ lý, thư ký giúp việc cho cố nhà báo qua các thời kỳ; một số Tổng biên tập, các nhà báo phụ trách mảng báo chí chính luận ở các tờ báo
mà Trần Bạch Đằng từng cộng tác; Ban tuyên giáo thành ủy và văn phòng tuyên giáo trung ương, cùng một số công chúng yêu mến tác giả Trần Bạch Đằng qua các tác phẩm báo chí chính luận do ông viết
Trang 13-Khảo sát các tác phẩm báo chí chính luận của Trần Bạch Đằng đăng tải trên
các tờ báo khác phục vụ triển khai đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
-Phương pháp tổng hợp tài liệu để nghiên cứu các tài liệu về chính luận, phong cách chính luận, tác phẩm báo chí chính luận cũng như các tài liệu liên quan
-Phương pháp thống kê, phân loại được dùng để khảo sát và thống kê các tác phẩm báo chí chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng trên ba tờ báo tiêu biểu:
Thanh Niên, Phụ Nữ TP.HCM, Công An TP.HCM, trong khoảng thời gian
1998-2007
-Phương pháp phân tích ngữ văn được dùng để nghiên cứu văn bản tác phẩm báo chí chính luận của Trần Bạch Đằng
-Phương pháp phỏng vấn sâu được dùng để phỏng vấn người thân gia đình
cố nhà báo Trần Bạch Đằng, các cơ quan truyền thông, các chuyên gia, công chúng… quan tâm đến phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Với mục đích của luận văn như đã xác định, hệ thống hóa và xây dựng các khái niệm liên quan đến phong cách, phong cách chính luận…, luận văn bước đầu nhận diện phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng để thấy được những đóng góp của một nhà báo lão thành đã có 60 năm cầm bút Từ đó, luận văn đúc rút những bài học kinh nghiệm về cách ứng xử văn hóa với tác phẩm báo chí chính luận
và đưa ra một số giải pháp về việc nâng cao tính chính luận trong tác phẩm báo chí
và về hoạt động đào tạo phóng viên, nhà báo viết chính luận
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Một đóng góp rất lớn vào dòng chảy báo chí Việt Nam đang diễn ra sôi động như hiện nay chính là nhờ sự xuất hiện của nhà báo chuyên viết mảng chính luận Các nhà báo này không chỉ có nhiệm vụ thông tin về sự thật mà còn phân tích, lý
Trang 14giải, bàn luận, đánh giá những sự thật đó trên cơ sở của một thái độ rõ ràng nhằm
hướng dẫn, điều chỉnh dư luận Vì lẽ đó, đối với các phóng viên, nhà báo, viết chính
luận là một công việc khó nhưng không kém phần hấp dẫn Và viết chính luận hay, thể hiện “bản sắc” riêng lại càng đòi hỏi độ khó hơn Do vậy, việc nghiên cứu phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng, người được mệnh danh là “nhà báo viết chính luận xuất sắc hiếm thấy trong những năm gần đây” mang một ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Hiện nay, các tác phẩm báo chí chính luận trên báo in trong nước đang rất thiếu và yếu, bởi rất ít người gắn bó với thể loại này Nếu có thì lại sa vào dễ dãi, đôi lúc đôi chỗ có sự quá đà, không thống nhất và thiếu chuyên nghiệp Vì thế, tìm hiểu phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng cũng là một công việc có
ý nghĩa nghiệp vụ góp phần vào việc đào tạo và tự đào tạo nhà báo chính luận
Luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích và thú vị cho các cơ sở đào tạo báo chí – truyền thông, cho sinh viên, các nhà báo và những ai quan tâm đến báo chí chính luận nói chung, đến nhà báo Trần Bạch Đằng nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận
Trang 15CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHONG CÁCH CHÍNH LUẬN VÀ
TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHÍNH LUẬN 1.1 Một số khái niệm cơ bản về phong cách chính luận
đầu chỉ có nghĩa là nét chữ, sau dần có nghĩa là bút pháp với những đặc điểm ngôn
ngữ và văn thể Và cuối cùng mới có nghĩa là “phong cách” như trong câu châm ngôn “Phong cách là người” của Buyphông mà Mác đã có lần nhắc đến [25, tr.481]
Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2000 định nghĩa “phong cách” là:
-“Những lối, những cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động, xử sự tạo nên
cái riêng của một người hay của một loại người nào đó (nói tổng quát)” Ví dụ:
Phong cách lao động mới Phong cách lãnh đạo Phong cách quân nhân Phong cách sống giản dị
- Phong cách là những đặc điểm có tính chất hệ thống về tư tưởng và nghệ thuật, biểu hiện trong sáng tác của một nghệ sỹ hay trong các sáng tác nói chung
thuộc về cùng một thể loại (nói tổng quát) Ví dụ: Phong cách của một nhà văn
Phong cách văn học nghệ thuật
- Phong cách là dạng của ngôn ngữ sử dụng trong những yêu cầu chức năng
điển hình nào đó, khác với những dạng khác về đặc điểm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ
âm Ví dụ: Phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách chính luận, phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật”
Từ xưa đến nay, thuật ngữ “phong cách” được dùng ở nhiều địa hạt nghiên cứu khác nhau và cả trong giao tiếp đời thường Chẳng hạn, trong nghiên cứu văn hóa, phong cách được dùng để chỉ những đặc điểm văn hóa mang tính dân tộc, thời đại Trong điêu khắc, hội họa, phong cách được dùng để biểu thị một cách thức, trường phái sáng tác Trong nghệ thuật biểu diễn, phong cách được dùng để chỉ đặc
Trang 16điểm về nghệ thuật trình bày Trong thể thao, phong cách dùng để chỉ một lối chơi trong thi đấu… Đặc biệt, trong lĩnh vực văn học, “phong cách” được sử dụng khá nhiều và được nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” (1999): “Phong cách là quy luật thống
nhất các yếu tố của chỉnh thể nghệ thuật, là một biểu hiện của tính nghệ thuật Không phải bất kỳ nhà văn nào cũng có phong cách Chỉ những nhà văn nào có tài năng có bản lĩnh mới có được phong cách riêng độc đáo Cái nét riêng đó thể hiện ở tác phẩm và được lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn làm ta có thể nhận
ra sự khác nhau giữa nhà văn này với nhà văn khác”
Bàn về “phong cách”, nhà văn nổi tiếng thế giới M.Gorki cũng nêu quan điểm: “Bạn hãy giữ lấy cái gì là riêng của mình, làm sao cho nó phát triển tự do Lúc một người không có cái gì là riêng của mình thì phải thấy ở người đó chẳng có
gì hết” [25, tr 483]
Nói tới phong cách bao giờ cũng dựa vào những nét đặc trưng, tiêu biểu nhất, độc đáo nhất Tùy theo mỗi con người cụ thể, phong cách có thể tập trung thể hiện ở bất kỳ đặc điểm nào hay một vài yếu tố nào đó trong tác phẩm của mình Tuy nhiên, cái vẻ riêng, độc đáo ấy không chỉ xuất hiện một lần mà phải xuất hiện thường xuyên, bền vững, đa dạng và luôn luôn đổi mới Bên cạnh đó, phong cách phải có phẩm chất thẩm mĩ, nghĩa là nó phải đem lại cho người đọc một sự hưởng thụ mĩ cảm dồi dào Chính vì thế, “không phải nhà văn nào cũng có phong cách, mặc dù xét cho cùng, nhà văn nào cũng có đặc điểm riêng” [25, tr 483] Vậy phong cách được thể hiện như thế nào Có thể khẳng định: có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm thì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách thể hiện Phong cách có thể biểu hiện ở việc chọn đề tài, ở cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm, ở việc xây dựng, khắc họa hình tượng nhân vật Phong cách cũng biểu hiện ở thể loại, ở ngôn ngữ, ở phương thức diễn đạt v.v… của tác giả
