1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tài liệu Lịch sử Bang Giao Việt Nam - Đông Nam Á pptx

128 1,9K 25

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Bang Giao Việt Nam – Đông Nam Á
Tác giả TS. Trần Thị Mai
Trường học Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Tài liệu
Năm xuất bản 2007
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 899 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam và các nước ở Đông Nam Á đều cho thấy vào thời đại Đông Sơn - tương ứng với thời đại đồng thau và sắt sớm - cư dân Đông Nam Á đã có một cuộc sốn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TS TRẦN THỊ MAI

LỊCH SỬ BANG GIAO

VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA

TP HỒ CHÍ MINH - 2007

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH BANG GIAO VIỆT

NAM – ĐÔNG NAM Á 5

I ĐÔNG NAM Á: MỘT KHU VỰC LỊCH SỬ – VĂN HÓA SỚM, LIÊN TỤC PHÁT TRIỂN VỚI BẢN SẮC RIÊNG 5

II TÍNH TẤT YẾU CỦA MỐI BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á 14

CÂU HỎI ÔN TẬP 16

CHƯƠNG II: BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á THỜI CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI 17

I BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á Ở BUỔI ĐẦU DỰNG NƯỚC 17

II BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á TRONG THỜI KỲ VIỆT NAM BỊ PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC ĐÔ HỘ 25

III BANG GIAO VIỆT NAM – CHÂN LẠP 31

IV BANG GIAO VIỆT NAM – LÀO 41

V BANG GIAO VIỆT NAM – THÁI LAN 47

VI BANG GIAO VIỆT NAM – MIẾN ĐIỆN 54

VII BANG GIAO VIỆT NAM VỚI KHU VỰC CÁC NƯỚC HẢI ĐẢO ĐÔNG NAM Á 56

VIII MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ MỐI BANG GIAO VN–ĐNA THỜI CỔ – TRUNG ĐẠI 62

CÂU HỎI ÔN TẬP 70

CHƯƠNG III: BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á THỜI CẬN ĐẠI 71

I ĐÔNG NAM Á TRƯỚC SỰ XÂM NHẬP CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN PHƯƠNG TÂY 71

II CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á THỜI CẬN ĐẠI 76

III BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á Ở THỜI CẬN ĐẠI 83

CÂU HỎI ÔN TẬP 109

CHƯƠNG IV: BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á THỜI HIỆN ĐẠI 110

I NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BANG GIAO VIỆT NAM-ĐÔNG NAM Á THỜI HIỆN ĐẠI 110

II SỰ PHÁT TRIỂN TỐT ĐẸP CỦA LIÊN MINH ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU VIỆT-LÀO-CAMPUCHIA 116

III BANG GIAO VIỆT NAM–ASEAN 125

1 VÀI NÉT VỀ ASEAN… 125

2 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN BANG GIAO 135

3 BANG GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC THÀNH VIÊN ASEAN 152

CÂU HỎI ÔN TẬP 178

CHƯƠNG V: MỘT VÀI NHẬN XÉT THAY KẾT LUẬN .179

TÀI LIỆU THAM KHẢO 184

PHỤ LỤC 188

Trang 3

CHƯƠNG I

CƠ SỞ HÌNH THÀNH BANG GIAO

VIỆT NAM - ĐÔNG NAM Á

I ĐÔNG NAM Á: MỘT KHU VỰC LỊCH SỬ - VĂN HÓA SỚM,

LIÊN TỤC PHÁT TRIỂN VỚI BẢN SẮC RIÊNG

Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, khu vực Đông

Nam Á đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà “Đông

Phương học” do tính chất quan trọng và nổi bật về vị trí địa

lý mang tính chất chiến lược của nó Tiếp đó, những khám

phá mới về những bước đi đầu tiên của loài người, tiến trình

lịch sử dựng nước và giữ nước sôi động cùng với sự xác lập

thường xuyên mối liên hệ của khu vực này với thế giới đã

đưa Đông Nam Á trở thành một trong những khu vực có ý

nghĩa quan trọng trong toàn bộ lịch sử thế giới Cho đến nay,

mặc dù còn có những ý kiến khác nhau về tiến trình lịch sử

cũng như vị trí và vai trò của Đông Nam Á trong lịch sử văn

minh nhân loại, song không còn ai nghi ngờ gì nữa về sự hiện

diện và quá trình phát triển liên tục với những tính cách hết

sức riêng biệt của nó

1- Nằm trải rộng trên một phần trái đất, từ khoảng 290

kinh đông đến 1400 kinh đông và từ khoảng 280 vĩ bắc chạy

qua xích đạo đến 150 vĩ nam, Đông Nam Á ngày nay bao gồm

11 nước với 5 nước nằm sâu trong lục địa (Việt Nam, Lào,

Campuchia, Mianma và Thái Lan) và 6 nước phân bố ngoài

hải đảo (Malaysia, Indonesia, Singapo, Brunei và Philípin, Đông Timo) Tất cả các nước trong khu vực đều nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới và bị chi phối bởi gió mùa quanh năm Chính yếu tố gió mùa và khí hậu biển đã tạo nên hai mùa rất rõ rệt ở Đông Nam Á: Mùa mưa bắt đầu từ tháng tư đến tháng 11 dương lịch và mùa nắng từ tháng 11 dương lịch đến tháng tư năm sau Điều kiện khí hậu thuận hòa tạo cho Đông Nam Á nhiều thuận lợi lớn, đáng kể nhất là một thiên nhiên thống nhất trong đa dạng, một thảm thực vật quanh năm tươi tốt với nhiều sắc thái xen kẽ giữa rừng nhiệt đới, đồi núi, đồng bằng và biển tạo nên cảnh quan đa dạng và rất giàu về tiềm năng Tề thư của Trung Quốc viết: ‘Các nước Man di chia nhau lập quốc, của quý không đâu bằng ở đây”

Vị trí địa lý nối liền giữa phương Đông (thế giới Trung Quốc, Nhật Bản ) và phương Tây (Ấn Độ, Tây Á, Địa Trung Hải) cũng tạo điều kiện cho Đông Nam Á có dịp tiếp xúc và cọ sát với nhiều nền văn minh lớn của nhân loại Đồng thời qua đó, cư dân Đông Nam Á cũng xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng mang bản tính cởi mở và thượng võ “Không phải ngẫu nhiên mà mối liên hệ của khu vực này với thế giới đã được xác lập thường xuyên trong mấy chục thế kỷ qua Và cũng không phải ngẫu nhiên mà đã có mặt ở Đông Nam Á những nhà địa lý hay du lịch, những nhà truyền giáo hay ngoại giao của cả phương Đông và phương Tây trong suốt chiều dài lịch sử như Ptôlêmê, Khang Thái, Nghĩa Tĩnh, Marco Polo, Chu Đạt Quan, Ibn Batutah v.v Họ đã đến đây xem xét, ghi chép và để lại những tài liệu cho đời sau”(1)

1 Xem thêm Lương Ninh - Hà Bích Liên: Lịch sử các nước Đông Nam Á, tập

I, tủ sách Khoa Đông Nam Á, Đại học Mở Bán công, TP Hồ Chí Minh

Trang 4

2- Kết quả của ngành khảo cổ học trong mấy chục năm

gần đây đã kết luận: Đông Nam Á là một trong những cái

nôi của loài người Dấu vết hóa thạch vượn bậc cao được

tìm thấy ở Pondaung (Mianma) có niên đại khoảng 40

triệu năm; hoá thạch người tối cổ được tìm thấy ở Java

cách đây khoảng 2 triệu năm; răng người vượn ở Bình Gia

(Lạng Sơn-Việt Nam) có niên đại cách đây khoảng 30 vạn

năm; nhiều xương cốt của loài người vượn, người tối cổ và

của người hiện đại được tìm thấy rải rác ở nhiều nơi ở

Đông Nam Á như Solo (Indonesia), Wajak, Hòa Bình, Bắc

Sơn có niên đại muuộn hơn một chút v.v cho thấy sự

phát triển mang tính liên tục của quá trình chuyển biến từ

vượn người thành người vượn, cũng như của người hiện đại

tại khu vực này

Kỹ nghệ đá tương đương cũng đã được tìm thấy ở

nhiều nơi trong khu vực như núi Đọ (Việt Nam), Sungs Mas

(Sumatra), ở Tabon, Palawan và Espinôsa (Philippin), v.v

Cho đến khoảng trên dưới 4000 năm cách đây, Đông

Nam Á bắt đầu bước vào thời kỳ sử dụng công cụ kim loại

Kết quả nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam và các nước ở

Đông Nam Á đều cho thấy vào thời đại Đông Sơn - tương

ứng với thời đại đồng thau và sắt sớm - cư dân Đông Nam

Á đã có một cuộc sống ổn định trên cơ sở nền nông nghiệp

trồng lúa nước, và trong nếp sống của từng vùng đã diễn ra

sự hội tụ đầu tiên của các yếu tố văn hóa đồng bằng - biển -

rừng núi với thế đan xen nhau phức tạp, rồi từ đó mà định

hình những truyền thống chung và riêng (2)

2 Tham khảo Cao Xuân Phổ - Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á

thời cổ, từ sách “Về lịch sử Đông Nam Á thời cổ”, Hà Nội, 1983, tr 61

3- Hầu hết các học giả khi nghiên cứu về Đông Nam Á

đều nhất trí rằng: vào giai đoạn sớm trong lịch sử loài người, Đông Nam Á đã từng tồn tại một nền văn hóa chung mang tính bản địa và đạt đến trình độ khá cao Đó là nền văn hóa xây dựng trên những yếu tố:

- Về phương diện vật chất: Có khả năng làm ruộng

nước do có một tổ chức xã hội đã đạt đến một trình độ nhất định (tổ chức làng xã); biết thuần dưỡng trâu bò phục vụ cho nông nghiệp, biết sử dụng thô sơ kim loại, thành thạo nghề sông nước Thiết chế xã hội được tổ chức theo chế độ mẫu hệ và lấy làng mạc thôn xóm làm đơn vị cơ sở Cộng đồng thôn xóm được coi là tổ chức xã hội quan trọng nhất với những truyền thống dân chủ: chọn lựa chức sắc trong làng, cày chung ruộng công, tương thân, tương trợ, v.v

- Về phương diện tinh thần: Có truyền thống thờ tổ

tiên trên những nơi cao Trong tư duy biện chứng sơ khai đã xuất hiện thế lưỡng hợp (âm - dương) và những thiết chế dựa trên tính quan trọng và cả trên tính ưu thế của yếu tố CÁI

4- Vào những thế kỷ trước và sau công nguyên, cư dân

Đông Nam Á, trên cơ sở một nền văn hóa đã định hình và phát triển cao của mình từ trước đó, bắt đầu bước vào quá trình “Dựng nước và giữ nước” trên toàn khu vực Cũng từ đây, văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Quốc bắt đầu thâm nhập vào Đông Nam Á Do sự vận động tự thân bên trong và những tác động từ bên ngoài, ở hầu hết các dân tộc phía Nam (kể cả các dân tộc ngoài hải đảo) trên bước đường hoàn thiện tổ chức nhà nước và xã hội của mình, họ đã tiếp nhận một cách tự nguyện văn hóa Ấn và chịu ảnh hưởng khá lớn của nền văn hóa này Trong khi đó, đối với Việt

Trang 5

Nam ở phía Bắc, quá trình dựng nước đã diễn ra sớm hơn

nhiều so với các nước khác trong khu vực (vào hạ bán thiên

niên kỷ thứ nhất trước công nguyên) Quá trình này được

thúc đẩy bởi các yếu tố: sự phát triển cao của kỹ thuật

trồng lúa nước dựa trên sự phong phú của công cụ đồng và

sắt sớm Sự hợp lực cùng nhau để chống thiên nhiên và

làm thủy lợi Và sự đoàn kết toàn dân để chống lại các cuộc

xâm lược từ phương Bắc tràn xuống Do phải đương đầu với

các cuộc xâm lăng từ phương Bắc và sự du nhập mang tính

cưỡng bức của văn hóa Hán, nên các dân tộc ở bán đảo

Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam, đã phần nào tiếp nhận

và chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán

Tuy nhiên, với nền văn hóa bản địa đã định hình

sớm, với truyền thống dân chủ và tính cách cởi mở, khoáng

đạt trong cách ứng xử, cư dân Đông Nam Á đã tiếp thu văn

hóa Ấn, Hoa một cách chủ động và chọn lọc Sự tiếp thu

này thể hiện trên hai phương diện:

- Phương diện tổ chức bộ máy nhà nước: Hầu hết

các nhà lãnh đạo ở đây đều muốn tìm đến việc ứng dụng

mô hình tổ chức nhà nước đã khá hoàn thiện từ Ấn Độ,

Trung Quốc, và cùng với mô hình đó là sự mô phỏng thiết

chế xã hội, chủ yếu là chế độ đẳng cấp Tất nhiên, sự mô

phỏng này chỉ về mặt hình thức và tùy tình hình cụ thể của

mỗi nhà nước mà sự mô phỏng cũng ở mức độ đậm nhạt

khác nhau Điểm cần nhấn mạnh ở đây là về mặt nội dung,

các nhà nước vẫn được xây dựng trên nền tảng chủ đạo đó

là tinh thần dân tộc, tính dân chủ và cởi mở của cư dân

Đông Nam Á

- Phương diện tinh thần: Vẫn giữ gìn và bảo lưu

những phong tục, tập quán cổ truyền Đồng thời tiếp nhận

thêm những tinh hoa văn hóa phù hợp với phong tục, tập quán và lối sống riêng Sự tiếp nhận ở đây chủ yếu là từ tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo Lẽ dĩ nhiên sự tiếp thu ở mỗi nơi cũng mang màu sắc đậm nhạt khác nhau và theo từng cách thức riêng

5- Vào khoảng các thế kỷ X-XV, Đông Nam Á sau một

quá trình “dựng nước và giữ nước” lâu dài đã đồng loạt bước vào giai đoạn xác lập và phát triển thịnh đạt của các quốc gia dân tộc, lấy một bộ tộc đông và phát triển nhất làm nòng cốt Chính trong giai đoạn này, nền kinh tế của các quốc gia đã đạt đến giai đoạn thịnh vượng nhất kể từ truớc đó Nhiều trung tâm kinh tế quan trọng được thiết lập, có khả năng cung cấp một khối lượng hàng hóa lớn từ các sản phẩm nông nghiệp (lúa gạo), ngư nghiệp (cá), tiểu thủ công nghiệp (vải vóc, hàng sơn, đồ sứ, chế phẩm kim loại ) và nhất là những sản vật thiên nhiên (như các loại gỗ quý, hương liệu, gia vị, đá quý, ngọc trai, sừng tê, cánh kiến, thiếc ) Thị trường hàng hóa phong phú đó đã có sức thu hút lớn đối với khách thương của nhiều nước trên thế giới đổ xô đến đây để trao đổi và buôn bán sản phẩm Trên lĩnh vực văn hóa, đây cũng là giai đoạn phát triển rực rỡ của nền văn hóa dân tộc Sau một thời kỳ vừa đấu tranh gìn giữ bản sắc riêng vừa tiếp thu và chọn lọc các giá trị văn hóa từ bên ngoài, Đông Nam Á bước vào giai đoạn phục hưng văn hóa với mục tiêu và nội dung chính là sự khẳng định ý thức dân tộc Những nền văn hóa tiêu biểu như Ăngco, Pagan, Sri Vijaya, Brobudur, Chămpa, Đại Việt không chỉ là niềm tự hào của các dân tộc Đông Nam Á, mà ở những mức độ nhất định đã đóng góp vào kho tàng văn hóa của nhân loại những giá trị văn hóa - tinh thần độc đáo

Trang 6

Cũng trong giai đoạn này, mối quan hệ giữa các nhà

nước dân tộc cũng được thiết lập ngày càng chặt chẽ Trong

quá trình khẳng định ý thức dân tộc của mình, giữa các

vương triều lẽ dĩ nhiên không tránh khỏi có những xung

đột, va chạm quyền lợi, thậm chí có khi biến thành xung

đột vũ trang Song, về cơ bản nhân dân các nước Đông

Nam Á vẫn sát cánh bên nhau cùng xây dựng một Đông

Nam Á hòa bình và thịnh vượng Tinh thần đoàn kết, gắn

bó giữa nhân dân Việt với nhân dân Đông Nam Á nhằm

chống lại các cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên vào thế kỷ

XIII là một trong những bản anh hùng ca tiêu biểu cho mối

quan hệ mật thiết đó

6- Sau một thời kỳ phát triển thịnh đạt, từ cuối thế kỷ

XV, các vương triều phong kiến Đông Nam Á bước vào giai

đoạn suy thoái Sự suy thoái này là kết quả tất yếu của sự

vận động theo đúng quy luật khách quan lịch sử: chế độ

phong kiến khi đã phát triển đến đỉnh cao của nó cũng là

lúc nó bắt đầu bộc lộ những mâu thuẫn đối kháng không

thể điều hòa nổi trong lòng chế độ đó Tính chất bảo thủ,

trì trệ của quan hệ sản xuất phong kiến, sự tiêu hao sức lực

của nhà nước cho những cuộc chiến tranh nhằm xác định

lãnh thổ và quyền lực là những nguyên nhân bên trong của

sự suy thoái đó Nhưng, nhân tố có ý nghĩa quyết định dẫn

tới sự suy sụp của các quốc gia phong kiến trong khu vực lại

chính là sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây

diễn ra từ thế kỷ XVI và trong suốt các thế kỷ đó cho đến

đầu thế kỷ XX Tuy ở mỗi nước, sự thiết lập ách thống trị

của chủ nghĩa tư bản phương Tây diễn ra sớm, muộn khác

nhau, tính chất cai trị cũng khác nhau, nhưng về cơ bản cho

đến cuối giai đoạn này hầu hết các nước Đông Nam Á đều

bị lệ thuộc hoặc bị biến thành thuộc địa của các nước tư bản

phương Tây Số phận lịch sử một lần nữa lại cố kết các dân tộc Đông Nam Á vào một sứ mệnh thiêng liêng: Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành lại nền độc lập dân tộc Trong cuộc đấu tranh đó, các dân tộc Đông Nam Á đã tận dụng ngay chính những thành tựu mới của văn hóa phương Tây để vừa bồi bổ thêm cho văn hóa của chính mình, vừa làm vũ khí chống lại âm mưu thôn tính và chia cắt lâu dài nền độc lập và thống nhất ở Đông Nam Á của các thế lực thực dân

7- Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, phong trào giải

phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, các nước Đông Nam Á dần dần thoát khỏi sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân.3

Cũng từ sau chiến tranh thế giới thứ II, dưới tác động của chiến tranh lạnh và “Trật tự thế giới hai cực Yanta”, Đông Nam Á bị tách thành hai nhóm: Nhóm nước Đông Dương và nhóm nưóc ASEAN Hai nhóm nước này lựa chọn con đường phát triển đất nước theo hai hướng khác nhau (Nhóm nước Đông Dương, trước hết là Việt Nam, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhóm nước ASEAN lại lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa) Sự khác biệt trong đường lối phát triển giữa hai nhóm nước đã khiến cho mối quan hệ giữa các nước Đông Nam Á không khỏi có những căng thẳng, thậm chí đối đầu Điều này đã có ảnh hưởng không ít đến lợi ích của mỗi quốc gia cũng như của cả khu vực Lẽ dĩ nhiên, trong giai

3 Mở đầu bằng việc Nhân dân Việt Nam vùng dậy làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thiết lập nền dân chủ cộng hòa Cách mạng Tháng Tám cũng đã diễn ra ở Indonesia, và cho đến giữa thập niên 80 tất cả các quốc gia Đông Nam Á đều đã giành được nền độc lập trọn vẹn

Trang 7

đoạn này cái nền chung của sự tương đồng vẫn tiếp tục tồn

tại, nhưng khoảng cách mới được tạo ra không phải nhỏ

Tuy nhiên, tính chất căng thẳng, đối đầu giữa các

nước Đông Nam Á diễn ra không lâu Tình trạng này đã

nhanh chóng kết thúc cùng với sự kết thúc của chiến tranh

lạnh và sự sụp đổ của “thế giới hai cực Yanta” vào cuối thập

niên 80 Xu thế đối thoại và hợp tác diễn ra trên phạm vi

toàn cầu đã góp phần làm thay đổi tư duy chính trị của các

nước trong khu vực và thúc đẩy họ xích lại gần nhau Khép

lại quá khứ, hướng tới tương lai, kể từ những năm cuối của

thập niên 80, các quốc gia Đông Nam Á đều có chung một

mục tiêu: biến khu vực Đông Nam Á thành một khu vực

hòa bình ổn định và phát triển Hơn bao giờ hết, Đông

Nam Á hiện tại đang ở vào thời kỳ sôi động nhộn nhịp

nhất của sự hợp tác và thiết lập các mối quan hệ song

phương, đa phương Tinh thần “Thống nhất trong đa dạng”

lại càng được khẳng định mạnh mẽ khi tất cả các nước

Đông Nam Á đều tự nguyện đứng vào một tổ chức chung

của khu vực: Tổ chức ASEAN Ý thức tự cường dân tộc, tự

cường khu vực được xem là yếu tố năng động nhất hiện nay

của “một gia đình các nước Đông Nam Á được ràng buộc với

nhau bằng những sợi dây đầy tình hữu nghị, thiện chí,

thấm nhuần những lý tưởng và nguyện vọng của chúng ta,

quyết tâm tạo lập được xã hội của chúng ta” (4)

4 Lời tuyên bố của Phó Thủ tướng Malaysia Tun Abdun Razak, trích

từ ASEAN hình thành, phát triển và triển vọng; Ban Châu Á-Thái

Bình Dương, Viện Quan hệ Quốc tế, 1995, tr 6

II TÍNH TẤT YẾU CỦA MỐI BANG GIAO VIỆT NAM - ĐÔNG NAM Á

1- Từ sự khái quát trên đây, rõ ràng từ rất sớm Đông

Nam Á đã là một khu vực lịch sử - văn hóa, một chỉnh thể được sản sinh trong một môi trường và điều kiện lịch sử cụ thể: có chung một không gian địa lý, một cội nguồn văn hóa, một hệ thống giá trị và cùng chung một thân phận lịch sử Do vậy, mối liên hệ giữa các nước Đông Nam Á, cũng như khu vực này với thế giới, đã được xác lập từ rất sớm, ngay từ thời cổ đại, hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên Cơ sở lịch sử của mối bang giao Việt Nam - Đông Nam Á cũng đã được thiết lập từ đó

Về mặt lý luận: Xuất phát từ nguyên lý: Có con

người là có văn hóa, là một trong những cái nôi của loài người, ít nhất từ hàng mấy chục vạn năm cách đây những mối giao lưu văn hóa đầu tiên đã xuất hiện trên khu vực này Khi những tổ chức xã hội của con người ngày càng hoàn thiện thì sự biệt lập của cộng đồng người trong buổi đầu của thời nguyên thủy sẽ ngày càng bị giảm dần, yêu cầu phát triển sản xuất, mở rộng phạm vi giao tiếp, do đó, sẽ càng được tăng cường Đến giai đoạn cận đại, những cuộc phát kiến địa lý, sự phát triển của kinh tế hàng hóa và sự xác lập của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm xích gần các lục địa, các khu vực vốn cách xa về địa lý, biệt lập trong mối quan hệ xã hội Mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, do đó, càng trở nên gắn bó mật thiết

Về mặt thực tiễn: Truyền thống làm ruộng nước, lối

cư trú quần tụ trong các xóm làng và đặc biệt là nhu cầu phải thường xuyên tập hợp lực lượng để chống đỡ các cuộc

Trang 8

xâm lược của kẻ thù bên ngoài, đã buộc các dân tộc Đông

Nam Á sớm cố kết cùng nhau trong một mối dây đoàn kết

tương thân, tương trợ để cùng tồn tại và phát triển

2- Việt Nam là một nước thuộc Đông Nam Á, mối bang

giao giữa Việt Nam và Đông Nam Á là một tất yếu khách

quan

Nằm trọn ở phần Đông của bán đảo Đông Dương,

trong vành đai nóng với chiều dài hơn 15 vĩ tuyến (từ 8030’

Bắc đến 23022’ Bắc), diện tích khoảng 330.000km2 với bờ

biển dài khoảng 3.300km và đường biên giới chung với các

nước Trung Quốc, Lào, Campuchia, dài khoảng hơn

3.800km, Việt Nam có một vị trí chiến lược hết sức quan

trọng trên trục giao thông Đông - Tây thông qua con đường

Hồ tiêu và con đường Tơ lụa trên cả đất liền và trên biển

Vì vậy, từ rất sớm Việt Nam đã trở thành một trong những

nơi dừng chân của các thương nhân trên con đường thương

mại Bắc - Nam, Tây - Đông và ngược lại Lợi dụng các đợt

gió mùa định kỳ hàng năm, thương nhân Ấn Độ, Ceylan,

Java, Palempang, v.v thường giong buồm đến Óc-eo, Đồng

Dương, Giao Chỉ, v.v Tại đó, họ lập các thương điếm để

thu mua, tích trữ và chế biến hàng hóa để đưa sâu vào lục

địa, tới Trung Quốc, và ngược lại đưa hàng hóa từ Trung

Quốc tới các nước phía Nam và, xa hơn, tới Ấn Độ, Địa

Trung Hải…

Do ở vào vị trí ngã tư đường giao lưu quốc tế nên Việt

Nam sớm trở thành nơi sinh trưởng, gặp gỡ và tiếp xúc giữa

các cư dân thuộc nhiều thành phần nhân chủng khác nhau,

cũng như nhiều luồng giao lưu văn hóa của nhiều dân tộc trên

thế giới: Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, Ấn Độ, Trung

Quốc, Nhật Bản và các dân tộc ở Đông Nam Á Vì lẽ đó, cũng

có thể nói trong mối giao lưu quốc tế, Việt Nam đã trở thành nơi gặp gỡ của nhiều dân tộc và nhiều nền văn minh

3- Trên cơ tầng lịch sử - văn hóa chung đó, Đông Nam Á

ngày nay tiếp tục đóng một vị trí hết sức quan trọng về địa lý - kinh tế - chính trị chiến lược Tất cả các quốc gia độc lập đều có những lợi ích chung trên con đường phát triển đất nước với tinh thần tự cường dân tộc và tự cường khu vực Đông Nam Á đã thiết lập được mối quan hệ đa dạng trong cộng đồng thế giới và đang nằm trong vùng chiến lược khu vực và quốc tế của nhiều nước, nhất là các nước lớn vốn theo đuổi các mục đích không giống nhau Đây là một thuận lợi rất lớn nhưng cũng đồng thời là một thách thức không nhỏ đối với các quốc gia trong cộng đồng Đông Nam Á Tình hình trên lại càng đòi hỏi các nước trong khu vực xích lại gần nhau, đồng thời liên kết tất cả các nước lại trong một ASEAN thống nhất về quyền lợi và nghĩa vụ để tạo ra những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển chung

Câu hỏi ôn tập

1 Bang giao Việt Nam-Đông Nam Á đã được hình thành

dựa trên những cơ sở nào?

2 Tại sao nói mối bang giao Việt Nam-Đông Nam Á là

một tất yếu khách quan?

TÀI LIỆU THAM KHẢO – Chương 1

1 Bộ Ngoại giao – Vụ Asean : “Hiệp hội các nước Đông Nam Á” (Asean), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995

2 Bộ Ngoại giao – Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002

Trang 9

3 Bộ Ngoại giao – vụ hợp tác kinh tế đa phương – Việt Nam hội

hhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá vấn đề giải pháp, Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002

4 Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế

– xã hội quốc gia: Các quốc gia và vùng lãnh thổ có quan hệ

kinh tế với Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn, hà Nội, 2006

5 Trần Thị Mai – Lịch sử bang giao Việt Nam – Đông Nam Á,

Khoa Đông Nam Á học, Đại học Mở – Bán công TP.HCM,

1997

6 Trần Quang Lâm – Nguyễn Khắc Thân – Hội nhập kinh tế Việt

Nam – ASEAN những đặc trưng, kinh nghiệm và giải pháp, Nhà

xuất bản Thông kê, Hà Nội, 1999

7 Lương Ninh – Hà Bích Liên : “Lịch sử các nước Đông Nam Á”

tập I – Khoa Đông Nam Á Học, Đại Học Mở - Bán công

TP.HCM, 1994

8 Lưu Văn Lợi – Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945 –

1995, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 1998

9 Việt Nam – Đông Nam Á, quan hệ lịch sử văn hóa, Nhà xuất

bản chính trị quốc gia, Hà Nội 1993

CHƯƠNG II

BANG GIAO VIỆT NAM - ĐÔNG NAM Á

THỜI CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI

A- BANG GIAO VIỆT NAM - ĐÔNG NAM Á

TRƯỚC THẾ KỶ X

I BANG GIAO VIỆT NAM-ĐÔNG NAM Á Ở BUỔI ĐẦU DỰNG NƯỚC

1- Bối cảnh lịch sử

Trải qua các giai đoạn phát triển của thời tiền sử trên nền tảng của “Chiếc nôi của loài người”, cho đến khoảng trên dưới một vạn năm cách đây, ở Đông Nam Á, những điều kiện thiên nhiên, kỹ thuật và xã hội đã hội đủ để đạt đến một bước nhảy vọt mới: Cuộc cách mạng đá mới - theo cách gọi của các nhà khảo cổ học Với cuộc “Cách mạng” này nghề nông và cùng với nó là nền văn hóa xóm làng đã được khai sinh

Ngay từ đầu thời đại đá mới, Đông Nam Á đã là một khu vực văn hóa có sắc thái riêng, đó là cuộc sống định cư ngày càng ổn định trong cấu trúc làng mạc, là xu hướng tiến xuống vùng thung lũng và châu thổ của các con sông Trong phương thức kiếm sống, mặc dù việc khai thác nguồn lợi thiên nhiên (săn bắt, hái lượm) vẫn tiếp tục tồn tại, song, bên cạnh đó, cư dân ở đây đã biết trồng trọt các loại hình vườn cây ăn củ và ăn quả, biết thuần hóa một số gia súc như chó, lợn, v.v

Đến cuối thời đá mới, với những lưỡi cuốc, lưỡi rìu đá tứ giác, bầu dục, có vai, có nấc, nền nông nghiệp trồng trọt đã đạt được những thành tựu lớn Vào giai đoạn này, cư dân Đông Nam Á đã biết thuần hóa cây lúa hoang, mở ra một nền nông nghiệp trồng lúa đặc sắc trên toàn miền Niên đại lúa trồng xưa nhất được biết ở Việt Nam và Đông Nam Á là vào khoảng 6000 cho đến 5000 năm trước công nguyên Nghề trồng lúa phát triển dẫn tới việc định canh, định cư và nhu cầu mở rộng mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội Nguyên lý tổ chức xã hội theo thị tộc huyết thống (Cây gia

Trang 10

phả) trở nên chật hẹp và đòi hỏi phải được thay thế bằng

nguyên lý mới: thị tộc láng giềng (Công xã nông thôn) Theo

đó, một hệ thống giá trị mới cũng dần định hình dựa trên lối

sống cộng đồng, tương thân, tương ái

Cho đến khoảng trên dưới 4000 năm cách đây, trên

toàn miền Đông Nam Á, nếp cư trú xóm làng dựa trên cơ

sở đất công của làng xã, dựa trên việc quản lý các công

trình thủy lợi và tự vệ chống lại những cuộc tấn công từ

bên ngoài vào đã trở nên phổ biến

Cuộc “Cách mạng luyện kim” tiếp nối và hoàn chỉnh

cuộc “Cách mạng đá mới” diễn ra vào khoảng cuối thiên

niên kỷ thứ III, đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên

và tiếp tục phát triển về sau là bước nhảy kỳ diệu trong

lịch sử Đông Nam Á Sự xuất hiện của đồng, đồng thau và

sắt sớm thúc đẩy mạnh mẽ khả năng chinh phục rừng già,

đầm lầy để tạo nên những làng mạc trù phú Kỹ thuật canh

tác nhờ đó cũng đạt được những bước tiến đáng kể Và một

nền văn hóa tinh thần phong phú, sáng tạo cũng có điều

kiện nảy nở và phát triển rực rỡ

Hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng, sau

một thời kỳ phát triển liên tục từ đồ đá, sơ kỳ đồng thau,

đồng thau thịnh đạt đến hậu kỳ đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt -

tức giai đoạn văn hóa Đông Sơn - Đông Nam Á đã là một

trung tâm tiến bộ của văn minh cổ đại thế giới, bên cạnh

các trung tâm văn minh sông Nil, văn minh Lưỡng Hà, văn

minh sông Ấn, văn minh Hoàng Hà (tuy niên đại của các nền văn minh này sớm muộn có khác nhau).(5 )

“Văn minh Đông Sơn là bước hội tụ lớn của cư dân Đông Nam Á, một cư dân nòi da vàng-Anhđônêdiêng và Nam Á - đa dạng trong sắc thái ngôn ngữ Môn-Khmer – Tày Thái – Mã Lai đa đảo (Anhđônêdiêng), cả Tạng-Miến nữa, đa dạng trong lối sống, đồng bằng, biển, nửa đồi núi, núi rừng với đủ dạng kết cấu đan xen phức tạp nhưng mẫu số chung là văn minh nông nghiệp trồng lúa, văn hóa bản làng ”6

Chính nhờ vào sức mạnh hội tụ “Văn hóa Đông Sơn” mà toàn thể Đông Nam Á đã bước vào thời kỳ xác lập các nhà nước cổ đại kiểu phương Đông Thời điểm ra đời của các nhà nước có sớm muộn tùy vùng khác nhau nhưng đều mang đặc điểm chung là sự kết hợp tuyệt vời kết quả của hai quá trình phát triển nội tại và giao lưu văn hóa với các nền văn minh lớn ở Châu Á

2- Thiết lập mối bang giao:

Như trên đã đề cập: Đông Nam Á là một khu vực lịch sử - văn hóa sớm Dựa trên những điểm tương đồng về địa lý, về kết cấu và phân bố dân cư, nhất là về mặt lịch sử, giữa các dân tộc láng giềng với nhau đã sớm có mối liên hệ mật thiết, gắn bó để cùng tồn tại và phát triển Việc giao

(5) Theo “Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược”, Tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,

1984, tr.19

6 Theo “Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược”, Tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,

1984, tr.19

Trang 11

lưu giữa Việt Nam và Đông Nam Á cũng như giữa Việt Nam

với các khu vực khác khi ấy chủ yếu diễn ra trên các lĩnh

vực kinh tế và văn hóa

a) Về kinh tế:

Hiện chúng ta còn thiếu những số liệu ghi chép về

mối bang giao giữa Việt Nam với khu vực nói chung, và

Việt Nam với từng nước nói riêng ở buổi bình minh của lịch

sử này Thế nhưng bù vào đó, kết quả của ngành khảo cổ

học đã cho thấy một mối giao lưu khá rộng khắp trên toàn

khu vực thể hiện qua sự phân bố đều khắp của các công cụ

sản xuất mang dáng dấp, chất liệu và kỹ thuật khá gần gũi

với nhau Hàng loạt các hiện vật khảo cổ đã được tìm thấy

như các công cụ đá (từ đá cuội, rìu mài, rìu có nấc, có vai),

các hiện vật gốm, đồ đồøng, đặc biệt là trống đồng, thạp

đồng được phân bố ở khắp nơi với niên đại và kỹ thuật

chế tác không cách biệt nhau là mấy, chứng tỏ rằng tại khu

vực này vốn đã có quá trình gần gũi, trao đổi và học hỏi

lẫn nhau từ rất sớm Đặc biệt giai đoạn phát triển của thời

đại đồ đồng, việc trao đổi diễn ra khá thường xuyên Trong

giai đoạn này, cũng cần lưu ý đến một điều đó là về đại thể

Đông Nam Á không phải là nơi sẵn đồng Ngoại trừ Việt

Nam có trữ lượng đồng lớn hơn cả, các vùng còn lại đều

khá khan hiếm thứ kim loại này Cho nên trong khoảng

hai thiên niên kỷ cuối trước công nguyên, chỉ có cư dân

đồng bằng sông Hồng (Việt Nam) là sớm phát triển kỹ

nghệ đồng và phát huy được tác dụng của kim loại này

Nhờ ưu thế đó, Việt Nam đã trở thành nơi cung cấp đồng và công cụ đồng chủ yếu cho khu vực.7