Theo GS Hà Minh Đức: “Vấn đề lý luận về phong cách thường được vận dụng quen thuộc trong phạm vi sáng tác nghệ thuật hơn là ở báo chí vì ở đây dấu ấn sáng tạo của người viết in đậm nét Và ở mức độ rõ rệt hơn là tính nhất quán của
Trang 17một bản sắc được thể hiện trong một cấu trúc, một hệ thống những yếu tố về nội dung và hình thức nghệ thuật” [18, tr 102]
Như vậy, thuật ngữ phong cách là một khái niệm chung của nhiều địa hạt khác nhau Nó chỉ những đặc điểm riêng của con người trong các hoạt động, hành động sống Nó cũng có thể chỉ về hình thức và nội dung của từng sản phẩm trong từng lĩnh vực hoạt động sáng tạo khác nhau mà ở đó dấu ấn cá nhân tác giả được thể hiện đậm nét [51, tr.19]
1.1.2 Chính luận
Hiện nay, đang tồn tại một số khái niệm liên quan đến chính luận:
Từ điển tiếng Việt 1992 định nghĩa hết sức ngắn gọn: “Chính luận là bàn luận các vấn đề chính trị”
Theo PGS Lê Xuân Thại: “Chính luận là loại văn bản trình bày ý kiến về những vấn đề thời sự nóng hổi trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”
[20, tr.62]
Theo TS.Trần Quang Hải: “Chính luận là bàn về chính trị, là hoạt động trí tuệ trong hoạt động tư duy của người viết”1
Bên cạnh đó, một tài liệu của Thư viện tư liệu giáo dục Lâm Đồng lại cho rằng: “Chính luận là khái niệm chỉ một phong cách ngôn ngữ văn bản nhằm trình bày những quan điểm chính trị của một đảng phái, đoàn thể, những tuyên bố, tuyên ngôn của các nguyên thủ quốc gia, những bài xã luận nêu rõ lập trường, quan điểm
chính trị,…” 2
Còn cố nhà báo Hoàng Tùng thì chú trọng đến chữ “luận” trong từ “chính luận”: “Luận là hướng dẫn tư tưởng, hướng dẫn suy nghĩ, phân tích tình hình, sự kiện trên một dòng biến đổi, phát triển không ngừng” [23, tr.14]
Như vậy, cách hiểu về chính luận vẫn chưa được thống nhất Có người quan niệm chính luận chỉ thuần túy là vấn đề chính trị; có người lại bó hẹp khái niệm này
1 Đề cương bài giảng môn Báo chí chính luận, Trường Cao đẳng PT-TH II, tháng 09/2011, tr.3
Trang 18ở phương diện phong cách ngôn ngữ; có người khẳng định nó là loại văn bản trình bày ý kiến v v
Từ những khái niệm trên, chúng tôi xin tạm đưa ra quan niệm về chính luận
như sau: Chính luận là loại văn bản bàn luận đến các vấn đề thời sự nóng hổi, bức
xúc của đời sống xã hội thu hút sự quan tâm, theo dõi của đông đảo công chúng, đồng thời hướng công chúng có suy nghĩ đúng, nhận thức đúng và hành động đúng
1.1.3 Phong cách chính luận
Khi phân chia phong cách chức năng tiếng Việt, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất coi phong cách chính luận là một phong cách độc lập trong hệ thống các phong cách chức năng (bao gồm: phong cách khẩu ngữ, phong cách văn chương, phong cách chính luận, phong cách khoa học, phong cách hành chính)
Tác giả Đinh Trọng Lạc, trong cuốn “Phong cách học văn bản” định nghĩa:
“Phong cách chính luận là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực chính trị - xã hội Nói cụ thể hơn, đó là vai nhà lãnh đạo, nhà hoạt động chính trị xã hội, đảng viên, đoàn viên… Tất cả những ai tham gia các hoạt động động viên, tuyên truyền, giáo dục về mặt chính trị - xã hội” Ở định nghĩa này, đối tượng của phong cách chính luận được đề cập rất rộng, bao gồm tất cả những ai tham gia vào hoạt động chính trị xã hội
Tác giả Hữu Đạt trong cuốn “Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” định nghĩa: Phong cách chính luận là phong cách được dùng để bày tỏ thái độ, quan điểm của người viết (nói) về một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực chính trị, xã hội nhằm lôi kéo người đọc (nghe) về phía mình, hành động theo mình Cũng theo tác giả, mục đích của phong cách chính luận là tạo một loại văn bản có tác dụng lôi kéo được người tham gia giao tiếp Mọi phương tiện ngôn ngữ phải được huy động, tập trung vào mục đích ấy
Trong giáo trình “Ngôn ngữ báo chí”, tác giả Vũ Quang Hào cũng đồng ý với cách phân chia phong cách chức năng thành năm phong cách như đã nêu trên và
Trang 19nhấn mạnh: “Xét từ phương diện truyền thông thì chỉ có phong cách khoa học, phong cách hành chính và phong cách chính luận là đáng chú ý hơn cả” [20, tr.55]
Như vậy có thể khẳng định: phong cách chính luận được dùng trong văn bản
chính luận để bày tỏ chính kiến của tác giả về một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực chính trị, xã hội nhằm tạo dư luận xã hội và định hướng dư luận xã hội
Không phải nhà viết chính luận nào cũng có phong cách Chỉ những ai có bản lĩnh, có tài năng thực sự, biết sử dụng các phương tiện hình thức trong một thể thống nhất theo một kiểu riêng, độc đáo để thể hiện một cách hiệu quả điều muốn nói mới tạo ra phong cách Cái “riêng”, cái “độc đáo” của tác giả phải thể hiện trong tác phẩm với sự bền vững, nhất quán ở tất cả các yếu tố cấu thành nên nó và lặp đi, lặp lại trong nhiều tác phẩm, tạo nên đặc trưng phong cách mà chỉ tác giả đó mới
có
1.1.4 Phong cách ngôn ngữ chính luận trong tác phẩm báo chí
Căn cứ vào giáo trình “Ngôn ngữ báo chí” của tác giả Vũ Quang Hào thì phong cách ngôn ngữ chính luận trong tác phẩm báo chí được xem xét dựa trên ba đặc điểm:
Thứ nhất là về phương tiện từ ngữ Đó là sự có mặt của lớp từ ngữ chính trị
Nội dung của lớp từ ngữ này luôn thể hiện lập trường và quan điểm cách mạng, về từng vấn đề cụ thể của đời sống xã hội nhằm tuyên truyền, giải thích chủ trương, đường lối, chính sách v.v Do vậy, phong cách chính luận đòi hỏi người dùng từ ngữ chính trị phải luôn tỏ rõ lập trường, quan điểm và tình cảm cách mạng của mình Ngôn ngữ của tác phẩm chính luận đăng tải trên báo chí là ngôn ngữ giàu tính
lý luận kết hợp với biểu cảm “Đó là sự tán thưởng và niềm vui sướng, lòng căm thù
và sự tức giận, trầm tư và âu yếm Đó là sức hấp dẫn trong việc phân tích sự kiện và đánh giá chính trị về các sự kiện đó” Cũng theo PGS.TS Vũ Quang Hào, “để tăng mức dễ hiểu cho quần chúng, tăng sức hấp dẫn, trong một số văn bản chính luận tác giả có thể khéo léo sử dụng thành ngữ, tục ngữ, mượn những chuyện có sẵn trong
sử sách, những phong dao, ngạn ngữ hoặc truyền thuyết dân gian để làm nổi bật vấn
đề định viết” [20, tr.63-64]
Trang 20Thứ hai là về phương tiện cú pháp PGS.TS Vũ Quang Hào cho rằng, “Đối
với phong cách chính luận có thể cho phép viết những câu mà xét về mặt hình tuyến
là những câu có độ dài lớn, ở đó chứa đựng nhiều ý có quan hệ qua lại với nhau, bảo đảm cho lập luận logic, chặt chẽ” [20, tr.64] Mặt khác, theo tác giả, những câu nghi vấn và câu cảm thán xuất hiện trong một văn bản chính luận là đặc trưng về cú pháp của phong cách này Đặc biệt là tần số xuất hiện khá cao của câu nghi vấn Tiếp theo sẽ là câu khẳng định hoặc phủ định để tăng sức lập luận, giảng giải cho vấn đề mà người viết đặt ra
Thứ ba là về phương pháp diễn đạt PGS.TS Vũ Quang Hào khẳng định,
“đặc điểm nổi bật trong diễn đạt của phong cách này là tính chất chiến đấu bảo vệ chân lý cách mạng cho nên căn cứ lý luận đưa ra phải chặt chẽ, logic [20, tr.65] Mặt khác, “tính đại chúng là một yêu cầu bắt buộc, một nguyên tắc diễn đạt văn bản chính luận Bởi vì suy cho cùng mục đích của văn bản chính luận là phân tích, giảng giải để quần chúng nhận thức đúng được vấn đề, từ đó họ có hành động đúng đối với những vấn đề đó” [20, tr.65]
Ở đặc điểm này, PGS.TS Vũ Quang Hào cũng lưu ý đến tính chất đơn diện của ngôn ngữ chính luận Nó không phải là biểu hiện của sự nghèo nàn, mà ngược lại, “tạo điều kiện cho nhà chính luận diễn đạt sự bình giá, cảm xúc, sự suy tư đối với đề tài một cách trực tiếp và thẳng thắn, gây được những hiệu quả có khi còn vượt cả tác phẩm văn học” [20, tr.66]
Cuối cùng, tác giả cuốn “Ngôn ngữ báo chí” kết luận rằng, nhờ nghiên cứu
về đặc điểm thứ ba này, chúng ta có thể nhận ra những nét riêng trong phong cách diễn đạt của từng tác giả chính luận
Như đã khẳng định ở trên: Có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm thì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách thể hiện Cùng với cách chọn đề tài, cách trình bày luận điểm, luận chứng, cách thể hiện quan điểm, chính kiến, cách kết cấu tác phẩm…, ngôn ngữ là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cách chính luận của nhà báo
1.2 Nhận diện phong cách chính luận qua tác phẩm báo chí chính luận
1.2.1 Nhận diện tác phẩm báo chí chính luận
Trang 21Khi xem xét một tác phẩm báo chí, người ta thường quan tâm đến hai phương diện chủ yếu của nó là nội dung và hình thức Hai phương diện này gắn bó hữu cơ, chi phối lẫn nhau để tạo nên chất lượng chung của tác phẩm báo chí [34, tr.8] Vì vậy, nhận diện tác phẩm báo chí chính luận nghĩa là nhận diện về hai đặc
điểm: nội dung và hình thức
Hiện nay, các nhà lý luận, nghiên cứu đều thống nhất đưa các tác phẩm báo chí vào trong các nhóm thể loại báo chí để dễ khu biệt Chẳng hạn, năm 2004, tác
giả Đinh Hường chia ra ba nhóm thể loại chính: Nhóm các thể loại báo chí thông
tấn, Nhóm các thể loại báo chí chính luận, Nhóm các thể loại chính luận nghệ thuật3 Năm 2005, trong cuốn Các thể loại báo chí chính luận, tác giả Trần Quang
có cách phân chia ngắn gọn hơn: Nhóm thông tấn, Nhóm chính luận, Nhóm chính
luận – nghệ thuật Năm 2007, trong cuốn Những vấn đề của báo chí hiện đại,
nhóm tác giả Hoàng Đình Cúc – Đức Dũng cũng phân chia thành ba nhóm: Nhóm
các thể loại Thông tấn báo chí, Nhóm các thể loại Chính luận báo chí và Nhóm các thể loại Tài liệu – nghệ thuật Tuy cách gọi tên và cách phân chia các nhóm thể loại
báo chí vẫn chưa thống nhất nhưng một điều không thể phủ nhận: tác phẩm báo chí chính luận thuộc nhóm thể loại báo chí chính luận, bao gồm các bài xã luận, bình luận, chuyên luận, bài phê bình
Xét về nội dung: Tác phẩm báo chí chính luận đề cập đến mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội Chất lượng thông tin trong tác phẩm báo chí chính luận chủ yếu là thông tin lý lẽ, dùng lý lẽ soi vào sự kiện, hiện tượng để giúp công chúng hiểu sự thật, hướng họ đến hành động tích cực, phù hợp với mong muốn của tác giả Khi xem xét, đánh giá hay bình luận một sự kiện, vấn đề nào đó đòi hỏi người viết không chỉ nêu hiện tượng bên ngoài mà còn chỉ ra nguyên nhân và bản chất của mối quan hệ bên trong của vấn đề đó Thái độ, quan điểm, chính kiến của người viết cũng phải thể hiện rõ ràng, công khai trước vấn đề mà mình nêu ra Đặc biệt trước những vấn đề xã hội phức tạp, người viết phải có những đề đạt, gợi mở, hướng dẫn
Trang 22
để tháo gỡ vấn đề Điều này thể hiện tính xây dựng, lương tâm nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội của nhà báo
Xét về hình thức: Kết cấu tác phẩm báo chí chính luận hết sức chặt chẽ với
những luận điểm, luận chứng thuyết phục trong mạch tư duy nhất quán để lý giải vấn đề Bên cạnh đó, ngôn ngữ giàu tính luận kết hợp với biểu cảm cũng làm tăng sức hấp dẫn cho tác phẩm báo chí chính luận
1.2.2 Hoàn cảnh xuất hiện tác phẩm báo chí chính luận
a.Sự đổi mới toàn diện của xã hội trong đó có đổi mới báo chí
Vào cuối những năm 70 đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do những sai lầm mang nặng tính chủ quan, duy ý chí trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo một mô hình cũ đã lỗi thời, đất nước ta đã lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng Sản xuất nông – công nghiệp đình đốn Lưu thông, phân phối ách tắc Lạm phát ở mức ba con số Đời sống của các tầng lớp nhân dân sa sút chưa từng thấy Ở thành thị, lương tháng của công nhân viên chức chỉ đủ sống 10-15 ngày Ở nông thôn, vào lúc giáp hạt có tới hàng triệu gia đình nông dân thiếu ăn Tiêu cực xã hội lan rộng Lòng dân không yên
Tình hình diễn biến tới mức, vào khoảng từ cuối năm 1985 đến cuối năm
1986, nghĩa là sau thất bại của cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền, đại đa số quần chúng nhân dân cảm thấy không thể tiếp tục sống như cũ được nữa; đồng thời các
cơ quan lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước cũng thấy rõ không thể tiếp tục duy trì những chủ trương, chính sách đã lỗi thời hoặc chỉ thay đổi có tính chất chắp
vá, nửa vời
Trong bối cảnh đó Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã từng bước thử nghiệm tìm tòi con đường đổi mới để đưa đất nước phát triển Từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã diễn ra tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt làm được, phân tích
Trang 23những sai lầm, khuyết điểm, rút ra bốn bài học kinh nghiệm lớn và đề ra đường lối đổi mới toàn diện, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, mở ra bước ngoặt mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học, vạch rõ hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công CNXH và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN; bổ sung và sửa đổi một số điểm trong điều lệ Đảng Đại hội nhận rõ tình hình kinh tế, xã hội nước ta đang trải qua những khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối lưu thông có nhiều rối ren Đại hội cũng thẳng thắn nhìn nhận nguyên nhân xuất phát từ nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ
sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế
Từ thực tiễn, Đại hội nêu lên những bài học quan trọng Đó là việc lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động; tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan; biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới và xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Đường lối đổi mới được Đại hội nêu rõ, đó là đổi mới toàn diện Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế, tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”; thực hiện ba chương trình kinh tế bao gồm chương trình lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế… Bên cạnh đó, Đại hội VI cũng nhấn mạnh, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt như đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác
Đại hội lần thứ VI của Đảng – Đại hội mở đầu của sự đổi mới toàn diện ở Việt Nam, trong đó có đổi mới báo chí Khoảng thời gian kéo dài hơn 10 năm trì trệ trong cơ chế quan liêu và bao cấp (1975-1986) đã khiến cho hầu hết các tờ báo từ
Trang 24Bắc chí Nam đều rơi vào lối làm báo “xơ cứng”, thiên về chính trị hơn là kinh tế -
xã hội, nặng về tuyên truyền hơn là thông tin Nội dung các tờ báo trong thời kỳ này mang tính chất duy ý chí, áp đặt một chiều từ trên xuống Vì vậy, tin tức nghèo nàn, chỉ mang tính lễ tân và công thức Bài vở thường chỉ chú trọng mặt thành tích, luôn
né tránh những mặt trái hay những chuyện tiêu cực Báo chí cũng “rất ít khi đăng những ý kiến phản hồi của độc giả, nhất là những ý kiến phê phán hoặc đặt lại vấn
đề đối với các chủ trương, chính sách của nhà nước” [30, tr.232]
Bước vào thời kỳ đổi mới của đất nước, báo chí thực sự đã đổi mới trên nhiều mặt cơ bản Trước hết là đổi mới thông tin và chuyển từ lối làm báo thời quan
liêu bao cấp sang lối làm báo đặt nền tảng trên nguyên tắc dân chủ hóa và công khai
hóa Theo TS.Trần Hữu Quang, Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ là hai tờ báo tiên
phong đổi mới, kéo theo một loạt tờ báo khác sau này đã “từng bước thể nghiệm và dấn thân vào lối làm báo, lối viết báo mới” [30, tr.233] Kể từ lúc ấy, các nhà báo – chủ thể truyền thông, cũng thay đổi nhận thức của mình trong việc cung cấp thông tin trên báo chí Họ đổi mới cách thông tin và cách phản ánh những vấn đề nóng của
xã hội Họ nhìn thẳng vào sự thật, thông tin sự thật, dùng ngòi bút chiến đấu và không tránh né những vấn đề gai góc của cuộc sống, bỏ hẳn cách đưa tin khuôn sáo, làm cho tờ báo thực sự là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng, đồng thời là diễn đàn của nhân dân
b.Đổi mới báo chí làm gia tăng chất chính luận trong tác phẩm báo chí
Đổi mới thông tin trên báo chí tức là đổi mới nội dung và hình thức thông tin thông qua một văn bản truyền thông được gọi là tác phẩm báo chí Muốn có được tác phẩm báo chí hay, thỏa mãn yêu cầu của công chúng trong thời kỳ mới, giúp công chúng có những định hướng thông tin đúng thì nhà báo phải tìm đến một cách viết mới thể hiện sâu sắc quan điểm, thái độ, lập trường trước những vấn đề nóng bỏng của đời sống chính trị xã hội Tác phẩm báo chí chính luận là sự lựa chọn phù hợp và đúng đắn nhất của các nhà báo trong hoàn cảnh ấy
Cần nói thêm rằng, không phải đến khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới năm 1986 dẫn đến yêu cầu tất yếu: báo chí phải đổi mới, thì mới xuất hiện nhà báo
Trang 25viết chính luận Sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, báo chí Việt Nam (thời đó chủ yếu là báo in và phát thanh) đã đăng tải nhiều bài xã luận, bình luận có tiếng vang và đi vào lòng người, chứng tỏ phong cách này đã được sử dụng hiệu quả và có sức tác động lớn Tuy nhiên, kể từ khi đất nước hòa bình đến giai đoạn trước đổi mới, “báo chí thiên về thông tin một chiều, ít có những ý kiến luận bàn, trao đổi, tranh luận về những vấn
đề xã hội” [17, tr.44] Trên trang nhất ngày 31 tháng 8 năm 1986, bài xã luận của tờ
Sài Gòn Giải Phóng đã thẳng thắn thừa nhận: “Đáng tiếc là từ nhiều năm qua, do
đắm chìm trong lối làm báo hành chính quan liêu và do nhiều lý do khác, việc phê bình công khai trên báo đã bị xem nhẹ” Và tờ báo cam kết sẽ “nỗ lực khắc phục căn bệnh làm báo quan liêu, thông tin nghèo nàn, một chiều, công thức, mà chúng tôi đã mắc phải trong nhiều năm qua và đã tự phê bình trên báo” [30, tr.234]
Sự khởi sắc của báo chí cách mạng Việt Nam từ sau Đại hội VI của Đảng được thể hiện sinh động ở hai nội dung có tính định hướng quan trọng: vừa biểu dương, cổ vũ những nhân tố mới nảy sinh trong công cuộc đổi mới đất nước, vừa tích cực đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu và các tệ nạn xã hội
Tháng 5 năm 1987, chuyên mục “Những việc cần làm ngay” ký tên N.V.L
trên trang nhất báo Nhân dân đã chính thức mở đầu cho dòng báo chí chính luận
thời kỳ đổi mới 31 bài báo xuyên suốt chuyên mục này được đánh giá là “những tác phẩm báo chí chính luận tiêu biểu với bố cục thông tin và cách viết đặc thù, vừa vận dụng sức mạnh trong tính chiến đấu sắc bén của thể loại chính luận, vừa có sắc thái riêng biệt của một chuyên mục mang tính chỉ đạo kêu gọi Tất cả đều xuất phát
từ phong cách viết khá mới (qua ngôn ngữ, cú pháp, diễn đạt…) cùng với vị thế đặc biệt của tác giả lúc bấy giờ là cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, người đang giữ vai trò lãnh đạo công cuộc đổi mới” [1, tr.106]
Kể từ đó đến nay, một loạt tên tuổi gắn liền với các tác phẩm báo chí chính luận đã tạo nên một phong cách riêng – phong cách chính luận trong làng báo như Hoàng Tùng, Hữu Thọ, Trần Bạch Đằng…
Trang 261.2.3 Vai trò của tác phẩm báo chí chính luận trong đời sống báo chí và đời sống xã hội
Trong đời sống báo chí nước nhà, tác phẩm báo chí chính luận giữ vai trò hết sức quan trọng, góp phần tạo thương hiệu cho tòa soạn báo, cơ quan báo chí Với mục đích thuyết phục công chúng, giúp công chúng hiểu sự thật bằng luận cứ, luận chứng và lý lẽ, tác phẩm báo chí chính luận đã trở thành tiếng nói mạnh mẽ nhất, có sức lay động, lan tỏa đến các tầng lớp nhân dân Chẳng hạn, bài xã luận được coi là
“bài báo quan trọng nhất trong một số báo, nêu lập trường, quan điểm của một tờ báo về một vấn đề quan trọng nào đó” [31; tr.155] Nó thường xuất hiện trước một biến cố hay một chủ trương hành động lớn có tác động đến toàn xã hội Còn bài bình luận không nhất thiết phải đề ra các nhiệm vụ chính trị, chỉ thị để hành động nhưng lại “giữ vai trò là hạt nhân vì nó đã thể hiện sinh động nhất những đặc điểm