Quan hệ giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á ở thời kỳ này chủ yếu diễn ra một cách tự phát do nhu cầu tự nhiên giữa các khối cư dân trong vùng với nhau Điều này dễ dàng xảy ra do yếu tố cộng cư cài răng lược giữa các nhóm tộc người trên cùng một địa bàn tương đối đồng nhất và không có những ranh giới tự nhiên rõ rệt Bên cạnh đó, cũng phải kể đến tác động trực tiếp của mối quan hệ buôn bán giữa các quốc gia vùng Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, Ấn Độ với khu vực này Và dĩ nhiên cả mối giao lưu của khu vực Đông Á với Đông Nam Á nữa Chúng ta đều biết Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đều nằm trong vành đai nhiệt đới - nơi có hệ sinh thái đa dạng, phong phú Những sản vật miền nhiệt đới như: hồ tiêu, trầm hương, kỳ nam, vàng ngọc, đá quý, đồi mồi, sừng tê, chim trĩ, các loại hoa quả nhiệt đới, v.v luôn có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với thị trường quốc tế, đặc biệt là thị trường phương Tây Dưới tác động của thị trường buôn bán thường xuyên này, những trung tâm buôn bán lớn đã hình thành ở các địa điểm thích hợp như: khu vực hội tụ các con sông, các cửa biển, lưu vực của các sông lớn để đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng nhiều Có thể kể đến một số trung tâm hình

7 Lấy sự hiện diện của Trống đồng loại I (Trống đồng Ngọc Lũ thuộc văn hóa Đông Sơn) làm ví dụ, ta thấy, phạm vi phân bố đều khắp của nó ở Đông Nam Á Ở đây cần lưu ý đến tính chất hàng hóa của nó Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đều đã thừa nhận Việt Nam là quê hương của trống đồng và sự phân bố rộng khắp của nó có liên quan đến người Việt nói chung

Trang 12

thành sớm lúc bấy giờ ở Việt Nam như: lưu vực sông Hồng,

lưu vực sông Cả, Cửa Thị Nại, Óc-eo, v.v

Các sản phẩm trao đổi chính lúc bấy giờ, có lẽ vẫn là

các sản vật của địa phương như các lâm thổ sản, các loại

gia vị, trái cây, các sản phẩm được chế biến từ nguồn thủy,

hải sản và đặc biệt là các công cụ sản xuất được chế tạo từ

đồng, sắt, gốm, v.v

b) Về văn hóa:

Vào thời kỳ xa xưa: Thời đại Đông Sơn, cư dân Đông

Nam Á đã có một cuộc sống ổn định trên cơ sở làm nông

nghiệp trồng lúa và trong nếp sống của từng vùng đã diễn

ra quá trình hội tụ những yếu tố văn hóa đồng bằng, biển,

núi, rừng với thế đan xen phức tạp Giữa các tộc người

khác nhau trong khu vực từ rất sớm hình thành lối cư trú

xen cài Chính sự cộng cư cũng như quá trình hội tụ văn

hóa nói trên là cơ sở để định hình những truyền thống

chung và riêng của văn hóa Đông Nam Á Những truyền

thống chung là: làm ruộng (nước và khô) kết hợp với làm

vườn, biết sử dụng sức kéo của gia súc trong nông nghiệp,

biết xử lý nước cho nông nghiệp (biện pháp trị thủy); lối cư

trú nhà sàn, quần tụ trong những xóm làng; tín ngưỡng

nông nghiệp và tín ngưỡng thờ thần phổ biến Có thể nói

ở đâu có hội tụ, ở đó sớm hình thành tính cách Đông Sơn

Tính cách Đông Sơn là đặc điểm chung của cư dân Đông

Nam Á thời đại đồng thau và sắt sớm Tuy nhiên, do điều

kiện và khả năng thích ứng của từng môi trường ở mỗi

vùng có khác nhau, nên mỗi vùng lại có tính cách riêng

Chẳng hạn như:

- Cư dân Non Nok Tha - Ban Chiang hay Roi et - Phi Mai vùng cao nguyên Kòrạt làm ruộng và săn bắn, tức yếu tố đồng bằng và rừng núi nổi bật

- Cư dân vùng Somrôngsen và Mluprei (Campuchia) làm ruôïng kết hợp với đánh cá và săn bắn, tức có sự kết hợp giữa các yếu tố đồng bằng, biển, và rừng núi

- Cư dân Việt (sông Hồng) lại làm ruộng, săn bắn, đánh cá, đồng thời biết tổ chức ra nhà nước sơ khai để tổ chức và quản lý mọi hoạt động sản xuất của mình.(8)

Từ đặc điểm trên dẫn đến sự gần gũi nhau trong phong tục, tập quán của các khối cư dân ở Đông Nam Á Những trống đồng và sản phẩm đồng được phân bố ở nhiều nơi, lối cư trú nhà sàn, những biện pháp trị thủy làm nông nghiệp, những vườn cây ăn củ, ăn quả, cho đến lễ hội mùa được tổ chức hàng năm, cũng như kiểu qui tụ xóm làng cho đến nay vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở Đông Nam Á là những vết tích sống động của mối liên hệ ban đầu của cư dân ở đây trên lĩnh vực văn hóa Đó là một nền văn hóa riêng không lẫn được - nền văn hóa bản địa, định hình và phát triển dựa trên cơ sở những yếu tố riêng của mỗi tộc người và sự liên kết chặt chẽ giữa các vùng trong khu vực với nhau

Ngay từ những thế kỷ trước và sau công nguyên, trên

cơ sở nền văn hóa bản địa sớm định hình và phát triển đó, các dân tộc ở Đông Nam Á đã tự khẳng định mình: Sự ra đời của nhà nước Văn Lang của người Việt trên lưu vực sông Hồng vào hạ bán thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên,

8 Theo Cao Xuân Phổ, Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, sđđ, tr.62

Trang 13

rồi tiếp đó lần lượt các nhà nướùc được thiết lập ở cả trên lục

địa và hải đảo vào các thế kỷ đầu công nguyên như: Phù

Nam, Champa, Langkakusa, Palembang, Malayu, Kalinju,

Srivijaya đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong ý thức

dân tộc của cư dân Đông Nam Á

Vào thời điểm các nhà nước sơ kỳ đồng loạt ra đời

cũng là lúc Đông Nam Á đứng trước một bối cảnh lịch sử

mới: Sự thâm nhập hòa bình của văn hóa Ấn Độ và sự xâm

nhập bằng vũ lực của văn hóa Hán Bối cảnh lịch sử này

đặt Đông Nam Á trước một nhiệm vụ mới: quá trình “Dựng

nước và giữ nước” sôi động trên toàn khu vực:

Các dân tộc ở phía Nam tiếp thu các yếu tố văn hóa

Ấn Độ, cụ thể là tiếp thu thiết chế chính trị và chế độ đẳng

cấp, để dần dần hoàn thiện tổ chức xã hội của mình (Dựng

nước)

Các dân tộc ở phía Bắc (chủ yếu là người Việt) phải

đương đầu chống lại sự Hán hóa và phần nào tiếp thu văn

hóa Hán (Giữ nước)

Tình hình trên buộc các dân tộc ở đây phải xích lại

gần nhau hơn trên cơ sở của một nền văn hóa vốn có nhiều

điểm chung để chọn lọc và tiếp thu thêm những yếu tố văn

hóa mới Vì thế, về cơ bản nền văn hóa ở đây được bảo tồn

và có phần phát triển hơn do có thêm những yếu tố mới,

nhưng tuyệt nhiên không hề bị Ấn hóa hay Hán hóa

Đặc biệt, vào thời kỳ này đạo Phật khi thâm nhập

vào Đông Nam Á không chỉ làm phong phú hơn văn hóa

bản địa mà, thông qua đạo Phật, mối liên kết khu vực càng

thêm bền chặt Đạo Phật đã được người Việt sử dụng như

một thứ vũ khí chống lại Hán hóa, đồng thời cũng là chất keo liên kết cư dân trong các xóm làng lại với nhau

II BANG GIAO VIỆT NAM - ĐÔNG NAM Á TRONG THỜI KỲ VIỆT NAM BỊ PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC ĐÔ HỘ (TỪ 179 TRƯỚC CÔNG NGUYÊN ĐẾN THẾ KỶ THỨ X)

Từ năm 179 trước công nguyên, Việt Nam bị phong kiến phương Bắc xâm lược và đô hộ (Bắc thuộc) Kể từ đây, nhân dân Việt Nam có thêm một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng và khó khăn: Đánh đuổi phong kiến phương Bắc, khôi phục nền độc lập, tự chủ Vì thế, bang giao Việt Nam với Đông Nam Á cũng diễn ra khác trước, trên đại thể có thể xem xét trên hai phương diện:

1 Bang giao về phía nhà nước

Do Việt Nam tạm thời bị mất nước, cai trị Việt Nam ở trong thời kỳ này là các chính quyền đô hộ từ phương Bắc (Triệu, Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, Tuỳ, Đường)

Vì thế, về phía nhà nước là mối quan hệ giữa các thế lực cầm quyền ở Trung Quốc với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á

Với tư tưởng “Bình thiên hạ”, các triều đại phong kiến

ở Trung Quốc luôn thèm khát vùng đất giàu có tài nguyên và tiềm tàng khả năng phát triển mậu dịch biển này Do đó, họ ra sức bình định hầu biến Việt Nam thành quận, huyện của họ để làm bàn đạp vươn xuống Đông Nam Á Chính sách cai trị của các thế lực phong kiến Trung Quốc là một chính sách thâm độc kết hợp giữa khai thác kiệt quệ tài nguyên với đồng hóa sâu sắc về văn hóa Trong hơn một nghìn năm đô hộ ở Việt Nam, phong kiến Trung Quốc chưa bao giờ từ bỏ âm mưu đó Đối với các nước Đông Nam Á,

Trang 14

chính sách của phong kiến Trung Quốc cũng là kết hợp

chiến tranh với ngoại giao để thiết lập ảnh hưởng của mình

tại đây Song, trước sau các thế lực phong kiến Trung Quốc

chủ yếu chỉ thiết lập được ảnh hưởng chính trị lên khu vực

này mà thôi Trong suốt thời kỳ này, lịch sử đã chứng kiến

các triều đại Trung Quốc liên tiếp cử các phái bộ ngoại giao

đến các nước láng giềng của Việt Nam để đặt ảnh hưởng và

gây chia rẽ nội bộ các nước này, cô lập họ với Việt Nam

Ngược lại, các nước Đông Nam Á trên bước đường củng cố

thực lực của mình cũng không thể đứng ngoài mối quan hệ

quốc tế và khu vực, nên đã chọn chính sách đối ngoại thân

thiện với các nước lớn Rất nhiều các phái đoàn ngoại giao

của các nước Đông Nam Á cũng được phái tới Trung Quốc

để triều cống hoặc xin giúp đỡ

2 Về phía nhân dân:

Do phải tiến hành chống Bắc thuộc nên mối quan hệ

giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á có phần nào bị

hạn chế hơn trước Song, nhìn chung, mối quan hệ vẫn là

giao hảo, thân thiện, nhất là các nước láng giềng có chung

đường biên giới Lúc bấy giờ, không riêng Việt Nam mà cả

Lào và Chân Lạp (Campuchia sau này) đều bị đặt trước họa

xâm lăng của phong kiến phương Bắc Do vậy, nhân dân

các nước này cùng có chung một nhiệm vụ đó là đấu tranh

chống kẻ thù chung là phương Bắc xâm lược Lịch sử đã

từng chứng kiến lần liên minh đầu tiên diễn ra giữa nhân

dân Việt với nhân dân Lào vào thế kỷ thứ VI, khi người

con ưu tú của đất Việt là Lý Nam Đế nổi dậy chống lại nhà

Lương Sau đó, vào năm 722 cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc

Loan chống lại phong kiến nhà Đường ở Việt Nam đã được

nhân dân Chămpa, Chân Lạp và Kim Lân ủng hộ

Trong suốt mười thế kỷ bị phong kiến nước ngoài đô hộ, trên thực tế người Việt đã bị mất nước, song, tinh thần dân tộc, ý thức độc lập của người Việt vẫn khẳng định sức sống mãnh liệt của nó Hơn mười thế kỷ bị đô hộ và đồng hóa cũng là mười thế kỷ người Việt chống xâm lược và chống đồng hóa Chính cuộc đấu tranh anh dũng, quật cường của người Việt đã góp phần chặn đứng và đẩy lùi sự xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc xuống Đông Nam Á Đồng thời, trong cuộc đấu tranh này, người Việt đã tiếp thu thêm văn hóa của các nước Đông Nam Á, nhất là thông qua đạo Phật để tiếp thêm sức mạnh chống lại Hán hóa

Nếu như vào thời kỳ này, mối bang giao giữa người Việt ở Bắc Bộ và các nước Đông Nam Á có phần nào giảm sút, thì ngược lại ở phía Nam trên phần đất của người Chăm và một bộ phận lãnh thổ thuộc vương quốc cổ Phù Nam và Chân Lạp (tương ứng với phần đất đồng bằng sông Cửu Long sau này) mối quan hệ lại có một sự phát triển vượt bậc

* Chămpa

Vương quốc cổ Chămpa được thành lập vào năm 192, là kết quả của phong trào đấu tranh chống lại ách thống trị của nhà Hán của nhân dân Chăm và Việt khi ấy Nhà nước đầu tiên được xây dựng vào năm này có tên là Lâm Ấp (là tên của một con sông) Chủ nhân của Lâm Ấp là những người Chăm thuộc ngữ hệ Mã Lai đa đảo Vương quốc này đã tồn tại bền vững suốt mười lăm thế kỷ, nhưng sau đó suy yếu dần và đã dần chuyển hóa thành một bộ phận của nước Việt Nam Quá trình chuyển hóa này là một quá trình lâu dài, ở đó vừa có sự can thiệp vũ lực của các vương triều

Trang 15

phong kiến, vừa có sự tự nguyện của cả hai khối cư dân

Việt - Chăm vì nhu cầu sinh tồn và phát triển

Lẽ dĩ nhiên, khi còn tồn tại với tư cách là những nhà

nước độc lập, giữa Chămpa và Đại Việt đã có những mối

bang giao trên nhiều lĩnh vực Giữa hai nhà nước cũng không

tránh khỏi những va chạm về quyền lợi, thậm chí tiến hành

chiến tranh để thôn tính nhau Song, đây là việc làm hoàn

toàn phù hợp với logic lịch sử, với quy luật cạnh tranh sinh

tồn, mạnh được yếu thua của thời Cổ - Trung đại

Về phía nhân dân, do có chung những điều kiện sinh

sống, quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, đặc biệt

có chung kẻ thù nguy hiểm là phong kiến phương Bắc, nên

cư dân hai nước có một sự chia sẻ và hiểu biết lẫn nhau Vì

thế, giữa họ luôn có sự tiếp nhận lẫn nhau, chung lưng, đấu

cật để tạo dựng cuộc sống Đây là một yếu tố năng động và

là động lực chính thúc đẩy quá trình chuyển hóa trên

Trong thời kỳ tồn tại và phát triển thịnh vượng với tư

cách là một quốc gia độc lập, Chămpa có mối quan hệ

thường xuyên với các nước trong khu vực, đặc biệt là với

Chân Lạp, Lào, Thái Lan và Philippin Mối quan hệ này

diễn ra trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa,

ngoại giao Đồng Dương (nay thuộc tỉnh Quảng Nam) và

cửa Đại Chăm (nay là Hội An) được xem là các trung tâm

chính trị, văn hóa, và kinh tế lớn của Chămpa lúc bấy giờ,

cũng là nơi thu hút thương nhân từ nhiều nước đến đây giao

lưu thương mại

Chămpa nổi tiếng với sản vật quý hiếm: ngà voi, tê

giác, gỗ có hương, vàng, vải vóc, tổ yến Sản vật của

Chămpa thường được dùng làm lễ vật trong quan hệ ngoại

giao với các nước ngoài

Phù Nam (Founan, thế kỷ I đến thế kỷ VII)

Vào những thế kỷ đầu công nguyên, dựa trên sự phát triển kinh tế của thời đại đồng thau và sắt sớm cùng sự trao đổi văn hóa với bên ngoài, đặc biệt là Ấn Độ, các tộc người miền Nam Đông Nam Á đã lần lượt dựng lên các nhà nước sơ kỳ hoặc các địa điểm quần cư quan trọng Phù Nam là một trong những quốc gia sơ kỳ đó, đã ra đời trên vùng đất đại thể tương ứng với đất Nam Bộ và một phần các tỉnh thuộc Đông Nam Campuchia ngày nay

Trên thực tế, Phù Nam đã phát triển qua những giai đoạn kế tiếp nhau với những đặc điểm riêng Trong khoảng vài ba thế kỷ đầu là giai đoạn hình thành và phát triển của vương quốc Từ thế kỷ thứ III, Phù Nam đã là một đế quốc hùng mạnh khống chế một tập hợp các tiểu quốc thuộc các tộc người khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội rất khác nhau Trong đó, đương nhiên có một tiểu quốc Phù Nam chính tông nắm địa vị tôn chủ bắt các tiểu quốc khác phải thần phục và cống nạp

Một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa lớn của Phù Nam lúc bấy giờ đã được thiết lập ở miền Tây sông Hậu (Việt Nam ngày nay) có lẽ trùng với nhà nước Naravaranagara (nước Chí Tôn) - một tiểu quốc có vị trí đặc biệt quan trọng đối với Phù Nam Đây vừa là cửa ngõ ở phía Đông tiếp giáp với nước ngoài qua đường biển, vừa là trung tâm thu nhận cũng như phát tán văn hóa của khu vực và cả thế giới xung quanh Cư dân Naravaranagara làm ruộng, đánh cá và đặc biệt thông thạo việc buôn bán trên biển nên có giao lưu rộng rãi với bên ngoài Thông qua Naravaranagara mà Phù Nam trở nên mạnh về kinh tế và cũng qua đó mà tiếp nhận văn hóa từ bên ngoài vào, nhất là văn hoá Ấn Độ

Trang 16

Vào thời kỳ thịnh trị của mình, Phù Nam có mối quan

hệ rất chặt chẽ với các nước trong khu vực: Lâm Ấp, Chân

Lạp, Thái Lan, Mianma, Malaysia và các nước ngoài khu

vực: Ấn Độ, Trung Quốc Có thể kể ra đây một số lĩnh vực

chính:

- Về mặt văn hóa: Bên cạnh việc giao lưu với khu

vực, Phù Nam đã tiếp thu mạnh mẽ văn hóa Ấn Độ trong

đó có Bàlamôn giáo Thần Civa cũng như cơ chế tổ chức

vương triều và thiết chế đẳng cấp của Ấn Độ được du nhập

và ảnh hưởng không nhỏ ở nước này Đạo Phật cũng rất

được sùng bái ở Phù Nam Chính là qua Phù Nam mà văn

hóa Ấn Độ đã truyền bá sâu hơn vào miền lục địa, nhất là

đến Chân Lạp

- Về mặt kinh tế: Thương cảng Óc-eo là một trung

tâm kinh tế, phồn thịnh không chỉ của Phù Nam mà còn

của cả Đông Nam Á lúc bấy giờ: Ở đây không thiếu một thứ

gì dù là của Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc hay vùng Địa

Trung Hải Tàu buôn của các nước tấp nập vào ra nơi đây

để buôn bán và bốc dỡ hàng hóa Các hiện vật còn tìm thấy

ở Óc-eo qua quá trình khai quật như: các loại tiền cổ của

các nước trong khu vực, tiền đồng và đặc biệt là hai tấm

mề đay bằng vàng có niên đại rất sớm dưới triều đại

Antoni le Pieux và Marc Aurèle (thế kỷ II), nhiều đồ trang

sức bằng mã não và thủy tinh màu có xuất xứ tại La Mã và

Trung Cận Đông, tượng phật Ấn Độ, v.v cho thấy mối

giao lưu kinh tế đặc biệt thịnh vượng tại đây

Tiếc rằng, thương cảng lớn nhất Đông Nam Á trong 7

thế kỷ đầu công nguyên sau đó đã bị hủy hoại một cách đột

ngột, mà nguyên nhân của sự biến mất này hiện vẫn chưa

được làm sáng tỏ

B BANG GIAO VIỆT NAM - ĐÔNG NAM Á TỪ SAU THẾ

KỶ THỨ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

Vào đầu thế kỷ thứ X, cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc của người Việt đã giành được thắng lợi hoàn toàn Một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập tự chủ và phát triển về mọi mặt được mở ra Nhà nước dân tộc được xác lập và củng cố Trong xu thế khẳng định chính mình, các triều đại phong kiến Việt Nam từng bước củng cố và hoàn thiện bộ máy trung ương tập quyền trong nước, đồng thời mở rộng quan hệ với bên ngoài

Cũng vào thời điểm này, nhiều nước Đông Nam Á cũng bước vào giai đoạn xây dựng các quốc gia dân tộc Bối cảnh chung đó là tiền đề vô cùng thuận lợi để mở ra một trang mới trong lịch sử bang giao giữa các nước trên toàn khu vực Có thể nói mối bang giao giữa Việt Nam với Đông Nam Á chưa bao giờ gặt hái được nhiều thành công đến thế kể từ trước đó

III BANG GIAO VIỆT NAM - CHÂN LẠP

1 Vài nét về vương quốc Chân Lạp (Campuchia)

Vào khoảng đầu công nguyên ở giai đoạn sơ kỳ đồ sắt, trên cơ sở của kỹ thuật mới và sự tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, có lẽ những quốc gia sơ kỳ của người Môn cổ và người Khmer cổ đã được lập ra Biên niên sử của Campuchia đã đề cập đến một trong những quốc gia sơ kỳ đó có tên gọi là Chenla Các quốc gia này sau đó bị lệ thuộc vào một quốc gia mạnh hơn, đó là Phù Nam (mà ta đã có dịp đề cập) Cho đến

Trang 17

thế kỷ thứ VI và VII, các quốc gia này mạnh dần lên và dần

thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào Phù Nam

Theo truyền thuyết, thủy tổ của người Khmer là một ẩn

sĩ người gốc Ấn Độ tên là Kambu đã đến vùng đất này truyền

giáo Sau đó, vị ẩn sĩ kết hôn với nữ thần Mera, vì thế con

cháu của họ được gọi là Kambuja Tên ghép của cặp vợ chồng

Kambu-Mera cũng được lấy làm tên tộc Kmer hay Khmer

Trung tâm điểm của bộ lạc Khmer gốc có thể là Vạt

Phu (Champassac), gần nơi hội lưu của hai sông Sêmun và

Mêkông Bộ lạc này có trình độ kinh tế - xã hội khá cao, họ

có sự tiếp xúc khá gần gũi và thường xuyên với các bộ tộc

Khmer ở phía Nam và qua đó mà họ tiếp thu ảnh hưởng

của văn hóa Ấn Độ

Người chính thức xác lập ra vương quốc Khmer miền

Bắc hay vương quốc Campuchia sơ kỳ là Bhavavarman I Tên

nước lúc đầu cũng được đặt theo tên ông: nước Bhava

(Bhavapura), nhưng người Trung Quốc thì vẫn gọi là Chân

Lạp

Bhavavarman I là người chấm dứt sự lệ thuộc của

Khmer vào Phù Nam Nhưng phải đợi đến em trai ông là

Sitơrasena (Mahendravarman - 600 - 620) và cháu ông là

Isanavarman (620-650), người Khmer mới chinh phục được

Phù Nam Vương quốc Campuchia sơ kỳ thực sự thịnh trị

dưới triều Jayavarman I (650-680)

Việc tiếp xúc với văn hóa biển, việc mở rộng địa bàn

với những điều kiện sinh sống mới đã thúc đẩy nền kinh tế

- xã hội Campuchia đạt được những bước tiến đáng kể Dưới

thời Javavarman I, người Chân Lạp đã xâm chiếm cả AiLao

(Lào) và một phần Nam Chiếu (Vân Nam - Trung Quốc)

2 Bang giao Việt Nam - Chân Lạp

a) Bang giao trước thế kỷ XVI

Thư tịch cổ Việt Nam đã từng nói đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Chân Lạp được thiết lập khá sớm Vào đầu thế kỷ VIII (722), mối quan hệ này được củng cố thêm qua cuộc nổi dậy của Mai Thúc Loan ở Hoan Châu chống nhà Đường 32 châu trong nước đã nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của ông Bên ngoài, Mai Thúc Loan liên kết được với Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, quân số lên đến hơn

30 vạn người Nhà Đường phải vất vả lắm mới dẹp được cuộc khởi nghĩa

Từ sau khi Đại Việt giành được độc lập từ tay phong kiến Trung Quốc, Đại Việt ngày càng được củng cố và phát triển Trong khi đó, ở Chân Lạp, nền văn minh Aêngkor cũng bước vào giai đoạn thịnh đạt dưới triều đại Jayavarman VII (1181 - sau 1200) Nếu như Đại Việt thực thi chính sách mở rộng quan hệ với bên ngoài, thì Jayavarman VII cũng chủ trương liên kết và giữ quan hệ hòa hiếu với các nước lớn như Trung Quốc, Đại Việt, Java Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Chân Lạp được chính thức thiết lập dưới triều Lý, thời vua Lý Thái Tổ Thư tịch cổ của Việt Nam còn ghi rõ: lần đi sứ đầu tiên của sứ bộ Chân Lạp đến nước ta là vào năm 1012 – 1013, họ mang theo rất nhiều sản vật để triều cống nhà Lý Tiếp theo đó, chỉ tính riêng dưới triều Lý đã có cả thảy 13 lần sứ bộ Chân Lạp đến Đại Việt Mối giao hảo giữa hai nước đặc

biệt thuận thảo, tốt đẹp Chẳng hạn như:

- Vào năm 1118, sứ giả Chân Lạp đến Thăng Long, gặp lúc triều đình mở tiệc mừng xuân khánh thành 7 ngọn

Trang 18

Bảo tháp, vua Lý sai hữu ty bày nghi trượng ở Điện Linh

Quang rồi dẫn sứ giả cùng xem.(9)

- Cũng vào thời này, một số dân Chân Lạp vì sợ nội

loạn đến xin cư trú ở Đại Việt, vua Lý ưng thuận

Ở nửa đầu nhà Lý, quan hệ ngoại thương giữa hai nước

cũng khá phát triển Thương cảng Vân Đồn (Quảng Ninh)

được mở rộng và thu hút khách thương từ nhiều nước tới đây

Vì thế người Chân Lạp cũng thường tới trao đổi các sản

phẩm của họ và đổi lấy các thổ sản, đồ dùng thông thường

như: chiếu thô, nồi đồng, mâm đồng, lược gỗ, kim khâu…

Trên lĩnh vực văn hóa: Thời Lý, các vua của ta đều

chuộng đạo Phật nên giao lưu văn hóa giữa hai nước thông

qua đạo Phật khá thịnh hành Các nhà sư vẫn thường được

cử đi cùng các sứ giả trong đoàn ngoại giao Thậm chí, vào

năm 1086, trong phái bộ ngoại giao của Chân Lạp sang

triều cống còn có cả hai người theo đạo Bàlamôn đi cùng

Tuy nhiên, không phải quan hệ giữa các vương triều

lúc nào cũng thuận thảo Do bị chi phối bởi áp lực của các

nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc, và quy luật canh tranh

quyền lực khốc liệt của thời trung đại, giữa hai nước không

tránh khỏi có những lúc bất hòa, thậm chí phải dụng binh

để giải quyết những bất đồng về quyền lợi Vào năm 1069,

Chân Lạp bị nhà Tống (Trung Quốc) xúi bẩy đã liên minh

với Tống, chống lại Đại Việt Để giữ vững biên giới phía

nam của mình nhà Lý buộc phải tấn công liên quân Chân

Lạp –Champa trước để tự vệ và đẩy lùi âm mưu thâm độc

của nhà Tống Dưới thời Harsavarman III (Vua chinh phục

9 Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Lý, quyển 3, tr.248-249

1066-1080), Chân Lạp nhiều lần mang quân tiến đánh Chămpa và vùng biển phía nam của Đại Việt Thời vua Suryavarman II (1113-1150), Chân LạÏp cũng đã 5 lần mang quân tiến đánh Đại Việt bằng đường bộ và đường biển Trong đó lần diễn ra vào năm 1128, Chân Lạp lấy cớ Đại Việt chứa chấp người Chiêm và người Chân Lạp lưu vong, đã cử tới 20.000 quân tấn công Đại Việt Năm sau (1129), Chân Lạp lại liên kết với Chămpa mang 700 chiến thuyền tấn công Thanh Hóa, v.v… Các trận tấn công còn tiếp diễn dưới thời Jayavarman VII, lôi kéo cả quân Miến Điện (Mianma) tham chiến

Đặc biệt, quan hệ Chân Lạp - Chămpa trong giai đoạn này rất xấu Chân Lạp từng chinh phục Chămpa trong nhiều năm (từ 1145-1149), thậm chí đưa cả hoàng thân Chân Lạp lên trực tiếp cai trị Chămpa Những việc làm đó mở đầu cho một cuộc chiến tranh kéo dài giữa hai nước, mà sử gọi là “chiến tranh trăm năm” (1113-1220) Hầu hết trong thời gian đó, Chân Lạp chiếm đóng và đô hộ Chămpa, ngoại trừ giai đoạn 1177-1181, Chăm Pa chiếm đóng và đô hộ được một phần Chân Lạp Đã có thời kỳ Chămpa bị biến thành một tỉnh của Chân Lạp (1203-1220)

Ở cuối thời Lý và sang thời Trần, Chân Lạp bước vào giai đoạn suy tàn, tình hình Chân Lạp ngày càng xấu đi và bị nước láng giềng Thái Lan thường xuyên gây áp lực và chiếm đất Bang giao Việt Nam-Chân Lạp tạm thời gián đoạn

Một nguyên nhân khác cũng không kém phần quan trọng làm đứt đoạn quan hệ giữa hai nước là cuộc xâm lược của quân đội Mông-Nguyên xuống phương Nam Đại Việt là tiêu điểm của cuộc đụng đầu này, đã dồn hết mọi khả năng và lực lượng cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Cuộc

Trang 19

kháng chiến anh dũng của Đại Việt đã đẩy lùi 3 lần tấn công

của quân đội Mông Cổ và do vậy chẳng những Đại Việt giữ

vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình mà còn góp

phần bảo vệ vững chắc nền hòa bình của khu vực

b) Bang giao từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ

XIX

Từ thế kỷ XVI trở đi, mối quan hệ giữa hai nước được

thiết lập trở lại và ngày càng phát triển hơn trước Đây cũng

là thời kỳ người Việt bắt đầu di chuyển ngày càng đông vào

phía nam (Đàng trong) để tìm đất sống Trong quá trình tiến

về phương Nam mưu cầu cuộc sống, người Việt càng có dịp

tiếp xúc và gần gũi với lớp cư dân Khmer tại đây Đều là nạn

nhân của chế độ phong kiến, những lớp cư dân Việt - Khmer

đầu tiên đã dễ dàng tiếp nhận lẫn nhau Họ cùng chung lưng

đấu cật để vượt qua thử thách của thiên nhiên và những bất

công xã hội để tạo nên các làng mạc trù phú và ruộng vườn

tốt tươi Vì thế mà hình thành nên tình trạng cư trú xen cài

giữa hai cộng đồng cư dân trên vùng đất hạ lưu sông Mê

Kông Thông thường, người Việt có khả năng thích ứng cao

với các loại hình ruộng nước, sình lầy, nên tỏa xuống các vùng

trũng, ngập nước để canh tác Còn người Khmer tỏ ra thích

hợp với các vùng cao hơn, nên họ thường canh tác trên các gò,

giồng là chính

Quan hệ giữa Việt Nam và Chân Lạp thời họ Nguyễn

mở rộng quyền lực về phía Đàng trong là một mối quan hệ

mật thiết và được thể hiện trên nhiều lĩnh vực:

Chính trị – ngoại giao – quân sự:

Vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII xung đột giữa

các thế lực phong kiến ở Việt Nam diễn ra gay gắt Một

trong những thế lực ấy là họ Nguyễn (Nguyễn Hoàng) quyết định chọn đất Thuận Hóa làm nơi tập hợp lực lượng, chuẩn

bị cho những dự tính quyền lực lâu dài Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), con trai Nguyễn Hoàng, nối nghiệp Chúa đã xúc tiến mạnh mẽ mối quan hệ với các quốc gia láng giềng phía nam của mình

Cũng vào khoảng thời gian này, ở Chân Lạp, Chey Chettha II (1618-1628) lên ngôi Ông là người có ý thức khôi phục nền tự chủ cho Chân Lạp nên đã tìm đồng minh để chống lại vương triều Ayuthaya (Thái Lan) Bối cảnh lịch sử suy tàn của Chân Lạp đã đưa Chey Chettha II đến với Chúa Nguyễn và kể từ đây vai trò của Chúa Nguyễn bắt đầu xuất hiện ở Chân Lạp

Năm 1620 đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ giữa hai nước Vào năm này, Chey Chettha II chính thức cầu hôn với công chúa Ngọc Vạn (con gái Chúa Nguyễn Phúc Nguyên) Kinh đô của Chân Lạp cũng rời xa hơn nữa về phía đông và được đặt tại Uđông trên bờ Tônglêsáp Để giữ vững ngai vàng và tranh thủ sự giúp đỡ của Chúa Nguyễn về quân sự trong cuộc chiến chống lại phong kiến Xiêm, Chey Chettha II đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho dân Việt tiến sâu vào khai phá đất đai vùng đồng bằng sông Cửu Long - nơi từ trước vẫn thuộc quyền quản lý của Chân Lạp và được gọi dưới tên Chân Lạp miền nước (Thủy Chân Lạp)

Năm 1628, Chey Chettha II qua đời Chân Lạp càng suy yếu nghiêm trọng Các thế lực cầm quyền ở Chân Lạp lúc thì dựa vào phong kiến Xiêm, lúc lại cầu cứu Chúa Nguyễn để bảo vệ quyền lợi Do vậy các Chúa Nguyễn càng có điều kiện củng cố ảnh hưởng của mình với Chân Lạp

Trang 20

Tuy vậy, vai trò chủ yếu của Chúa Nguyễn chỉ xuất hiện

trong những trường hợp cần thiết để hỗ trợ cho Chân Lạp,

đồng thời ngăn cản bớt tham vọng của phong kiến Xiêm

đối với Chân Lạp và khu vực Một số sự kiện tiêu biểu cho

vai trò này có thể kể đến như:

- Vào năm 1674, nội chiến giữa Nặc Ông Đài và Nặc

Ông Nộn diễn ra Chúa Nguyễn cử Cai cơ Nguyễõn

Dương Lâm sang giúp Ông Nộn lên ngôi và đặt Ông

Đài làm phó Vương

- Năm 1699, Nặc Ông Nộn nghe theo lời xúi bẩy của

phong kiến Xiêm, bỏ triều cống và đem quân chống

lại Chúa Nguyễn Tổng suất Nguyễn Hữu Cảnh phải

ra tay đánh dẹp

- Năm 1705, nội loạn diễn ra ở Chân Lạp, Chúa

Nguyễn phải giúp lập lại trật tự

- Năm 1753, lại giúp người Chăm Islam ở Chân Lạp

chống lại sự đàn áp của phong kiến Chân Lạp

- Năm 1813, đưa Nặc Ông Chân lên ngôi và giúp

thêm nhiều của cải

- Năm 1834: Bảo hộ cho triều đình của công chúa Ang

Mây (Ngọc Vân), v.v…

* Về kinh tế:

Có thể nói đây là một thời kỳ quan hệ kinh tế giữa

hai nước phát triển nhất Sự có mặt của người Việt ngày

càng đông ở Đàng trong đã khiến cho thực trạng vùng đồng

bằng sông Cửu Long thay đổi nhanh chóng: từ hoang vu,

rừng rậm chuyển thành đồng ruộng tươi tốt, xóm làng trù

mật Được thiên nhiên ưu đãi, lại được bàn tay lao động cần

cù sáng tạo của người Việt tác động vào nên chỉ trong một thời gian ngắn, kể từ cuối thế kỷ XVII, đồng bằng sông Cửu Long đã là một trung tâm kinh tế - chính trị lớn Hoạt động kinh tế, nhất là ngoại thương, trở nên nhộn nhịp, sầm uất, là nơi thu hút khách thương từ nhiều vùng đổ đến Việc buôn bán trên trục Gia Định – Nam Vang (Phnompênh) phát triển mạnh mẽ cả trên bộ, dưới thuyền Người Việt thường chở gạo, muối sang Nam Vang và mua về các lâm thổ sản và cá khô từ vùng biển Hồ Người Khmer thì tìm mua lương thực, muối và các đồ gia dụng cần thiết