cơ bản của cả nhóm” [2; tr.291] Nó giải thích, đánh giá, phân tích về những sự thật
tiêu biểu của đời sống đang cần được làm sáng tỏ và được định hướng
Nhận xét về vai trò của tác phẩm báo chí chính luận trong đời sống báo chí
có ý kiến cho rằng: “Mỗi tòa soạn, mỗi cơ quan báo, đài nếu không bồi dưỡng, đào tạo được vài ba cây viết chính luận vững vàng thì rất khó có thể thể hiện bản sắc riêng Ở góc độ khác, cơ quan báo đài nào không có những cây viết chính luận đi sâu phản ánh trung thực và kịp thời các mũi nhọn của cuộc sống đương đại thì tên
tuổi của cơ quan báo đài đó sẽ mờ nhạt dần trong công chúng” 4
Sau hơn hai mươi năm đổi mới, dòng báo chí chính luận đã trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, văn hóa Với vai trò phản biện xã hội, các tác phẩm báo chí chính luận đã bám sát những bước tiến của đất nước trong công cuộc đổi mới: Từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, đến thời mở cửa, rồi hội nhập Theo thời gian và vận hội mới, báo chí chính luận nói riêng, báo chí Việt Nam nói chung ngày càng hiện đại hơn, nội dung và hình thức thể hiện chuyên nghiệp hơn
4Nguồn: phat-thanh-truy%E1%BB%81n-hinh/
Trang 27http://thoisuttv.wordpress.com/2011/04/15/nang-cao-tinh-chinh-lu%E1%BA%ADn-tren-song-Trong đời sống xã hội, tác phẩm báo chí chính luận đã thực sự thể hiện được vai trò đắc lực của mình trên khắp các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội
Nó góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát hiện và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân; nêu lên những vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội; tích cực tham gia đấu tranh, chống tiêu cực, tham nhũng, quan liêu, lãng phí và suy thoái đạo đức, lối sống Chính những tác phẩm báo chí chính luận với mục tiêu hướng dẫn nhận thức và hành động của công chúng, với nội dung thông tin chân thật, có sức thuyết phục cao đã tạo lòng tin nơi nhân dân và trở thành diễn đàn “của dân, do dân và vì dân”
1.2.4.Trần Bạch Đằng – một trong những cây bút chính luận xuất sắc của nền báo chí cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới
86 năm đồng hành cùng lịch sử dân tộc, nền báo chí cách mạng Việt Nam đã sản sinh ra những nhà báo ưu tú, những bậc thầy về báo chí như Nguyễn Ái Quốc -
Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Xuân Thủy v.v Kể từ đó đến nay, nhiều lớp thế hệ nhà báo tiếp nối vẫn phát huy được truyền thống vẻ vang, kiên định lập trường chính trị, trung thành với lý tưởng cách mạng, ý thức sâu sắc về trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của nhà báo, chiến đấu không mệt mỏi vì nhân dân, vì lẽ phải, vì những điều nhân văn, tốt đẹp
Là một trong những người con ưu tú của nền báo chí cách mạng Việt Nam, Trần Bạch Đằng đã cho thấy một diện mạo riêng của một trong những cây bút chính luận sắc sảo, tràn đầy tâm huyết trong thời kỳ đổi mới Nếu như nhà báo Hoàng Tùng chủ yếu viết xã luận, bình luận trên tờ Nhân dân, trong đó “một số bài xã luận của ông mang tính chuẩn mực về thể loại”; nhà báo Hữu Thọ tạo phong cách riêng qua những tiểu phẩm báo chí thì nhà báo Trần Bạch Đằng viết ở nhiều lĩnh vực, đăng ở nhiều tờ báo khắp trong Nam ngoài Bắc Ở lĩnh vực nào, ông cũng chứng tỏ mình là cây viết chính luận xuất sắc
Xứng đáng với danh hiệu Nhà báo – chiến sỹ, mỗi bài viết của Trần Bạch Đằng như “những mũi tên bắn vào sự trì trệ, tiêu cực và làm cho những vấn đề ông
Trang 28nêu ra biết cử động, được người đọc chú ý”[62, tr.9] Các tác phẩm báo chí của ông
đã được công bố trong những năm qua cho thấy dù không có ý định nhưng ông đã tạo được một phong cách báo chí khá nổi trội, ghi dấu ấn đậm nét trong lòng bạn đọc Có thể nói trong đời sống báo chí Việt Nam có một cây bút tạo được phong cách riêng, phong cách Trần Bạch Đằng
1.3 Khái quát về sự nghiệp báo chí Trần Bạch Đằng
1.3.1 Cuộc đời - sự nghiệp báo chí Trần Bạch Đằng
Trần Bạch Đằng tên thật là Trương Gia Triều sinh ngày 15 tháng 7 năm1926 tại ấp Bến Bạ, xã Thạnh Hưng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang) Sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu nước, Trần Bạch Đằng sớm thừa hưởng truyền thống yêu nước và hiếu học của gia đình
Năm 1943, Trần Bạch Đằng được kết nạp Đảng Cộng Sản Đông Dương khi mới 17 tuổi Tháng 3 năm 1945, với tư cách là Bí thư khu Ngã Sáu Chợ Lớn kiêm
ủy viên Ban chấp hành Tổng công đoàn Nam bộ, ông tích cực vận động lực lượng thanh niên, sinh viên và nhân sĩ trí thức Nam Bộ yêu nước tham gia xây dựng lực lượng cách mạng, chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945
Tháng 12 năm 1945, khi Trần Bạch Đằng đang làm chính trị viên của bộ đội Bình Đăng thuộc Mặt trận số 4 (Nam Sài Gòn) thì ông được lệnh cùng một số đồng chí tham gia củng cố Đảng bộ Sài Gòn Chợ Lớn Năm 1946, khi Thành uỷ ra báo
Chống xâm lăng, đồng chí Trịnh Đình Trọng được cử làm Chủ nhiệm, Trần Bạch
Đằng lúc này là ủy viên thường vụ Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn, phụ trách Tuyên huấn kiêm nhiệm chức Thư kí tòa soạn và thường viết xã luận, bình luận thời sự
Sau ngày 23/9/1945, Pháp dần dần chiếm được các tỉnh lỵ và một số địa bàn trọng điểm của Nam bộ, trong đó có Sài Gòn Dưới sự chỉ đạo của Thành ủy Sài Gòn Chợ Lớn và mặt trận Việt Minh, phong trào báo chí công khai có tên là “Báo chí thống nhất” ra đời chống chủ trương của địch tách Nam bộ ra khỏi nước Việt Nam thống nhất và ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh Phong trào hoạt động rất sôi nổi, có ảnh hưởng sâu rộng ở Nam bộ, quy tụ được gần 20 tờ báo Trần Bạch Đằng
Trang 29vừa làm cho tờ Chống xâm lăng, vừa tham gia chỉ đạo phong trào này, góp phần quan trọng làm thất bại chủ trương lập “Nam kỳ quốc” của thực dân Pháp
Năm 1947, trong Đại hội thành lập Liên đoàn Thanh niên thống nhất toàn Nam Bộ, Trần Bạch Đằng là đại diện cho Thanh niên cứu quốc được giới thiệu vào Ban chấp hành Liên đoàn thanh niên Nam Bộ Lúc đó, với tư cách là Trưởng ban Thanh vận Xứ ủy, ông về vùng Đồng Tháp Mười, làm việc ở Văn phòng Xứ ủy và
Kỳ bộ Việt Minh
Cuối năm 1947, Khi Liên đoàn Thanh niên Nam Bộ chủ trương phát hành tờ báo Thanh Niên - cơ quan ngôn luận của Liên đoàn thanh niên Nam Bộ, thì Trần Bạch Đằng và Hà Huy Giáp là những cây bút xuất sắc không thể thiếu của tờ Thanh Niên Từ 1947 đến 1951, ông là chủ nhiệm một số tờ báo của Thanh niên Cứu quốc Nam bộ, Liên đoàn Thanh niên Nam bộ Cuối năm 1951, Trần Bạch Đằng được
Trung ương Cục miền Nam phân công làm Chủ nhiệm tờ Nhân Dân miền Nam
Ngoài công tác chính ở tòa soạn, Trần Bạch Đằng còn giữ nhiều cương vị quan
trọng như Xứ đoàn trưởng Thanh niên cứu quốc Nam bộ, phó Ban Dân vận, phó
đoàn Kiểm tra Trung ương Cục, phó Ban Tuyên huấn Khi phụ trách Nhân dân miền Nam, Trần Bạch Đằng còn ra thêm phụ san Tiểu thuyết nhân dân và tờ Việt -
Xô Hầu như số nào Trần Bạch Đằng cũng có bài đăng trên các tờ báo này Các bài
viết thời kì này của Trần Bạch Đằng tập trung vào việc tổng kết thực tiễn cách mạng, đề cao tình đoàn kết hữu nghị giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Liên
- Xô, Trung Quốc Ngoài ra các bài viết của ông còn đề cập đến các vấn đề về phát triển kinh tế nông nghiệp, về thuế, về dân quân tự vệ, về thanh thiếu niên, phụ nữ, trí thức, tôn giáo, đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam
Những tờ báo trên trong thời gian Trần Bạch Đằng phụ trách đều có sự cải tiến mạnh mẽ Số lượng phát hành không ngừng tăng lên Ông sử dụng cả bộ đội, học sinh làm lực lượng phát hành, hạn chế đến mức thấp nhất sự bao cấp của Trung ương Cục Nhờ sự ủng hộ của đồng bào, đời sống của anh em làm báo được cải thiện rõ rệt
Trang 30Thực hiện chủ trương tinh giản bộ máy cho phù hợp với tình hình chiến
trường Nam bộ, năm 1954, báo Cứu quốc Nam bộ sáp nhập với Nhân dân miền
Nam Sau Hiệp định Giơ - ne -vơ, Nhân dân miền Nam tự đình bản, hoàn thành sứ
mệnh lịch sử của mình Nhà in Trần Phú được phân làm hai, một chuyển về Sài Gòn làm cơ sở in ấn của Xứ uỷ, một phần chuyển về Cà Mau Trần Bạch Đằng nhận quyết định ở lại miền Nam, phụ trách tuyên huấn
Thời kì này, ông tham gia chỉ đạo rất nhiều tờ báo, cả bí mật lẫn công khai ở
Sài Gòn – Gia Định Đáng chú ý nhất là các tờ Nhân loại, Ban mai, Tiếng chuông,
Sài Gòn mới, Thần chung, Dân chủ Có tờ ông trực tiếp viết bài Nội dung chính
chỉ đạo báo chí lúc đó là chống âm mưu chia cắt lâu dài đất nước của Mỹ - Ngô
Đình Diệm Ngoài ra, ông còn nhận lời phụ trách trang thời sự cho tờ Buổi sáng của Mai Lan Quế Ở tờ báo này ông thường kí bút danh Văn Lê Mục Tổng tào lao của
ông rất được bạn đọc yêu thích (Tổng ở đây dùng để ám chỉ Tổng thống Ngô Đình Diệm)
Cũng trong năm 1954, Xứ ủy chủ trương xuất bản tờ Hoà bình thống nhất và giao cho Trần Bạch Đằng phụ trách chung Hòa bình thống nhất in rô-nê-ô, 8 trang,
khổ lớn, đăng tin tức các vùng tự do, tố cáo tội ác của Mỹ và tay sai, đấu tranh đòi thực hiện dân chủ, cải thiện dân sinh, phản ánh đời sống tốt đẹp của nhân dân miền Bắc XHCN
Khi Ngô Đình Diệm được Mỹ giúp sức dẹp được thế lực thân Pháp trong quân đội, cảnh sát, Bình Xuyên và các thế lực tôn giáo, chúng ráo riết tiến hành đàn
áp cách mạng Trước sự đàn áp khốc liệt của chính quyền Sài Gòn, Xứ ủy đã ra chỉ
thị cho tờ Hoà bình thống nhất tạm thời đóng cửa Các nhà báo cách mạng ai bị lộ
thì điều lắng, số còn lại chuyển nghề khác chờ thời cơ Trần Bạch Đằng cùng các cơ quan đầu não của Xứ uỷ phải tạm lánh sang Nam Vang (Phnompênh - Campuchia) vào đầu năm 1957…
Đầu năm 1959, Trần Bạch Đằng được bầu làm Tổng thư kí của Hội những
người kháng chiến cũ Hội chủ trương ra tờ Vùng lên in ở Phnompênh đưa về Sài
Gòn Trần Bạch Đằng đảm nhiệm các mục xã luận, bình luận Từ đầu năm 1960,
Trang 31sau phong trào Đồng Khởi ở Nam bộ, các cơ sở cách mạng dần được phục hồi, Xứ
ủy quyết định trở về Việt Nam Các vùng giải phóng lúc này đã được mở rộng, lực lượng cách mạng ngày càng lớn mạnh, nhân dân từng bước giành lại thế làm chủ tại nhiều vùng nông thôn Xứ ủy Nam bộ gấp rút huy động cơ sở vật chất xây dựng Đài Phát thanh Giải phóng, củng cố Thông tấn xã Giải phóng, gây dựng và phát triển hệ thống báo chí cách mạng Ngoài việc chỉ đạo chung ngành tuyên huấn ở Miền Nam,
Trần Bạch Đằng còn tham gia viết bài cho Đài Phát thanh Giải phóng, nội san Học
tập, báo Tiền phong, báo Giải phóng Ông kí nhiều bút danh như Trần Quang, Đại
Nghĩa
Tháng 4.1965, Trần Bạch Đằng được bầu vào Khu ủy Khu Sài Gòn – Gia Định, tiếp tục phụ trách khối Tuyên huấn Thực hiện chỉ thị của Đảng, Trần Bạch Đằng chỉ đạo báo chí tập trung vào một số nội dung đấu tranh chính: Kêu gọi quần chúng nhân dân đoàn kết ủng hộ cách mạng, đòi Mỹ cút về nước, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, thực hiện tự do dân chủ, bảo vệ và phát huy văn hóa dân
tộc Ông chỉ đạo xuất bản các tờ Ngọn cờ Gia Định, Cờ Giải Phóng, Tri thức mới
Đồng thời ông vận động kí giả yêu nước, những chủ báo tiến bộ, tạo điều kiện cho các nhà báo cách mạng tham gia viết bài Ông chủ trương ra một số tờ báo công
khai dưới vỏ bọc một nhà báo tư nhân Đáng kể trong số này có các tờ Hồn trẻ của Thành Đoàn thanh niên, Tin văn của Đảng ủy văn hoá văn nghệ
Để có được chiến thắng 30/04/1975, sự đóng góp của báo chí cách mạng và báo chí tiến bộ trong vùng địch tạm chiếm vào sự nghiệp giải phóng dân tộc là không nhỏ, trong đó có vai trò của Trần Bạch Đằng
Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, trước cuộc sống bộn bề của vùng đất mới, với cương vị thường trực Ban Tuyên huấn Trung ương cục, ông lại lao vào góp phần giúp đài Truyền hình sớm phát sóng, mở rộng quy mô hoạt
động Thông tấn xã Giải phóng, xuất bản tờ Giải Phóng rồi Sài Gòn giải phóng Ông còn cộng tác đắc lực, thường xuyên với các tờ Đại đoàn kết, Văn nghệ, Tin sáng,
Công giáo dân tộc sau này có thêm Tuổi trẻ TP.HCM, Công an TP.HCM
Trang 32Sau khi đi chữa bệnh ở Liên Xô, Hungari, Đức về, ông ở lại miền Bắc một thời gian Ông có dịp đến khắp các huyện Bắc Bộ, kể cả những địa bàn xa xôi hẻo lánh như Mèo Vạc, đếm Hồ Ba Bể, Bản Trang, Vũ Thắng Nhiều vùng đất đã để lại dấu ấn sâu đậm trong các bài viết của ông Có những bài ký nổi tiếng như ở vùng
cao Việt Bắc được đăng 5 kỳ trên báo Nhân dân (từ số 8639 ra ngày 5.1.1978 đến
số 8643 ra ngày 10.1.1978)
Năm 1978, Trần Bạch Đằng trở lại TP.HCM Đây là thời điểm Sài Gòn nói riêng, cả nước nói chung gặp phải những khó khăn gay gắt, thiên tai dồn dập, Khmer Đỏ xâm lược ở biên giới Tây Nam, vụ “nạn kiều”, sau đó chiến tranh xâm lược biên giới phía Bắc Trong tình hình đó, Trần Bạch Đằng liên tục viết bài cho
các báo Nhân dân, Sài Gòn giải phóng, Tin sáng vạch trần âm mưu phá hoại của kẻ
thù, động viên nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết một lòng vượt qua khó khăn Trần Bạch Đằng đi khắp nơi, viết bài phản ánh đời sống mọi mặt của địa phương, góp phần ổn định tư tưởng trong nhân dân Cũng trong thời
gian này ông đã cho xuất bản hai cuốn tiểu thuyết dài, trong đó Ván bài lật ngửa
được chuyển thành kịch bản phim và là bộ phim dài tập đầu tiên của điện ảnh Việt Nam
Từ năm 1985 trở về sau, ông chuyên tâm vào việc nghiên cứu và viết báo với sức làm việc khó ai sánh kịp Ông còn có tên trong nhiều hội đồng khoa học và lý luận, biên soạn nhiều công trình lớn về văn hóa, xã hội, lịch sử của Việt Nam như