Mặc dù nhà Nguyễn chủ trương “ức thương” bằng cách đặt các trạm kiểm soát, đánh thuế cao (thuế hàng hóa, thuế ghe thuyền, thuế sản vật…), quy định chặt chẽ các tuyến buôn bán, thậm chí quy định cả số lượng thương nhân trong một chuyến buôn … nhưng, việc buôn bán không vì thế mà hạn chế, trái lại nó vẫn phát triển ngày càng mạnh hơn

Ở những vùng cư trú xen cài, quan hệ kinh tế giữa hai khối cư dân trở nên tự nhiên, cần thiết Họ không chỉ trao đổi sản phẩm cho nhau mà còn học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau ngay trong quá trình sản xuất

*Về văn hóa – xã hội:

Nếu như trước đây người Khmer đã sớm biết chuyển hóa văn hóa biển Phù Nam để làm giàu thêm nền văn hóa của mình, thì ở giai đoạn này việc học hỏi, giao thoa về văn hóa càng có điều kiện để thúc đẩy hơn nữa Khi tiến về phương Nam người Việt mang theo mình văn hóa Thăng Long đã tích hợp từ ngàn năm trước, nhưng đồng thời cũng không ngừng tiếp thu thêm các giá trị văn hóa từ các nền văn hóa Chăm, Khmer Sự tiếp thu này thể hiện phong

Trang 21

phú, đa dạng từ nghệ thuật xây dựng, điêu khắc, ca múa

nhạc cung đình và dân gian cho đến sự giao hoan trong tín

ngưỡng, phong tục, tập quán Ngược lại, qua quá trình

chung sống thuận hòa, người Khmer cũng có thêm những

kinh nghiệm mới trong việc xây dựng tổ chức chính quyền,

trong kinh nghiệm làm ruộng nước và nhiều vấn đề khác

nữa… Kể từ thế kỷ XVIII, mối quan hệ giữa hai khối cư dân

ngày thêm bền chặt, cơ sở của tình đoàn kết đó không chỉ

bắt nguồn từ cuộc sống, sản xuất gần gũi mà còn từ việc họ

đều có chung một kẻ thù giai cấp, đó là phong kiến họ

Nguyễn Ở giai đoạn thế kỷ XVIII, phải kể đến những mối

liên minh đoàn kết chiến đấu giữa nghĩa quân Tây Sơn với

nhân dân Chân Lạp Mối liên minh này được Thực Lục 10

phản ánh “Trong cuộc khởi nghĩa, Tây Sơn đã được các Ốc

nha (quan viên) Chân Lạp ủng hộ Năm 1872, khi Nguyễn

Ánh thua Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã cử sứ giả theo đường

Chân Lạp sang Xiêm cầu viện Người Chân Lạp theo Tây

Sơn đã giết chết toàn bộ đoàn sứ giả này” Một số Ốc nha

còn tình nguyện mang lực lượng theo Tây Sơn, cùng chiến

đấu chống lại Chúa Nguyễn Khi quân đội Chân Lạp được

huy động đi đánh Tây Sơn, có đội đã phản chiến

Bước sang giai đoạn đầu thế kỷ XIX, Chân Lạp suy

yếu nghiêm trọng phải dựa hẳn vào các vua Triều Nguyễn

Dưới thời kỳ trị vì của công chúa Ang Mây (1834 - 1847),

triều đình nhà Nguyễn đã can thiệp vào nội tình và thậm

chí còn trực tiếp điều hành (dưới hình thức bảo hộ) công

việc của vương quốc Chân Lạp Trên thực tế, nhà Nguyễn

đã sử dụng Chân Lạp như phên giậu để ngăn cản bớt tham

vọng bành trướng lãnh thổ của chủ nghĩa Đại Thái

10 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục

IV BANG GIAO VIỆT NAM – LÀO

1 Vài nét về đất nước Lào

Lào là một nước láng giềng phía Tây của Việt Nam Mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa hai nước đã sớm hình thành do yếu tố địa lý, cương vực: Hai nước có chung một dải biên giới dài kéo từ Hưng Hóa, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị

Thư tịch cổ Việt Nam chép: Lào là một nước giàu sản vật “nước này có tê, voi, sáp trắng, vải lông, chiêng đồng”,

“Phá Lào dệt bằng các sợi ngũ sắc sặc sỡ, rất tốt, còn thứ vải không có hoa, màu cũng tốt (vải trắng) nay nước Lào bán các thứ phá Lào cũng loại ấy…” 11

Cho đến trước thế kỷ XIII, miền hạ Lào vẫn bị chiếm đóng và thuộc quyền cai quản của các vương triều Chân Lạp trong khi đó ở miền Bắc (Thượng Lào), các thị tộc, bộ lạc Lào bắt đầu bước vào giai đoạn hình thành các tổ chức xã hội sơ khai, các Mường cổ

Đến giữa thế kỷ XIV, xã hội người Lào tương đối phát triển Ở miền Hạ Lào, vương quốc Chân Lạp ngày càng suy yếu và thu hẹp lãnh thổ Thêm vào đó, những điều kiện thuận lợi của tình hình quốc tế và khu vực đã tác động mạnh đến Lào, dẫn đến sự ra đời của nhà nước thống nhất, độc lập của người Lào: Nhà nước Lạn Xang dưới triều Vua Pha Ngừm

2 Mối bang giao Việt – Lào hình thành rất sớm và phát triển liên tục trong lịch sử

a Cơ sở của mối bang giao:

11 Lê Quý Đôn, Văn Đài Loại ngữ, Hà Nội, 1962, tr.155, 156, T.II

Trang 22

- Cả hai nước đều có chung điều kiện địa lý mang tính

khu vực

- Có chung đường biên giới dài, nhân dân hai nước

sớm qua lại giao lưu như một thực thể khách quan

- Có chung một kẻ thù nguy hiểm là phong kiến

phương Bắc xâm lược Cả Lào và Việt Nam đều là cửa ngõ

của Đông Nam Á ở phía Đông, nên hai nước sớm hình

thành khối liên minh đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù

chung Những cơ sở này đã sớm hình thành nên mối quan

hệ gắn bó “như môi với răng” giữa hai nước Trong lịch sử,

mỗi khi một nước có nguy cơ chiến tranh hay gặp những

khó khăn lớn trong nội tình đất nước, đều tìm đến với nước

láng giềng của mình để nương tựa và tìm đồng minh nhằm

cứu nước hoặc phục hồi đất nước

b) Bang giao Việt – Lào

Sự kiện lịch sử ghi nhận mối quan hệ giữa hai nước,

được thu tịch cổ Việt Nam phản ánh sớm nhất là vào năm

550, khi nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế bị nhà Lương đàn

áp Lý Nam Đế phải chạy lên vùng Khuất Lạo, người anh

ruột của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo đã đến vùng Dĩ

Năng của người Lào lập căn cứ chống giặc và được nhân

dân Lào nhiệt tình giúp đỡ

Từ khi Đại Việt độc lập, triều Lý một mặt ổn định

mọi mặt trong nước, phát triển thực lực, mặt khác lo chuẩn

bị lực lượng chống Tống nên đặc biệt quan tâm đến vùng

biên cương phía Tây Việc ổn định biên giới Việt – Lào là

một trong những việc làm được nhà Lý coi trọng để bảo vệ

hậu phương

Dưới triều Lý, các tù trưởng Lào vẫn thường sang

triều cống: Ví như năm 1067, sứ Lào mang vàng, bạc, trầm

hương, sừng tê, ngà voi và một số đặc sản địa phương quý giá sang triều cống

Sang thời Trần: Đứng trước nguy cơ xâm lược của đế quốc Mông – Nguyên, liên minh Lào - Việt đã được củng cố Nhà Trần đặc biệt ý thức được tầm quan trọng của liên minh này

Năm 1335: Triều Trần bàn luận về các hoạt động biên cương ở phía Tây, Thượng hoàng nhà Trần đã nêu ý kiến: Lỡ ra giặc phương Bắc xâm lấn thì ta nhờ cậy vào đâu?12 Trước đó, các vua Trần cũng đều nhận rõ tầm quan trọng trong việc thiết lập khối liên minh với Lào, nên các vua Nhân Tôn, Anh Tôn, Minh Tôn và các tướng Phạm Ngũ Lão, Đoàn Nhữ Hài … đích thân tham gia việc này Việc làm của nhà Trần đã đặt cơ sở đầu tiên cho việc thiết lập hệ thống phòng thủ ở phía Tây Bắc và phía Tây nước ta, nhằm đối phó với phong kiến Trung Quốc

Khi nhà Trần suy yếu, nhà Hồ lên, các quý tộc nhà Trần đã chạy sang đất Lào để lánh nạn và chờ cơ hội phục hồi lại ngai vàng Nhân dân Lào đã che chở và bảo bọc họ Từ thế kỷ XIV, khi vương quốc Lạn Xang độc lập ra đời, trên cơ sở bang giao đã có từ trước giữa nhân dân hai nước, mối bang giao giữa hai nhà nước cũng nhanh chóng được thiết lập Các sứ giả của hai nước thường xuyên qua lại giao hảo Mối giao hảo thân thiện ngày càng trở nên gắn bó hơn khi cuộc xâm lượïc của nhà Minh xuống vùng này đang gần kề Hai nước đã cùng nhau sát cánh đương đầu với cuộc xâm lược đó

12 Theo Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần

Trang 23

Đầu thế kỷ thứ XV, khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

bùng nổ, Lê Lợi đã cử các tướng thông thạo tiếng Lào sang

liên hệ với vua Lào để mua voi, lương thực, vũ khí của Lào

Vua Lào cùng nghĩa quân kết nghĩa giao hòa và giúp đỡ

nghĩa quân rất nhiều Trên thực tế quân dân Lào – Việt đã

cùng chiến đấu dũng cảm chống lại quân Minh Tuy ở

những năm 20 của thế kỷ này, quan hệ giữa hai bên có xấu

đi do sự xúi bẩy của nhà Minh và do phong kiến Thái dèm

pha, nhưng khi Lê Lợi lên ngôi, bang giao giữa hai nước lại

trở nên tốt đẹp Dưới thời Thao Thèng Khâm (1479-1489)

và Phaya Vi Xun (1507 – 1530), Lạn Xang phát triển và ổn

định, quan hệ với Việt Nam vì thế cũng rất bền vững

Đầu thế kỷ XVI, ở Việt Nam, Mạc Đăng Dung lật đổ

nhà Lê, lập ra triều Mạc Các quần thần của nhà Lê đã

chạy sang Lào và được vua Lào che chở, giúp đỡ Chính vua

Lê Duy Ninh cũng sang lánh nạn ở Lào, rồi lên ngôi vua ở

đây (Sầm Châu – Sâm Nưa) “Kỷ Sửu (1520) Mạc Minh Đức

năm thứ ba, Minh Gia Tĩnh năm thứ tám, khi ấy bọn

Thanh Hóa hữu vệ điện tiền tướng quân An Thành Hầu

Nguyễn Kim chạy sang Ai Lao, quốc vương ấy là Sạ Đẩu

cho là người nước có liên quan che chở lẫn nhau như môi

với răng, mới cấp cho đất và dân Sầm Châu để ở Từ đó

nuôi dưỡng quân lính, lập mưu khôi phục”13

Việc thắt chặt quan hệ hòa hiếu thông qua quan hệ hôn

nhân được xem là một biện pháp vô cùng quan trọng và cần

thiết giữa hai nước Năm 1564, vua Lạn Xang đã cử người

sang mang tặng phẩm và bốn con voi, lại xin cầu hôn công

chúa Ngọc Hoa Vua Lê bèn: “sai thái sư đem con gái nuôi gả

13 Toàn thư , tr 123, TTV, QIX, kỷ nhà Lê

cho để kết hòa hiếu với nước láng giềng” Mối nhân duyên này càng làm cho quan hệ giữa hai nước thêm bền đẹp Một đặc điểm lớn của vương quốc Lạn Xang là: nhà nước quân chủ được xây dựng trên cơ sở sức mạnh quân sự và yêu cầu chống ngoại xâm hơn là trên cơ sở một nền tảng thống nhất về kinh tế – xã hội Tính chất phân tán, biệt lập của nền kinh tế – xã hội và địa lý khiến giao lưu, trao đổi, giao thông khó khăn, thường hình thành các thế lực cát cứ địa phương Do vậy, từ cuối thế kỷ XVIII, Lào bị chia làm ba tiểu quốc: Viêng Chăn, Luông Pha Băng và Chăm

Pa Xắc Để duy trì quyền lợi của mình, các tiểu vương đã cấu kết với các thế lực bên ngoài: Việt Nam, Thái Lan và Campuchia Chính quyền Viêng Chăn đã nhận được sự giúp đỡ của các Chúa Nguyễn và Triều Nguyễn sau này

Khi phong trào Tây Sơn nổ ra và giành thắng lợi, vua Quang Trung là người nhìn xa trông rộng đã thấy rõ tầm quan trọng của mối đoàn kết Việt – Lào, nên đã cho sứ giả đến Trấn Ninh, Trịnh Cao, Quy Hợp và Viêng Chăn (là nơi tập đoàn Lê Duy Chỉ cấu kết với Lào nhằm phá hoại phong trào Tây Sơn) Vua Viêng Chăn (Châu Mẫn Thạ Xỗm) bị Xiêm bức bách đã bắt sứ giả giao cho Xiêm, còn trống, cờ, ấn tín thì đem nộp cho Nguyễn Ánh Được tin này Quang Trung đã cử vợ chồng Đốc Trấn Nghệ An Trần Quang Diệu mang 3 vạn quân đi dẹp phía Tây Đây là việc làm nhằm tự vệ, nhưng đã góp phần chặn đứng được sự bành trướng của Xiêm sang Lào Vì vậy cuộc hành quân này đã được nhân dân Lào ủng hộ và giúp đỡ

Sau khi Quang Trung mất, Lào bị áp lực của Xiêm – Nguyễn đã liên minh với họ để phản công Tây Sơn Đây chỉ

Trang 24

là sự liên minh giữa các lực lượng phản động nhằm chống

lại lực lượng tiến bộ

Đầu thế kỷ XIX, Lào vẫn tiếp tục bị chia cắt và nằm

dưới sự thống trị của Xiêm Các Mường Lào thường có xu

hướng dựa vào Việt Nam để chống lại Xiêm nên thường

xuyên cử sứ giả đến Việt Nam Ví như năm 1802 Nam

Chưởng, Vạn Tượng và các mường phía Nam đều đến chúc

thọ Gia Long khi ông này lên ngôi

Năm 1805, vua Viêng Chăn là Châu A Nỗ vừa lên

ngôi đã sang đặt quan hệ ngoại giao với nhà Nguyễn Từ

năm 1805 đến 1824, để chuẩn bị lực lượng chống Xiêm,

Châu A Nỗ đã 8 lần cử sứ sang triều Nguyễn

Năm 1827, A Nỗ thất bại trước lực lượng của Xiêm,

các lực lượng Lào thân Nguyễn phải chạy đến Tam Động

(Nghệ An) và xin cứu viện Triều Nguyễn do dự trong việc

giúp A Nỗ nên đã bỏ lỡ một cơ hội liên minh với Lào để

đẩy lùi phong kiến Xiêm

Năm sau, được nhà Nguyễn giúp sức, A Nỗ về được

Viêng Chăn và đánh thắng quân Xiêm một trận lớn, nhưng

sau đó quân Xiêm và giới quý tộc miền Bắc Lào đã liên kết

phản công, cuộc khởi nghĩa của A Nỗ thất bại

3 Trên lĩnh vực kinh tế- văn hóa

Nhân dân Việt – Lào vốn có quan hệ khá khắng khít,

đặc biệt là ở các vùng biên giới Tại đây, các chợ biên giới

rất sầm uất: Tây Bắc (Hưng Hóa), thượng du Thanh Hóa,

Nghệ An, Quảng Trị… đặc biệt là ở phía tây Nghệ An: là

nơi người Lào thường mang trâu bò sang bán cho người

Việt, rồi đổi lấy đồ sắt mang về

Lê Quý Đôn đã từng mô tả phiên chợ biên giới sầm uất ở vùng Cam Lộ (Quảng Trị): Đây là nơi có đường đi thuận lợi sang các Mường Lào xuống miền xuôi của Việt, cho nên cứ đến phiên chợ, người Lào từ bên kia biên giới lùa trâu bò, chở lâm sản bằng voi sang đổi lấy mắm muối, cá khô, đồ sắt, nồi đồng của người Việt từ miền xuôi mang lên Đó là nơi thuận tiện cho việc trao đổi hàng hóa giữa miền xuôi và miền ngược, giữa người Việt và người Lào.14

Về văn hóa cũng có sự giao lưu khá đậm nét ở các vùng biên giới kể trên Lào là nơi có kho tàng truyện cổ tích dân gian phong phú, những câu truyện này cũng có thể tìm thấy những dị bản khác nhau ở vài nơi trên đất Việt hoặc ngược lại ở các thời kỳ quan hệ giữa hai nước tốt đẹp, vẫn thường xảy ra việc trao đổi văn hóa với nhau Một số quý tộc Lào vẫn được đưa sang Việt Nam để du học

V BANG GIAO VIỆT NAM - THÁI LAN

1 Thái Lan là một nước có lịch sử rất trẻ ở vùng

Đông Nam Á, thế nhưng trên lãnh thổ người Thái lại có dấu vết rất cổ xưa của con người

Cư dân trên khu vực Sê-Mun (Khò rạt), có lẽ chủ yếu là người Khmer Còn ở đồng bằng Mê-Nam là địa bàn cư trú của người Môn

Ở thời kỳ phát triển của Phù Nam, vùng hạ lưu sông Mê-Nam và một số điểm quần cư khác của người Môn đã bị lệ thuộc vào Phù Nam Thư tịch cổ Trung Quốc còn nhắc đến một trong số những nước phụ thuộc ấy có tên gọi là Xích Thổ (Đất Đỏ) Kết quả khảo cổ học cho biết cư dân