Mùa thu rồi ngày hăm ba, Chung một bóng cờ, nhất là Bộ Lịch sử Nam bộ kháng chiến Cùng lúc, những bài báo của ông xuất hiện đều đặn trên khắp các báo, tạp
chí: Nhân Dân, Lao Động, Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ, Phụ Nữ TP HCM, Công
An TP HCM, An Ninh Thế Giới, Pháp Luật TP.HCM, Nông Nghiệp Việt Nam ; tạp chí Cộng sản, tạp chí Xưa & Nay, tạp chí Toàn Cảnh, tạp chí Đông Y, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, tạp chí Phát triển kinh tế, tạp chí Tư tưởng – Văn hóa
Trong những ngày cuối đời, nhà cách mạng – nhà báo Trần Bạch Đằng không hề lo lắng về bệnh tình mà luôn trăn trở về công việc Ông viết báo ngay trên giường bệnh, trong bệnh viện Khi sức khỏe yếu dần, không thể tự tay cầm bút viết,
Trang 33ông nằm đọc cho thư ký ghi chép lại Đọc xong một câu, ông ngưng lại, nghỉ mệt, rồi đọc tiếp Cứ thế, ba ngày ông hoàn thành một bài viết trong cơn ho sặc sụa và hơi thở đứt quãng Ngày 31/3/2007 là ngày ông hoàn thành bài viết cuối cùng với
tựa đề: “Lê Duẩn chiến thắng xâm lược Mỹ” gửi các báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Phụ
Nữ TP.HCM, An Ninh Thế Giới, Quân Đội Nhân Dân và Sài Gòn Giải Phóng5
Ngày 16 tháng 4 năm 2007, Trần Bạch Đằng qua đời tại bệnh viện Chợ Rẫy, TP.HCM, hưởng thọ 81 tuổi Là một trong số không nhiều cây bút chính luận được công chúng quen thuộc, yêu mến và khát khao đọc nên khi ông ra đi, bạn đọc cảm thấy trống vắng, nhiều tờ báo cũng thấy trống vắng, một thời gian dài mới bình tâm lại được6
1.3.2 Chính luận – khuynh hướng xuyên suốt các tác phẩm báo chí Trần Bạch Đằng
Trong suốt cuộc đời cầm bút với số lượng bài báo lên đến gần 1 vạn [58] thì mảng tiêu biểu nhất, chủ yếu nhất chiếm phần lớn trong toàn bộ tác phẩm báo chí
của cuộc đời ông chính là báo chí chính luận Ông viết báo với tư cách là người
chiến sĩ cách mạng chứ không phải với tư cách một nhà báo như có lần ông tâm sự:
“Tôi là nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp Thay vì cầm súng, sản xuất thì tôi làm cách mạng bằng sự suy nghĩ… Tôi viết báo là do nhu cầu ý thức chính trị Đó
là vũ khí, phương tiện giúp tôi làm công tác tuyên huấn, phục vụ lý tưởng của mình…”
Nếu đọc kỹ các bài báo của Trần Bạch Đằng ta sẽ thấy ẩn sâu bên trong là tấm lòng yêu nước nồng nàn, sâu đậm của một người chiến sĩ cách mạng Từ những
sự việc, vấn đề cụ thể mà ông đề cập, bao giờ ông cũng hướng người đọc về tấm lòng thiết tha với vận mệnh tổ quốc, dân tộc Từng tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ ở miền Nam, từng nắm giữ những cương vị trọng yếu của
5Xem thêm Những ngày cuối của chú Tư Ánh của tác giả Yến Trinh, báo Tuổi Trẻ, thứ Ba, ngày 17/4/2007
6 Xem thêm phần Phụ lục của luận văn, Phỏng vấn sâu nhà báo Khương Hồng Minh, Phó ban thư ký tòa
soạn báo Công An
Trang 34Bộ chỉ huy kháng chiến, từng ra sống vào chết, chứng kiến nhiều bước ngoặt lịch sử của dân tộc nên cái tâm nhà báo Trần Bạch Đằng là cái tâm chiến sĩ Ông tiêu biểu cho một kiểu nhà báo mẫu mực của nền báo chí cách mạng Việt Nam: nhà báo – chiến sĩ, đúng như ông tự nhận “cả một đời đi làm cách mạng bằng báo chí”
Luôn nặng lòng với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, ông sử dụng ngòi bút sắc bén để chiến đấu trên “trận địa” báo chí với tất cả ưa thích và hứng thú đến cùng Tất cả những vấn đề ông viết dù lớn hay nhỏ đều trên cơ sở lý luận sâu sắc thể hiện thái độ, quan điểm, chính kiến rõ ràng Do vậy, chính luận trở thành khuynh hướng xuyên suốt trong các tác phẩm báo chí của ông Ông nhìn toàn bộ sự kiện dưới con mắt của một nhà chính luận, thể hiện bằng ngôn ngữ chính luận và xử
lý tác phẩm bằng phương pháp chính luận
Các tác phẩm báo chí chính luận của Trần Bạch Đằng đề cập đến tất cả các lĩnh vực, các vấn đề bức xúc nảy sinh trong đời sống xã hội Loại bài viết này xuất hiện đậm đặc nhất trong khoảng thời gian 10 năm (1998-2007) Đây là giai đoạn đất nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, đồng thời phải đối mặt với những thách thức không nhỏ do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường mang lại Suy tư và trăn trở, ghi nhận và lạc quan, đề xuất và kiến giải, phê phán và đấu tranh quyết liệt tới cùng các hiện tượng xã hội, tác giả Trần Bạch Đằng tập trung chủ yếu viết các bài xã luận, bình luận và bài phê bình trên báo Cũng trong khoảng
thời gian này, ông viết nhiều nhất, thường xuyên nhất cho ba tờ báo Thanh Niên, Phụ nữ TP.HCM, Công an TP.HCM,
Trong phạm vi khảo sát trên ba tờ báo này, trong khoảng thời gian khảo sát
10 năm, tổng số bài báo ông đã viết là 977 bài, được thống kê cụ thể như sau (xem
chi tiết ở phần Phụ lục của luận văn):
Trang 35STT Năm
Thanh Niên (số bài)
Phụ Nữ TP HCM (số
bài)
Công An TP HCM (số bài)
Trong đó, tác phẩm báo chí chính luận chiếm 93,4% trên tổng số tác phẩm báo chí (913/977 bài) của nhà báo Trần Bạch Đằng Các tác phẩm báo chí chính luận của ông viết về rất nhiều đề tài ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Việt Nam hiện đại Qua khảo sát, có khoảng trên 30 loại đề tài, trong đó có 06 loại
đề tài ở những lĩnh vực ông thường xuyên đề cập là: Chính trị xã hội , Kinh tế,
Chống tham nhũng; Thể thao, Công an nhân dân và Quốc tế
Trang 36tờ báo trên cả nước Bút danh Trần Bạch Đằng trên thực tế đã làm sang trọng cho các tờ báo đăng bài của ông”
Tiểu kết chương 1
Qua việc nghiên cứu một số vấn đề về phong cách chính luận cho thấy: Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa, nhiều cách hiểu khác nhau về phong cách chính luận Dựa trên cơ sở đó, luận văn xin tạm đưa ra định nghĩa về phong cách chính luận và sử dụng nó làm công cụ nghiên cứu trong lĩnh vực báo chí, thông qua
việc nghiên cứu trường hợp của nhà báo Trần Bạch Đằng
Từ một số vấn đề về phong cách chính luận, luận văn đi sâu vào nhận diện phong cách chính luận qua tác phẩm báo chí chính luận Để thực hiện điều này, trước hết luận văn nhận diện tác phẩm báo chí chính luận trên hai phương diện chủ
Trang 37yếu là nội dung và hình thức Tiếp theo, luận văn tìm hiểu hoàn cảnh xuất hiện tác phẩm báo chí chính luận, qua đó khẳng định rằng: Trần Bạch Đằng là một trong những cây bút chính luận xuất sắc của nền báo chí cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới
Ở cuối chương, luận văn giới thiệu những nét khái quát nhất về sự nghiệp báo chí Trần Bạch Đằng và rút ra kết luận quan trọng: Chính luận là khuynh hướng xuyên suốt các tác phẩm báo chí Trần Bạch Đằng
Dựa vào những kết luận trên, luận văn tiếp tục nghiên cứu chương 2 bằng việc phân tích tác phẩm báo chí chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng để nhận diện những đặc điểm nổi bật định hình phong cách chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng
Trang 38CHƯƠNG 2: TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHÍNH LUẬN CỦA NHÀ BÁO
TRẦN BẠCH ĐẰNG 2.1 Nội dung tác phẩm báo chí chính luận Trần Bạch Đằng
Trước hết phải khẳng định rằng, mỗi tác phẩm báo chí là một chỉnh thể thông
tin gồm hai yếu tố nội dung và hình thức Cả hai yếu tố đó phải hợp thành để “nhằm
trả lời câu hỏi mang tính triết học về nghề thông tin đã được xác lập là: CÁI GÌ MỚI?” [35, tr.57] Và để trả lời câu hỏi đó, “mỗi tác phẩm phải đảm bảo đạt hai phẩm chất thông tin cơ bản là sự trong sáng của thông báo và sự trong sáng của ngôn ngữ thông báo”[35, tr 59] Theo đó, sự trong sáng của thông báo (về nội dung)
ở mỗi tác phẩm báo chí – văn bản truyền thông - chỉ nhằm truyền đi một thông báo cốt
lõi Và thông báo cốt lõi đó với nội dung phải trả lời 6 câu hỏi: Ai? Cái gì? ở đâu? Bao giờ? Thế nào? Tại sao? Chính sự giản dị và tính đơn nhất của thông báo (chỉ chứa
đựng một thông báo cốt lõi), sẽ tự đi đến một hình thức chuyển tải thích hợp, và cuối cùng, nhằm đạt đến sự trong sáng của ngôn ngữ thông báo
Mỗi bài viết chỉ chứa đựng một thông báo cốt lõi và duy nhất, nên người viết
sẽ phải lựa chọn một góc nhìn ưu tiên đối với “hàng núi sự kiện” nhằm tìm được cốt lõi của sự việc và để trình bày tác phẩm báo chí một cách thích hợp nhất
Sự trong sáng của ngôn ngữ thông báo được PGS.TS Nguyễn Thị Minh
Thái giải thích: Muốn có một văn bản truyền thông hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức, sự trong sáng của thông báo (được coi là nội dung) trong loại văn bản này phải được đảm bảo bằng một ngôn ngữ thông báo (được coi là hình thức) trong sáng Và muốn đạt được đến sự trong sáng của ngôn ngữ thông báo, nhà báo phải có giác quan nhạy bén về thông tin, và ở bất cứ thời gian nào, không gian nào có mặt mình, nhà báo cũng có khả năng “ngửi” thấy thông tin, “nhìn” thấy ngay bài báo có thể viết, phát hiện “tứ” thông tin có thể thiết lập trong bài báo đó, và thậm chí “tít” bài báo có thể được đặt ngay lập tức Cũng tất nhiên, ngoài giác quan thông tin, nhà báo phải là người có khả năng (thậm chí là năng khiếu), diễn đạt bài viết của mình bằng một thứ ngôn ngữ báo chí trong sáng, để thông báo cho số đông người tiếp nhận thông tin, ai cũng có thể hiểu được thật giản dị và rõ ràng Những nhà báo
Trang 39chuyên nghiệp thường biểu hiện tính chuyên nghiệp bằng cách diễn đạt thông báo cốt lõi trong văn bản truyền thông của mình, với một lối hành văn báo chí giản dị, trong sáng, nhằm đạt tới yêu cầu: Một thông báo cho mỗi bài viết, một thông tin cho mỗi câu
Trên cơ sở đó, khi xem xét thực tiễn hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí chính luận của nhà báo Trần Bạch Đằng, thì thấy rằng tuỳ theo góc tiếp cận thông tin, hình thức thể hiện thông tin khác nhau, nhưng đều đạt tới sự trong sáng của thông báo cốt lõi (nội dung) và phong cách sử dụng ngôn ngữ (hình thức) trong tác phẩm
Những tác phẩm báo chí chính luận của Trần Bạch Đằng bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội song lại rất nhấn mạnh vào một số mặt cơ bản của xã hội Việt Nam hiện đại Qua khảo sát, chúng tôi thấy ông tập trung vào một số mảng đề tài sau đây:
2.1.1 Đề tài Chính trị - Xã hội
Làm báo đối với Trần Bạch Đằng là làm chính trị Là một nhà báo, lại chuyên viết chính luận, hơn thế, chính là người làm công tác chính trị, nên đương nhiên Trần Bạch Đằng luôn giành mối quan tâm lớn nhất tới mảng đề tài chính trị
xã hội Bà Trần Hồng Ánh – con gái của cố nhà báo Trần Bạch Đằng – kể lại: “Thời
kỳ các nước Đông u sụp đổ, ông rất buồn… ng buồn cho quốc gia họ “một” nhưng lo lắng cho vận mệnh đất nước mình “mười” Những lúc đó, viết là vũ khí tốt nhất để ông bày tỏ âu lo, đề xuất của mình đối với đất nước” Nhưng cái cách ông bày tỏ âu lo không chỉ đơn giản là tấm lòng một chiến sĩ cộng sản yêu nước thiết
tha mà còn dựa trên sự am hiểu sâu sắc vấn đề ông đang đề cập tới, nắm chắc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phân tích tình hình, sự kiện thấu đáo để định hướng tư tưởng, nhận thức cho người đọc một cách đúng đắn
Trước những sự kiện lớn như Đại hội Đảng, kỳ họp Quốc hội, bầu cử Quốc hội… đề ra đường lối chính sách, quản lý, lãnh đạo và họp bàn về những vấn đề thời sự nóng bỏng của đất nước, nhà báo Trần Bạch Đằng luôn quan tâm, theo dõi
sát sao Những vấn đề như Nhân sự chủ chốt, Cải cách hành chính, Chất vấn và trả
Trang 40lời chất vấn Quốc hội, Tiền lương, đƣợc ông tập trung luận bàn và đƣa ra nhiều
kiến nghị, đề xuất quý báu
Mở đầu bài Tiến tới Đại hội toàn quốc Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IX: Nhân sự - vấn đề then chốt7, tác giả khẳng định nhân sự là “một bộ phận hữu
cơ quyết định thành bại của Đại hội, bất kể ở cấp nào” Theo tác giả: “Chính xã hội cùng bước đổi mới không ngừng của đất nước giữ tiếng nói rất quan trọng, không
ai bảo ai song ai cũng chú ý đánh giá con người theo tập quán “chọn mặt gửi vàng” Trong bài viết, ông dẫn chứng quan điểm của Tổng Bí thƣ Lê Khả Phiêu:
“nhất thiết không giới thiệu vào cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng những người
thiếu bản lĩnh chính trị, có biểu hiện cơ hội, tham vọng, thiếu ý thức kỷ luật, mất đoàn kết, quan liêu, tham nhũng, làm việc kém hiệu quả, thiếu trách nhiệm với dân…” Theo mạch tƣ duy này, tác giả bày tỏ chính kiến: “Bố trí nhân sự của Đảng Cộng sản dứt khoát không liên can đến hủ tục “truyền ngôi” hay chuyện “thâm cung” của phong kiến, “chạy chọt hành lang” hay sức ép tài phiệt của tư bản Nhu cầu đất nước, tương lai dân tộc, vận mệnh lâu dài của Đảng, nguyện vọng sâu xa của Bác Hồ, lợi ích của nhân dân chính là những người ra mệnh lệnh tối cao” Ông
đề xuất: “…chọn nhân sự như chọn đội tuyển bóng đá – những cầu thủ giỏi nhất,
tốt nhất, có kỹ năng riêng sắc sảo, trong lứa tuổi đủ độ nhạy và thể hiện tình đồng đội ở mức rất cao…”
Cho đến sau này, nhà báo Trần Bạch Đằng vẫn dành nhiều thời gian trao đổi, bàn luận về vấn đề nhân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các thời đoạn lịch
sử Với ông “nhân sự vẫn là vấn đề nóng hổi”8 Bàn về chuyện nhân sự do Đảng
giới thiệu ông nêu một chuyện có thật: “Có thể không phải tất cả người do Đảng
giới thiệu ứng cử vào chức danh này, chức danh khác của cơ quan Nhà nước và các đoàn thể sẽ được xã hội chấp nhận” Khi điều đó xảy ra, ông nói thẳng: “Đảng phải kiểm tra lại chất lượng của người mà Đảng giới thiệu” Bởi“nếu giới thiệu đồng nghĩa với áp đặt thì dù người được Đảng giới thiệu có đắc cử đi nữa, cũng
7 Bài đã dẫn, báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 23/3/2001
8 Bài đã dẫn, báo Phụ Nữ TP.HCM, ngày 23/12/2005.