14 Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học Xã hội, q 4, tr 223

Trang 25

vùng hạ lưu sông Mê-Nam đã đạt đến một trình độ khá cao

trong khu vực về nghề chế tạo gốm, đồ đồng thau … Họ có

trao đổi khá thường xuyên với cư dân vùng đồng bằng sông

Cửu Long qua đường biển và đã tiếp xúc với người Ấn Độ

cũng như chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ

Ở các thế kỷ VII và VIII, tài liệu Trung Quốc có nói

đến một quốc gia có tên là Tô-lô-pô-ti (Dvaravati) có lẽ tiền

thân của nó là Xích Thổ Một bộ phận Hoàng tộc của nước

này đã tham gia xây dựng nên nước Haripunjaya hùng

mạnh ở miền Bắc, tồn tại cho đến thế kỷ XII

Từ thế kỷ X đến thể kỷ XIII, đồng bằng Mê-Nam lệ

thuộc Campuchia Đây cũng là quá trình người Khmer tiến

hành đồng hóa người Môn một cách sâu sắc Một số còn lại

thì sau này khi người Thái đến đã dồn đẩy họ đi và hoàn

thành nốt tiến trình đồng hóa Người Thái là một bộ phận

thuộc nhóm tộc người nói tiếng Thái kađai, cư trú ở thượng

nguồn sông Mê-Kông và sông Hồng, giáp ranh giữa Trung

Quốc và Đông Nam Á Họ chính là chủ nhân của quốc gia

Nam Chiếu (Quy Nghĩa hay Đại Lý – Theo tài liệu Trung

Quốc) Ở thế kỷ IX-XII họ đã di cư về phương Nam sống xen

kẽ với cư dân bản địa và được gọi là người Xiêm (Đen) Họ

thực sự có mặt đông đúc ở Đông Nam Á vào thế kỷ XIII, khi

Mông Cổ tiêu diệt Nam Chiếu, và đặc biệt sống tập trung ở

lưu vực sông Mê Nam (Thái Lan ngày nay)

Vốn tính năng động, lối ứng xử mềm mỏng và uyển

chuyển, người Thái đã nhanh chóng kết hợp với cư dân bản

địa và dần dần trở thành tộc người giữ vị trí chủ đạo ở giai

đoạn thế kỷ XIII – XIV Một trong những thành thị lớn của

họ lúc này là Sukhothay đã giành lấy chính quyền và chinh

phục các bộ lạc lân cận Dưới thời Râma dũng sĩ (Râma

Khamheng), Sukhothay đã có quan hệ với nhiều nước trong khu vực: Campuchia, Miến Điện, Lào, Đại Việt và Trung Quốc

2 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan được sử sách ghi

chép sớm nhất vào thế kỷ XII và các thế kỷ sau đó Có lẽ là vào thời kỳ phát triển của Sukhothay và sau đó là Auythaya Quan hệ lúc này chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực thương mại: thuyền buôn của người Xiêm thường đến Vân Đồn buôn bán Bên cạnh thuyền buôn của khách Xiêm còn có cả thuyền buôn của nước Xiêm do triều đình cử đi.15

Cuối thế kỷ XIV, quan hệ Việt - Xiêm càng thêm thân hữu, chính sách của Sukhothay lúc này là tăng cường quan hệ với Đại Việt và Trung Quốc Ý đồ của Xiêm muốn liên kết với các quốc gia hùng mạnh và bí quyết ngoại giao của Xiêm trong giai đoạn này là dựa vào mối quan hệ thân thiện nhiều mặt với Trung Quốc, để tạo thực lực và uy tín, từ đó đưa Sukhothay thành một quốc gia thịnh vượng và lớn mạnh, đồng thời cũng thông qua đó để mở rộng lãnh thổ ra bên ngoài

Với Đại Việt, năm 1335, một phái bộ Xiêm đã đến tận Cửa Rào (Nghệ An) để đón vua Trần Hiến Tông nhân dịp nhà vua đi thị sát biên giới phía Tây

Từ thế kỷ XVI trở đi, mối quan hệ giữa Đại Việt – Xiêm ngày càng tiến triển phong phú và không kém phức tạp Tình hình này đã được ghi chép trong Đại Nam Thực Lục của quốc sử quán triều Nguyễn Đây cũng là thời kỳ họ

15 Sách Toàn thư cũng đã cho biết: Vào cuối thế kỷ XII, vua Xiêm đã sai sứ giả sang giao hiếu

Trang 26

Nguyễn có quan hệ trực tiếp với chính quyền Xiêm Chúng

ta có thể thấy rõ mối liên hệ này trên các lĩnh vực sau đây:

Về chính trị – quân sự: Trong các thế kỷ XVI –

XIX), quan hệ giữa hai nước trên lĩnh vực này diễn ra xoay

quanh việc khẳng định ảnh hưởng đối với Campuchia và

Lào Do việc Campuchia ngày càng suy yếu, vẫn thường tìm

đến nương tựa vào phong kiến Đại Việt và phong kiến

Xiêm Vì vậy nhiều cuộc dàn xếp chính trị , thậm chí đụng

độ quân sự đã diễn ra:

Năm 1750: Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cử

phái bộ ngoại giao mang thư sang triều đình Thái Lan, nội

dung trách cứ họ can thiệp vào nội bộ Chân Lạp

Năm 1755: Triều đình Xiêm cử phái bộ sang Đại

Việt điều đình về vấn đề buôn bán của thương nhân Thái

và xin giảm thuế

Năm 1771: Vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh (Phìa Tắc

Xỉn) tấn công trấn Hà Tiên của chúa Nguyễn, bắt nhóm

người Mạc Thiên Tứ và chiếm đóng Hà Tiên cho đến năm

1773

Năm 1780: Triều đình Xiêm đã giết phái bộ ngoại

giao cao cấp Nguyễn Ánh và nhóm người Mạc Thiên Tứ và

trục xuất người Việt sinh sống ở Băngcốc ra các vùng hẻo

lánh Thái độ và chính sách định cư đặc biệt với người Việt

sinh sống ở Thái Lan của phong kiến Xiêm được bắt đầu từ

đây

Năm 1781: Vua Xiêm cử hai anh em Chakri – Sôsi

tấn công Chân Lạp Vua Nặc Ấn cầu cứu Nguyễn Ánh, năm

1782 Nguyễn Ánh cử hai tướng Nguyễn Hữu Thụy và Hồ

Văn Lâm tiếp ứng Nhưng quân Nguyễn vừa đến La Bích

(Lovek) thì Chakri – Sôsi xin giảng hoà và kể từ đây quan hệ giữa hai nước bước sang giai đoạn mới

Kể từ năm 1784 đến giữa thế kỷ XIX: quan hệ giữa hai nước bớt căng thẳng và cả hai bên đều cố giữ thăng bằng trong quan hệ ở cấp độ ngoại giao:

Năm 1784: Nguyễn Ánh cầu cứu Xiêm chống lại

phong trào Tây Sơn Rama I đã giúp đỡ Nguyễn Ánh đem 5 vạn quân Xiêm kéo sang xâm lược nước ta và bị Tây Sơn đánh cho đại bại trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1785)

Năm 1802: Triều Nguyễn thiết lập Mối quan hệ giữa

nhà Nguyễn và Xiêm có phần khác trước: Xiêm với ý đồ bành trướng đã đem quân xâm lược Lào và Campuchia Nhà Nguyễn do không thể với tay sang phía Tây được nên cố giữ hòa hiếu với Xiêm, quan hệ ngoại giao cấp nhà nước được duy trì Năm 1807, nghi thức ngoại giao giữa hai nước được quy định Từ đó sứ giả hai bên thường qua lại trao đổi “quà tặng” và thăm hỏi khi có lễ tang, chúc tụng khi có tin mừng, hoặc lên ngôi… Tuy vậy, những khi mâu thuẫn lên cao, nhất là đối với vấn đề quyền lợi ở Chân Lạp, thì quan hệ ngoại giao ngay lập tức được thay thế bằng cách dụng binh

Chẳng hạn: Năm 1834, phong kiến Xiêm quấy rối Hà Tiên, Châu Đốc; năm 1839, sau khi xâm lược Lào và Campuchia, Xiêm đem quân xâm lấn Hà Tiên và một số vùng biên giới khác của Việt Nam Cuộc xâm phạm kéo dài mãi cho đến khi Thiệu Trị lên ngôi (1841) quân Xiêm mới gửi thư xin lui binh

Ở thời vua Thiệu Trị (1841 – 1847) quan hệ hai nước trở lại bình thường, do cả hai bên cùng muốn lập lại quan hệ như xưa và nhất là cùng bị áp lực của tư bản phương

Trang 27

Tây Tuy nhiên, thân thiện mới chỉ là xu hướng, trên thực

tế sứ giả hai bên còn chưa qua lại với nhau

Trên lĩnh vực kinh tế:

Quan hệ thương mại đã được thiết lập lâu đời giữa hai

nước Trước thế kỷ X, các quốc gia sơ kỳ của người Môn vẫn

lui tới vùng đồng bằng sông Cửu Long để buôn bán trao đổi

Khi các quốc gia Sukhôthay và Adutthaya thiết lập và

phát triển, người Thái có định hướng về phát triển thương

mại Bản thân thủ đô Adutthaya cũng là một trung tâm

kinh tế thương mại lớn của khu vực, do có vị trí điạ lý hết

sức thuận lợi (nằm trên vùng đồng bằng rộng lớn, phì

nhiêu, ở nơi hợp lưu của ba con sông: Chaophaya, Loburi và

Pasak, cách biển chừng 110 km) Các khách buôn trong khu

vực vẫn thường lui tới buôn bán tấp nập

Ở thời Lý - Trần, quan hệ buôn bán càng được mở

rộâng, khách Xiêm thường tới Vân Đồn để buôn bán Họ

thường mang các sản phẩm nông nghiệp, hồ tiêu, gỗ tếch,

đàn hương … sang buôn bán và mua về các sản phẩm được

làm ở Trung Quốc: lụa, gấm, ngọc, đồ sứ…

Khi họ Nguyễn chiếm Đàng trong, thương nhân Xiêm

thường đến đây để buôn bán lúa gạo, cau… Sử sách cho biết

nhà Nguyễn đánh thuế thương nhân Xiêm khá nặng

“Thuyền nhân Xiêm La lệ thuế đến là 2000 quan và

thuế về là 200 quan”16

Những năm thuộc thế kỷ XVIII, khi đất Đàng Trong

được mở mang hơn, thuyền buôn của Xiêm thường chở sắt,

diêm tiêu sang bán rồi mua tơ, luạ, gạo thóc, vải vóc mang

16 Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, quyển 4, tr.253

về Nhà Nguyễn qui định nếu thuyền buôn Xiêm có bán sắt, diêm tiêu thì mới được mua thổ sản về: “Năm 1797, chuẩn định thuyền buôn Xiêm La từ sau có sang buôn ở nước ta, hạng thuyền lớn phải chở 30.000 cân sắt, hạng trung bình 20.000 cân, hạng nhỏ 10.000 cân trở lên, còn diêm tiêu thì không kỳ nhiều hay ít, đến nộp vào quan, theo giá trả tiền, rồi mới cho đổi mua các sản vật, thổ nghiệp như: tơ, vải, nếu không thì cấm không cho chở”17

Nhiều khi, thương nhân Xiêm cũng dùng Việt Nam như trạm trung chuyển để đến các nước khác, đặc biệt là đến Trung Quốc và các nước ở biển Đông

Khi Xiêm - Nguyễn bắt tay với nhau để chống lại phong trào Tâây Sơn, quan hệ kinh tế giữa họ ngày càng gắn bó Nhiều năm Thái Lan mất mùa nhà Nguyễn đã bán gạo cho họ, đôi khi còn giúp đỡ họ mà không lấy tiền:

”Nõăm 1793, dân Xiêm La đói, xin mua gạo ở Kiên Giang, quản đạo Nguyễn Tiến Lương đem việc tâu lên, vua nói:

“Nước ta với Xiêm vốn có tình láng giềng tốt với nhau, dân Xiêm cũng như dân ta, sao nỡ thấy người đói mà không thương” bèn ra lệnh bán gạo”18

Năm 1827, dân Thái bị đói lớn, chạy sang đất Campuchia, nhà Nguyễn đã đem gạo muối giúp đỡ

VI – BANG GIAO VIỆT NAM – MIANMA (MIẾN ĐIỆN)

17 Đại Nam thực lục, sđd, tr.186

18 Đại Nam thực lục, sđd, tr.186

Trang 28

1 Mianma nằm ở phía Tây bán đảo Trung Ấn, ba mặt

Tây, Đông và Bắc đều bị núi cao hiểm trở bao bọc Cư dân

Mianma rất phức tạp, gồm nhiều thành phần dân tộc khác

nhau (trên 100 dân tộc) những tộc người lâu đời nhất là

Môn, Pyu và người Miến từ phiá Bắc xuống định cư

Hiện nay người ta còn biết rất ít về thời tiền sử của

Mianma, cũng như những hiểu biết về các quốc gia sơ kỳ ở

đây cũng rất mờ nhạt và được cho là ra đời khá muộn

Người ta đoán định rằng văn hóa Ấn Độ đến đây khá muộn

so với các vùng khác trong khu vực, những bằng chứng có

được cũng không sớm hơn thế kỷ VI

Từ thế kỷ VII đến thế kỷ X, các quốc gia sơ kỳ của

người Môn, người Pyu và người Miến đã được thành lập ở

miền Nam, Trung, Bắc Mianma

Nhưng một quốc gia thống nhất thực sự chỉ có từ thế

kỷ thứ X Theo biên niên sử Mianma, Anoratha là ông vua

đầu tiên đã sáng lập ra vương quốc Pagan thống nhất

Cho mãi đến thế kỷ XVIII, người Việt vẫn còn hiểu

biết rất ít về Mianma Tên Miến Điện chỉ xuất hiện lần

đầu tiên trong bộ biên niên sử của Quốc sử quán triều

Nguyễn “Đại Nam Thực Lục” và sau đó, trong Đại Nam

chính biên liệt truyện, phần các nước ngoài có ghi:

“Miến Điện xưa là nước Chu-Ba, từ thời Tống,

Nguyên, Minh, Thanh mới gọi là Miến Lại còn có tên

Phạ-ma, một tên nữa là Đại Man” Những ghi chép này đều có

được do ghi chép lại từ tài liệu Trung Quốc

2 Quan hệ Việt Nam – Mianma có lẽ đã thiết lập từ

rất sớm, nhưng đáng tiếc là không được phản ánh vào sách

vở Đến thời Nguyễn, việc ghi chép về đất nước này mới

được chú ý Theo đó ta được biết mối quan hệ giữa hai nước xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử là vào thời Tây Sơn Theo những ghi chép của Đại Nam chính biên liệt truyện, phần Mianma thì: “Khi nhà Tây Sơn thắng lợi, Nguyễn Huệ lên ngôi, Miến Điện đã qua đường Châu Hưng Hóa vào thông hiếu”

Bẵng đi một thời gian, mãi đến triều Minh Mạng (1823), quốc vương Mianma mới lại sai sứ giả sang đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Phái bộ này theo đường biển tới Gia Định, được Lê Văn Duyệt tiếp đãi chu đáo: hàng tháng đều được cấp tiền tiêu và gạo trắng để ăn Trong lần giao hiếu này, vua Mianma cũng gửi cho vua Minh Mạng một bức thư, nội dung cho biết: Họ muốn lập quan hệ với nhà Nguyễn từ thời Gia Long, đã hai lần sứ giả được cử đi, nhưng vì đường xá quá trắc trở nên không đến được, phải quay về Mục đích lần giao hiếu này Miến Điện muốn Việt Nam tuyệt giao với Thái Lan Song quan hệ Việt – Thái đang ở thế cân bằng, Triều Nguyễn không thể đáp ứng yêu cầu của Mianma Vì vậy chỉ hậu đãi sứ đoàn, gửi thư phúc đáp cho Quốc Vương Miến kèm theo tặng phẩm 23 cân quế,

100 tấm nhiễu vóc, lụa trắng và lụa mộc, 1000 cân đường Sáu năm sau, vào năm 1829, Mianma lại phái sứ giả sang Việt Nam thông hiếu Lần này, đích thân vua Minh Mạng đã sai người tiếp đón sứ bộ, lại cho người đi họa đồ đường sá đến Mianma

Năm Tân Mão (1831), người Mianma lại sai sứ sang Việt Nam xin thần thuộc và triều cống Vua Minh Mạng sai người tiếp đón nồng hậu và cấp tiền cho sứ giả sinh hoạt Khi sứ đoàn trở về lại phái một viên quản cơ đem quân hộ tống sứ thần trở về nước

Trang 29

Đến năm Thiệu Trị thứ tư (1844), một phái bộ ngoại

giao gồm 28 người của Mianma một lần nữa lại đến Việt

Nam Phái bộ này cố gắng thuyết phục triều Nguyễn giúp

đỡ họ về quân sự và xin được thiết lập quan hệ thần thuộc

lâu dài Triều Nguyễn do không thể đáp ứng nhu cầu của

họ, nên lưu sứ giả lại Sơn Tây hậu đãi và hộ tống họ về

nước Kể từ đây, không thấy sứ giả Mianma sang ta nữa

Vả lại, vào thời điểm này, cả Việt Nam và Mianma đều bị

cuốn vào cơn lốc của cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược

của phương Tây, nên các mối bang giao đều tạm thời bị

gián đoạn

Tóm lại: Mối quan hệ giữa Việt Nam và Mianma mới

xuất hiện từ khoảng cuối thế kỷ XVIII, so với các nước khác

là khá muộn Nguyên nhân chủ yếu của sự muộn màng này

là do điều kiện địa lý xa xôi, cách trở, sự hiểu biết về nhau

còn nhiều hạn chế Mặc dù quan hệ giữa hai nước không

tiến triển lâu dài, nhưng nhìn chung đây là một mối quan

hệ thân thiện và hòa hiếu

VII BANG GIAO VIỆT NAM VỚI KHU VỰC CÁC NƯỚC

HẢI ĐẢO ĐÔNG NAM Á (INDONESIA, MALAYSIA,

PHILIPPIN)

1 Vài nét về các nước hải đảo

Quần đảo Indonesia đã được người nước ngoài biết

đến khá sớm Sử thi Ấn Độ (Ramayana) viết về hòn đảo

Java: “Hãy nghiên cứu kỹ về Javadvipura, một hòn đảo

gồm bảy vương quốc, hòn đảo vàng và bạc, đầy những chế

phẩm bằng vàng” Người Trung Quốc thì chép rất tỷ mỷ về

một quốc gia có tên là Palembang, nơi thịnh hành đạo

Phật, và nhiều quốc gia khác như: Java, Tarupura, Cantoni…

Chủ nhân của Indonesia là người Indonediên cổ (da đen, môi dày, tóc xoăn và cứng) Sau đó người Malayo – Polynediens ở Đông Nam Á đã di cư đến với quy mô lớn và giữ vai trò chủ yếu trong việc xây dựng nên các quốc gia dân tộc ở đây

Về Malaysia, Lương Thư của Trung Quốc có viết đến một nước có tên gọi là Đốn Tốn: “Đốn Tốn ở trên một bờ biển cao lởm chởm, đất rộng không quá 1000 hải lý, thủ đô cách biển 10 hải lý, có 5 tiểu vương đều thần thuộc Phù Nam Đốn Tốn ở phía Nam Phù Nam, Tây giáp Ấn Độ… Đất Đốn Tốn hình vòng cung chạy ra biển hơn 1000 hải lý”…

“Rất đông nhà buôn đến nước này để trao đổi hàng hoá, đó là một thị trường, nơi gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây Hàng ngày có tới hàng vạn người đến họp Những đồ vật lạ, hàng hóa quý, không thiếu thứ gì”… “Trong nước Đốn Tốn có hơn nghìn người Bàlamôn Ấn Độ, người Đốn Tốn tin theo tôn giáo của họ và gả con gái cho họ, nên có nhiều người Bàlamôn ở lại, không đi nơi khác Họ đọc sách Kinh Thiên Thần, dâng hương trong lư bạc, ngày đêm không ngớt”… 19

Chính qua những ghi chép của người nước ngoài mà người Việt đã biết đến các quốc gia láng giềng ở phía Nam của mình Ngoài ra cũng cần phải nhắc đến vai trò của các quốc gia cổ Phù Nam, Chămpa, những quốc gia đã từng có mối quan hệ gắn bó nhiều mặt với các nước hải đảo (như đã đề cập ở phần trên)

Tuy nhiên, do những hiểu biết không đầy đủ, và có phần sai lệch, nên khi viết về vùng đất này, thư tịch cổ của

19 Dẫn lại từ Lịch sử các nước Đông Nam Á, tập 1, sđd, tr 204-205

Trang 30

ta đều gọi họ với tên gọi chung là người Java hay người

Nam Dương

2 Bang giao

Quan hệ giữa Việt Nam với các nước hải đảo có lẽ đã

được thiết lập khá sớm và chủ yếu là trên lĩnh vực thương

mại Trong mối quan hệ này phải kể đến vai trò rất quan

trọng của vương quốc Phù Nam và đặc biệt là nhà nước Chí

Tôn (Naravara) Người Ấn Độ có lẽ là người đặt cầu nối ban

đầu cho quan hệ này Đặc biệt việc buôn bán giữa Malaysia

với Chí Tôn và với Phù Nam rất phát đạt Người ta đã phát

hiện được những hiện vật bằng thiếc với khối lượng lớn và

nhiều kiểu dáng khác nhau và cho rằng thiếc này có nguồn

gốc từ Malaysia Một số nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra mối

liên hệ mật thiết giữa Chămpa với vùng đảo Philippin

Thông qua việc nghiên cứu mối tương đồng giữa các đồ gia

dụng làm từ chất liệu gốm ở Sa Huỳnh, Trà Kiệu (Việt

Nam) với gốm Kalanay (Philippin), họ cho rằng trước thế

kỷ X và tiếp diễn cho đến thế kỷ XIII, Chămpa gần như

đóng vai trò độc quyền trong quan hệ thương mại với

Philippin, và đã cung cấp cho Philippin những hàng hóa từ

đất liền để đổi lấy vàng từ nơi này phục vụ cho việc phát

triển của các vương triều Chămpa

Từ thế kỷ thứ X, việc buôn bán được mở rộng hơn khi

ở phía Bắc Việt Nam chính quyền phong kiến được xác lập

và củng cố Thương cảng Vân Đồn trở thành điểm thu hút

khách thương do vị trí thuận lợi (nằm trên bờ biển Đông,

lại tiếp giáp với Trung Quốc qua biển Nam Hải) Các quốc

gia hải đảo lúc này cũng bước vào thời kỳ phát triển, vì vậy

họ mong muốn thiết lập các mối quan hệ rộng rãi với các

nước trong khu vực “Kỷ tỵ năm thứ 10 (1149) Tống Thiện

Hưng năm thứ 19, mùa Xuân tháng hai Thuyền buôn ba nước Trảo Oa (Java), Lộ Lạc và Xiêm La vào Hải Đông, xin

ở lại buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hóa quý, dâng tiến sản vật địa phương”20

Năm 1348 (tháng 5) Java chính thức sai sứ sang nước

ta thông hiếu: “Mậu Tý, năm thứ 8 (1348) Nguyên Chính Chính năm thứ 8, mùa Hạ tháng 5, nước Đại Oa (Java) sang cống sản vật địa phương và chim vẹt đỏ biết nói” 21

Năm 1360, Java lại sai sứ bộ sang triều cống: Canh Tý, năm thứ 3 (1360) Nguyên Chính Chính năm thứ 20, mùa Đông tháng 10, thuyền buôn các nước Lộ Lạc, Trảo Oa, Xiêm La đến Vân Đồn buôn bán và tiến các vật lạ”.22

Java vào thế kỷ XV (thời kỳ Mojopahit) có quan hệ thương mại rộng rãi với các nước Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ… Mã Hoan, một sứ giả của Trung Quốc trong phái đoàn của Trịnh Hòa đến Java vào đầu thế kỷ XV, đã miêu tả… “Nhà của họ có lầu cao 3 – 4 trượng, có lát ván… nhà nào cũng có một cái kho xây bằng gạch cao 3 – 4 thước để giấu của riêng

Cũng như ở Java, vương quốc Malacca ở Malaysia vào thế kỷ XV cũng là một vương quốc thịnh vượng và hoạt động của nó chủ yếu trên lĩnh vực thương mại Malacca có lẽ là nơi duy nhất trên thế giới (vào thời kỳ này – thế kỷ XV) mà người ta có thể mua rất dễ dàng hàng hóa của Trung Quốc (đồ sứ, tơ lụa, gương tàu), Ấn Độ (ngọc, vải

20 Toàn thư, kỷ nhà Lý, sđd, tr 281

21 Toàn thư, kỷ nhà Trần, sđd, tr 152

22 Toàn thư, kỷ nhà Trần, sđd, tr 152

Trang 31

bông), Java và Sumatra (thóc lúa, hành tỏi, vàng, hồ tiêu,

trâu bò, vũ khí), Tây Á và Châu Âu (hàng len) và các sản

phẩm địa phương của Đông Nam Á Ở đây có mặt các nhà

buôn của hầu hết các nước có mậu dịch trên biển: Ấn Độ, Ả

Rập, Ba Tư, Trung Quốc, Java, Sumatra, Miến Điện, Việt

Nam, Thái Lan … Nhiều nước lập quan hệ ngoại giao và các

thương điếm để giao dịch tại đây

Sang thế kỷ XVI, quan hệ giữa Việt Nam với các nước

hải đảo thưa dần Thỉnh thoảng, sứ giả Java cũng sang

triều cống Nguyên nhân của sự sa sút này là do sự can

thiệp của tư bản phương Tây vào Đông Nam Á, mà trước

hết là vào Malaysia và Indonesia

Từ thế kỷ XVII, khi thực dân Anh, Hà Lan, Tây Ban

Nha và Bồ Đào Nha lần lượt chiếm đóng các vùng hải đảo,

chế độ bảo hộ của tư bản phương Tây được dựng lên tại các

nước này Mối quan hệ giữa các nước Đông Nam Á xuất

hiện thêm các nhân tố mới Người Hà Lan sau khi củng cố

quyền lực ở Indonesia đã lập quan hệ với Chúa Trịnh (Đàng

ngoài – Việt Nam) Mối quan hệ này có lúc đã khá chặt chẽ

vì cả hai phía đều có những mưu đồ riêng Qua sự bắt tay

này, Chúa Trịnh đã cho phép người Hà Lan được lập

thương điếm ở Phố Hiến để buôn bán Trong số các mặt

hàng buôn bán, có rất nhiều hàng hóa có nguồn gốc từ

Indonesia

Ở Đàng trong, các Chúa Nguyễn lại thông qua người

Bồ để buôn bán với Malaysia các mặt hàng chính là vũ khí,

đạn dược

Khi triều Nguyễn tái xác lập vào thế kỷ XIX, quan hệ

buôn bán được đẩy mạnh hơn trước, các quan hệ khác nhờ

đó cũng được cải thiện – ví dụ như:

- Năm 1818, Triều đình Huế cho phép người Indonesia, người Hoa và người Khmer được phép khẩn hoang, lập ấp ở Châu Đốc, An Giang

- Từ năm 1834, Minh Mạng liên tục cử các thuyền lớn

đi đặt quan hệ buôn bán với các nước hải đảo, thậm chí với cả Cancutta (Ấn Độ) Tàu buôn Việt Nam thường mang đi gạo, tơ, hàng da, yến sào, vây cá, ngà voi, gỗ… Và mua về các hàng xa xỉ: ống nhòm, đồng hồ, rượu, tranh treo tường v.v… Tuy nhiên, mối quan hệ này không phải lúc nào cũng thân thiện Biên niên sử của nhà Nguyễn cũng chép khá nhiều các vụ xung đột giữa Đại Việt với Java, mà nguyên nhân hầu hết đều xuất phát từ phía Java và thường gọi họ là cướp biển Chà Và Các cuộc tấn công của quân Chà Và thường diễn ra ở các vùng ven biển theo định kỳ gió nồm hàng năm:

- Đinh Mùi 767 (Đường Đại Tôn Dư, đại lịch năm thứ 2), nước Côn Lôn, Chà Và đến cướp, đánh lấy Châu Thành Kinh lược sứ Trương Bá Nghi cầu cứu với đô úy Châu Vũ Định là Cao Chính Bình Quân cứu viện đến, đánh tan quân Côn Lôn và quân Chà Và ở Chu Diên Bá Nghi đắp lại La Thành”.23

- Canh Dần năm thứ 5 (1770): “Bọn lính trốn ở Hà Tiên là Phan Lam họp Đảng ở Hương Úc, Cần Bột cùng với người Chà Và là Vang Ly Ma Lư và người Chân Lạp là Ốc Nha Kế, hợp quân hơn 800 người và 15 chiếc thuyền chia đường thủy bộ đánh úp Hà Tiên…”24

23 Toàn thư, ngoại kỷ, T1, tr 150

24 Đại Nam Thực Lục, Sđd, T1, tr 238

Trang 32

- Nhâm Tý năm thứ 13 (1792) “Giặc Chà Và lên đến

bãi biển Hà Tiên, sai bảo hộ Nguyễn Văn Nhàn đem quân

đánh dẹp…”25

- Đinh Sửu, Gia Long thứ 16 (1817), “giặc biển Chà Và

thường nương tựa các cù lao thuộc Hà Tiên để đón cướp

thuyền buôn…”26

v.v…

VIII MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ MỐI BANG GIAO VIỆT NAM –

ĐÔNG NAM Á THỜI CỔ – TRUNG ĐẠI

1 Khái quát tiến trình thiết lập bang giao

Việt Nam là một nước ở Đông Nam Á Mối quan hệ

giữa Việt Nam với các dân tộc và các quốc gia trong khu

vực Đông Nam Á vì thế là một tất yếu

Những kết quả nghiên cứu của các bộ môn cơ bản và

của ngành khoa học nhân văn trong suốt hơn một thế kỷ

qua, kể từ khi việc nghiên cứu về Đông Nam Á được các

nhà Đông Phương học của thế giới đặt ra hồi cuối thế kỷ

XIX, đã cho phép chúng ta khẳng định rằng: Đông Nam Á

là một khu vực lịch sử – văn hóa, một chỉnh thể được sản

sinh trong một môi trường và kiều kiện lịch sử cụ thể: có

chung một không gian địa lý, một cội nguồn văn hóa, một

hệ thống giá trị và cùng chung một thân phận lịch sử

Chính những yếu tố chung đó là cơ sở, nền tảng cho sự

thiết lập các mối quan hệ về nhiều mặt giữa các dân tộc và

25 Đại Nam Thực Lục, Sđd, T2, tr 209

26 Đại Nam Thực Lục, Sđd, T4, tr 334

các quốc gia trong khu vực Bang giao Việt Nam – Đông nam Á cũng đã được thiết lập trên nền tảng đó

Mối bang giao giữa Việt Nam với các dân tộc và quốc gia ở Đông Nam Á có lẽ đã được thiết lập từ rất sớm, có thể trước cả khi có sự ra đời của các nhà nước sơ kỳ ở Đông Nam Á Ở thời cổ – trung đại chúng ta thấy rõ mối bang giao này diễn theo bốn thời kỳ chính:

Thời kỳ thứ nhất: Tương ứng với thời đại đồng thau

và sắt sớm mà ta vẫn quen gọi là thời đại Đông Sơn theo phân kỳ khảo cổ học – được xem là thời kỳ mở ra những mối liên hệ ban đầu của cư dân Đông Nam Á Trên nền tảng “cái nôi của loài người”, ở thời kỳ này, Đông Nam Á đã là một khu vực có nhiều dân tốc sinh sống Tuy có khác nhau về thành phần tộc người và khác nhau về ngôn ngữ, song hầu hết cư dân Đông Nam Á đều ít nhiều có quan hệ gần gũi với nhau bởi cùng mang trong mình những yếu tố chung về mặt nhân chủng (Tiểu chủng Mogoloid phương Nam hay tiểu chủng Đông Nam Á, như cách gọi của một số nhà nghiên cứu gần đây) Đặc biệt, trên lĩnh vực văn hóa, các nhà nghiên cứu đều thống nhất trong nhận định: Ở thời kỳ này, cư dân Đông Nam Á đã có một cuộc sống ổn định trên cơ sở nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước với một phức thể gồm ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng và văn hóa biển Và trong nếp sống của từng vùng đã diễn ra quá trình phát tán, hội tụ văn hóa với thế đan xen phức tạp và xu thế của nó là hội tụ sau bao giờ cũng cao hơn hội tụ trước về không gian và chất lượng Kết quả là làm định hình nên những truyền thống chung và riêng, tạo nên nét đặc trưng lớn của văn hóa Đông Nam Á “Thống nhất trong dị biệt” Trong bối cảnh chung đó, người Việt ở

Trang 33

đồng bằng sông Hồng với kỹ thuật làm ruộng nước thuần

thục và kỹ thuật đúc đồng tinh xảo, đóng một vai trò hết

sức quan trọng trong việc tỏa sáng văn hóa Đông Sơn ra

toàn miền Sự có mặt của trống đồng Đông Sơn trên nhiều

vùng lãnh thổ ở Đông Nam Á là một bằng chứng sống động

của mối liên hệ ban đầu ấy

Thời kỳ thứ hai: Được đánh dấu bằng sự tự khẳng

định mình của các dân tộc ở Đông Nam Á thông qua việc

cho ra đời hàng hoạt các nhà nước sơ kỳ ở những thế kỷ

trước và đầu công nguyên, Nhà nước Văn Lang của người

Việt ở đồng bằng sông Hồng vào hạ bán thiên niên kỷ thứ

nhất trước công nguyên, Nhà nước Phù Nam ở cuối thể kỷ I

công nguyên, Nhà nước Lâm Ấp vào năm 192; và một số

nhà nước khác ở khu vực hải đảo như Langkasuka,

Palembang, Malayo… Điều này chứng tỏ sự trưởng thành

vượt bậc trong ý thức dân tộc và một khát vọng về một xã

hội có thể chế của cư dân Đông Nam Á Cũng chính ở giai

đoạn này, Đông Nam Á được đặt trước một bối cảnh lịch sử

mới có tác động rất lớn đến sự chuyển mình của các dân

tộc ở đây Đó là sự xâm nhập của văn hóa Ấn Độ và văn

hóa Hán Để có thể giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa

riêng của mình, chống lại sự đồng hóa của các nền văn hóa

Ấn, Hoa, các dân tộc Đông Nam Á đã bước vào một cuộc

đấu tranh sôi động trên toàn miền để dựng nước và giữ

nước Các dân tộc ở phía Nam đã tiếp thu thêm các yếu tố

văn hóa Ấn Độ để xây dựng và hoàn thiện tổ chức xã hội

của mình và các dân tộc phía Bắc (chủ yếu là người Việt) do

phải đương đầu với các cuộc xâm lăng từ phương Bắc xuống

nên đã phần nào tiếp thu văn hóa Hán Mối bang giao giữa

Việt Nam và các nước Đông Nam Á do vậy được củng cố và

phát triển hơn bởi sứ mệnh lịch sử chung và được nâng lên

ở trình độ mới: Quan hệ ở cấp độ nhà nước

Thời kỳ thứ ba được gắn liền với cuộc đấu tranh lâu

dài và anh dũng của nhân dân Việt Nam chống phong kiến phương Bắc xâm lược và thống trị Đây là giai đoạn Việt Nam bị phong kiến phương Bắc đô hộ trong suốt hơn 10 thế kỷ, do vậy bang giao giữa Việt Nam và Đông Nam Á diễn

ra có phần khác với các giai đoạn trước Trên phương diện bang giao cấp nhà nước, các thế lực phong kiến phương Bắc đã tiến hành một đường lối bang giao có tính chất bất bình đẳng với các dân tộc và quốc gia khác ở Đông Nam Á bằng nhiều thủ đoạn khác khau Còn về phía nhân dân, mối bang giao về cơ bản vẫn không có gì thay đổi mà trái lại càng thêm thắt chặt do cùng có chung một kẻ thù là phong kiến phương Bắc xâm lược Chính ở thời kỳ này, nhân dân Đông Nam Á đã sát cánh bên nhau thành nên các liên minh đoàn kết chiến đấu mà điển hình nhất là liên minh đoàn kết chiến đấu giữa các dân tộc Việt – Lào – Chăm – Khmer chống lại phong kiến nhà Đường vào năm 722 dưới sự lãnh đạo của Mai Thúc Loan

Thời kỳ thứ tư (Từ thế kỷ thứ X đến giữa thế kỷ

XIX) được xem là thời kỳ đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của các quốc gia Đông Nam Á Nhiều quốc gia dân tộc đã ra đời ở các thế kỷ IX, X như: Ăngko, Đại Việt… và các thế kỷ tiếp sau đó như Sukhothay, Lạn Xang, Pagan, Mojopahit… Sự ra đời của các quốc gia dân tộc đã mở ra một kỷ nguyên mới cho toàn miền Đông Nam Á: Kỷ nguyên độc lập dân tộc Đây cũng chính là giai đoạn các quốc gia ở Đông nam Á bước vào thời kỳ “phục hưng” nền văn hóa của

Trang 34

mình trên cơ sở sự khẳng định chính mình, khẳng định ý

thức dân tộc

Có thể nói ở giai đoạn này, mối bang giao Việt Nam –

Đông Nam Á phát triển hơn bao giờ hết Bước ra khỏi đêm

trường Bắc thuộc, Việt Nam có điều kiện hòa mình vào với

đại gia đình Đông Nam Á, vì thế, mối bang giao được

nhanh chóng thiết lập trên nhiều lĩnh vực Đặc biệt, với tư

cách một quốc gia độc lập và phát triển, Việt Nam đã chủ

động thiết lập quan hệ ngoại giao (thông qua các sứ đoàn)

với hầu hết các nước trong khu vực và theo đuổi một đường

lối bang giao hòa hiếu, thân thiện với tất cả các nước

Do vị trí chiến lược quan trọng về địa lý và kinh tế

của khu vực Đông Nam Á, nơi đây vốn là chiếc cầu nối giữa

phương Đông và phương Tây, là kho hương liệu lớn vào bậc

nhất của thế giới, nên nó cũng sớm trở thành nơi thu hút

sự chú ý của giới thương nhân và giới cầm quyền từ các khu

vực khác trên thế giới Vào thế kỷ XIII, Đông Nam Á đã

phải đối đầu với một đế chế hùng mạnh nhất thế giới lúc

bấy giờ là đế quốc Nguyên, định âm mưu mở rộng chiến

tranh, bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á hòng làm

bá chủ luồng thương mại trên biển Đông và làm chủ kho

nguyên liệu và hương liệu giàu có ở đây Việt Nam là tiêu

điểm của cuộc đụng đầu đó, không những đã dám đánh mà

còn đánh thắng cả ba lần tấn công xâm lược của nhà

Nguyên Chiến thắng của nhân dân Việt Nam đã đập tan ý

chí xâm lược của nhà Nguyên và một lần nữa góp phần duy

trì và giữ gìn nền hòa bình của khu vực Đông Nam Á

Từ thế kỷ XVI, Đông Nam Á lại bị đặt trước một thử

thách mới: Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây

Kể từ đây, vận mệnh của các nước Đông Nam Á lại có dịp

gắn bó với nhau trong cuộc đấu tranh gìn giữ nền độc lập và bản sắc văn hóa của mình Nhân dân Việt Nam một lần nữa lại sát cánh cùng các dân tộc anh em trong một mặt trận chung chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân xâm lược

2 Những đặc điểm chủ yếu của bang giao Việt Nam – Đông Nam Á thời cổ – trung đại

Từ sự phát triển có tính liên tục của mối quan hệ quốc tế nhiều mặt như trên, có thể khái quát nên một số đặc điểm chủ yếu của mối bang giao Việt Nam – Đông Nam Á ở thời cổ – trung đại như sau:

a) Bang giao Việt Nam – Đông Nam Á là mối bang giao

đã được hình thành từ rất sớm trong lịch sử Những tư liệu ghi chép về mối bang giao này tuy còn ít ỏi, song với hàng loạt các hiện vật khảo cổ học và những mối liên hệ gần gũi về mặt dân tộc học, đã chứng minh rằng tại khu vực này vốn đã có mối liên hệ thường xuyên Việc trao đổi và học hỏi nhau diễn ra từ rất sớm, có lẽ ít nhất cũng vào cuối thời đại đồ đá, đầu thời đại đồ đồng Đến giai đoạn đồng thau và sắt sớm, việc trao đổi đã diễn ra khá thường xuyên Nền tảng của những mối liên hệ này được xây dựng trên những yếu tố chung của khu vực về địa lý, lịch sử và văn hóa Không những xuất hiện sớm, mối bang giao Việt Nam – Đông Nam Á còn phát triển liên tục trong suốt tiến trình lịch sử, trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế… Chắc chắn cho đến thế kỷ thứ X, mối bang giao này đã rất phát triển, Việt Nam đã thiết lập được quan hệ ngoại giao ở cấp nhà nước với nhiều quốc gia trong khu vực Sự có mặt thường xuyên, nhộn nhịp của các sứ đoàn các nước tại Việt Nam và ngược lại đã góp phần

Trang 35

tăng cường thêm sự hiểu biết lẫn nhau tạo ra sự gần

gũi gắn bó hơn giữa các nước trong khu vực

b) Việt Nam là một nước ở Đông Nam Á, mối quan hệ

giữa Việt Nam với các dân tộc và quốc gia trong khu

vực, do đó, là một tất yếu lịch sử Nhân dân Việt Nam

bao giờ cũng mong muốn thiết lập mối giao hảo thân

thiện với tất cả các nước láng giềng của mình Vì thế,

nhìn chung mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam với

nhân dân các nước bao giờ cũng diễn ra tốt đẹp Ở vị

trí tiền đồn, cửa ngõ phía Đông của Đông Nam Á, Việt

Nam nhiều phen phải đương đầu với các thế lực ngoại

xâm và bao giờ cũng chiến thắng vẻ vang Thắng lợi đó

của nhân dân Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào

việc duy trì và gìn giữ nền hòa bình của Đông Nam Á

Một điểm nổi bật mà ta dễ nhận thấy ở thời cổ – trung

đại là mối bang giao Việt Nam – Đông Nam Á không

phải lúc nào cũng thuận thảo, mà có lúc thuận hòa, có

lúc thù nghịch Song sự bất đồng thù nghịch chỉ có tính

chất tạm thời và phần nhiều là do chính sách của các

vương triều phong kiến gây ra khi có mâu thuẫn về

quyền lợi chính trị hoặc kinh tế Điều này cũng rất tự

nhiên vì nó phù hợp với bản chất của giai cấp phong

kiến Việc giai cấp phong kiến tiến hành các cuộc chiến

tranh cướp bóc lẫn nhau là điều không thể tránh được ở

thời trung đại Nhân dân trong vùng, dù bị đẩy vào các

cuộc chiến tranh nhưng không phải lúc nào họ cũng sẵn

sàng đứng về phía giai cấp thống trị mà thường là nếu

vương triều nào tiến bộ có quan hệ tốt với nhân dân các

nước láng giềng thì được họ ủng hộ và ngược lại Đặc

biệt, ở Đông Nam Á, dù quan hệ giữa các nước có lúc

thân thiện có lúc thù nghịch, nhưng tuyệt nhiên ở đây

không bao giờ có mối hằn thù về dân tộc hay tôn giáo Đây là một truyền thống tốt đẹp đã trở thành định hướng của sự phát triển trong vùng

c) Ở thời cổ – trung đại, Việt Nam đã có mối bang giao

với tất cả các nước trong khu vực, thiết lập ngoại giao với tất cả các vương triều ở các nước lúc bấy giờ Tuy nhiên, việc thiết lập bang giao với các nước làng giềng bao giờ cũng được xem xét chu đáo, kỹ lưỡng nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của quốc gia Với các nước láng giềng gần, bao giờ các vương triều phong kiến Việt Nam cũng có hẳn một chính sách đối ngoại và xây dựng một đường lối ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo trên nhiều lĩnh vực Nhưng với các nước xa xôi cách trở về địa lý như Mianma hay các nước vùng hải đảo, việc thiết lập quan hệ có phần muộn hơn và có lúc chỉ có quan hệ kinh tế diễn ra Nguyên nhân là do sự cách trở về địa lý khiến sự hiểu biết về nhau còn chưa nhiều, chưa đầy đủ Mặc dù vậy, nguyên tắc cao nhất mà các vương triều phong kiến Việt Nam theo đuổi vẫn là đảm bảo tính thân thiện, hoà hiếu với các nước xung quanh, đặc biệt là các nước láng giềng, trên cơ sở tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau Đây là nguyên tắc được hình thành sớm và có sự nhất quán trong suốt tiến trình lịch sử cổ trung đại

Câu hỏi ôn tập

1 Bang giao Việt Nam – Chân Lạp trước thế kỷ XVI?

2 Bang giao Việt Nam – Chân Lạp từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX?

3 Bang giao Việt Nam – Lào ở thời trung đại?

Trang 36

4 Bang giao Việt Nam – Thái Lan trên lĩnh vực chính trị

– quân sự ở các thế kỷ XVI – XVIII?

5 Bang giao Việt Nam – Mianma và Việt Nam – các nước

hải đảo thời trung đại?

6 Khái quát tiến trình bang giao Việt Nam – Đông Nam

Á thời cổ – trung đại

7 Trình bày những đặc điểm bang giao Việt Nam – Đông

Nam Á thời cổ – trung đại

TÀI LIỆU THAM KHẢO – Chương 2

1 Trương Hữu Quýnh (chủ biên), (1997) - Đại cương lịch sử

Việt Nam tập 1, NXB giáo dục

2 Trần Thị Mai (1997) - Lịch sử bang giao Việt Nam – Đông

Nam Á, Tủ sách Đại học Mở - Bán công TP.HCM

3 Phan Lạc Tuyên (1993) - Lịch sử bang giao Việt Nam –Đông

Nam Á (trước CN – thế kỉ XIX ), Bộ giáo dục và đào tạo - Viện

đào tạo mở rộng khoa ĐNÁ học

4 Nguyễn Lương Bích (2003) - Lược sử ngoại giao Việt Nam

các thời trước, NXB QĐND Hà Nội

5 Lưu Văn Lợi (2000.) - Ngoại giao Đại Việt NXB CA ND , Hà

Nội

6 D.G.E.Hall Lịch sử Đông nam Á – Nhà xuất bản chính trị

quốc gia, Hà Nội, 1997

7 Huỳnh Văn Tòng : “Lịch sử Malaysia, Singapore và Brunei”

Tủ sách Khoa Đông Nam Á Học, Đại Học Mở – Bán công

TP.HCM , 1993

8 Huỳnh Văn Tòng : “Lịch sử Indonesia”, Khoa Đông Nam Á

Học, Đại Học Mở – Bán công TP.HCM, 1992

9 Huỳnh Văn Tòng : “Lịch sử Thailand” Khoa Đông Nam Á

Học, Đại Học Mở – Bán công TP.HCM, 1993

10 Hoàng Văn Thái – Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào – Campuchia, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1983

11 Lương Ninh – Hà Bích Liên : “Lịch sử các nước Đông Nam Á” tập I – Khoa Đông Nam Á Học, Đại Học Mở - Bán công TP.HCM, 1994

12 Lưu Văn Lợi – Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945 –

1995, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 1998

13 Lê Quý Đôn : Phủ biên tạp lục, Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội 1977

14 Nguyễn Lệ Thi :”Thu tịch cổ Việt Nam viết về các nước Đông Nam Á”, UBKHXH Việt Nam, Ban Đông Nam Á Hà Nội 1997

15 Nguyễn Tương Lai (chủ biên) – Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm 90, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001

16 Nguyễn Quốc Lộc “Dân tộc học các nước Đông Nam Á” Khoa Đông Nam Á Học, Đại Học Mở – Bán công TP.HCM,

1993

17 Nguyễn Quốc Lộc (Chủ biên), Đông Nam Á ngày nay số 1 (1992) – số 2 (1993) – số 3 (1995) – Khoa Đông Nam Á Học – Đại Học Mở – Bán công TP.HCM

CHƯƠNG III

BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á

THỜI CẬN ĐẠI (1858 – 1945)

Trang 37

I ĐÔNG NAM Á TRƯỚC SỰ XÂM NHẬP CỦA CHỦ NGHĨA

TƯ BẢN PHƯƠNG TÂY

Từ thế kỷ XVI cho đến giữa thế kỷ XX, lịch sử Đông

Nam Á bị đặt trước một thử thách mới: sự xâm nhập của

chủ nghĩa tư bản phương Tây Nếu như ở giai đoạn trước, cư

dân Đông Nam Á với bản lĩnh văn hóa riêng của mình đã

biết tiếp thu một cách chọn lọc những tinh hoa văn hóa từ

các nền văn hóa lớn Ấn Độ và Trung Quốc để không ngừng

đổi mới và nâng cao mình lên, thì ở giai đoạn sau này (giai

đoạn từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XX), họ lại có dịp cọ

xát với văn hóa phương Tây, để từ đó chắt lọc lấy những gì

tinh túy, hòng bồi bổ thêm nền văn hóa của mình, đồng

thời cũng là để tiếp thêm sức mạnh chống lại mọi sự thao

túng của chủ nghĩa tư bản phương Tây, bảo vệ nền độc lập

và nền văn hóa của mình

Trên đại thể, sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản

phương Tây vào Đông Nam Á có thể chia ra làm ba giai

đoạn như sau:

1 Giai đoạn thứ nhất (khoảng thế kỷ XVI)

Đối với người phương Tây, thị trường tơ lụa và hương

liệu ở Á Đông từ lâu vẫn có một sức hút mạnh mẽ, thúc

giục họ tìm ra những con đường ngắn nhất để có thể đến

được với miền đất vàng này Từ thế kỷ XVI, dựa vào những

kết quả lớn lao của công cuộc đại phát kiến địa lý, các nước

tư bản phương Tây đã có thêm những điều kiện thuận lợi

mới và họ đã có dịp để thực hiện sự bành trướng thế lực

của mình

Tuy nhiên, ở thế kỷ XVI, hoạt động của người Châu

Âu chủ yếu chỉ mới diễn ra ở vùng ngoại vi Đông Nam Á

Mục tiêu của họ là nhằm tìm kiếm một số bàn đạp chốt ở những hải đảo có vị trí chiến lược về địa lý và thương mại

Đi đầu trong cuộc tìm kiếm này là các nước: Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha

* Bồ Đào Nha:

Ngay từ cuối thời trung cổ, Bồ Đào Nha đã đóng vai trò lãnh đạo Châu Âu trong những cố gắng khai thác thương trường ở Ấn Độ Dương Từ thế kỷ XV, họ bành trướng thế lực và tiến hành giành giật độc quyền buôn bán hương liệu ở khu vực Ấn Độ Dương với các thương gia Ấn Độ, Ả Rập Năm 1509, trong một cuộc đụng độ lớn với liên quân Ấn Độ - Ai Cập ở Điu, quân Bồ Đào Nha thắng lợi lớn Từ đó, người Bồ Đào Nha tung hoành ở khu vực Ấn Độ Dương Họ tha hồ đi lại, buôn bán và cướp bóc ở vùng biển này Đặc biệt khi họ phát hiện ra rằng: phần lớn hương liệu và gia vị mà từ trước các thương nhân Ấn Độ và Ả Rập vẫn cung cấp cho họ đều có nguồn gốc từ Đông Nam Á, thì quyết tâm chinh phục Đông Nam Á trở nên quyết liệt đối với Bồ Đào Nha Năm 1510, quyết tâm này được thể hiện bằng cuộc tiến chiếm đất Goa (Ấn Độ) và năm sau (1511) từ Goa, Bồ Đào Nha tiến đánh Malaca – cửa ngõ vào Đông Nam Á, mở đầu cho quá trình xâm chiếm thực dân toàn khu vực Đông Nam Á

* Tây Ban Nha:

Cùng có một tham vọng chung giống như Bồ Đào Nha, người Tây Ban Nha cũng ráo riết tìm đường đến Đông Nam

Á Đầu thế kỷ XVI, được che đậy bằng hình thức hoạt động thương mại, người Tây Ban Nha đã có mặt ở đồng bằng Pasig (Philippin) Đến năm 1542, người Tây Ban Nha về cơ

Trang 38

bản đã chiếm đóng được quần đảo này và đặt cho nó tên gọi

Philippin – như ngày nay chúng ta vẫn gọi

Từ bàn đạp Philippin, tháng 2-1565, người Tây Ban

Nha đổ bộ lên đảo Cebu Năm năm sau (vào năm 1570), họ

tiến chiếm Manila và sau đó tuyên bố Manila là đất của

Tây Ban Nha vào ngày 24/6/1571 và đặt tổng hành dinh

của chế độ thực dân Tây Ban Nha lên vùng đất Philippin

2 Giai đoạn thứ hai (từ khoảng thế kỷ XVII đến

đầu thế kỷ XIX

Đây là giai đoạn chủ nghĩa tư bản phương Tây thâm

nhập sâu hơn vào Đông Nam Á Cùng với Bồ Đào Nha và

Tây Ban Nha, thực dân Hà Lan, Anh, Pháp cũng xúc tiến

mạnh mẽ quá trình xâm chiếm thuộc địa ở Đông Nam Á

Trên quần đảo Indonesia, thông qua công ty Đông Ấn

Hà Lan (V.O.C), người Hà Lan đã đặt được bản doanh của

họ ở Basttavia Ý đồ của Hà Lan là thiết lập cho được một

trung tâm thương mãi lớn tại Battavia để vươn tới kiểm

soát toàn diện mặt biển Để thực hiện ý đồ này, trong các

thập niên 20 và 30 của thế kỷ XVII, người Hà Lan đã

chinh phục phần lớn phần phía đông và trung Java, kiểm

soát hầu như toàn bộ vịnh Belgal Đồng thời, Hà Lan cũng

từng bước thâm nhập vào thị trường các nước thuộc khu vực

bán đảo Đông Dương, Mianma và Thái Lan Cho đến giữa

thế kỷ XVII, hệ thống thương điếm của Hà Lan đã có mặt ở

các quốc gia Thái Lan, Mianma, Lào, Campuchia, Việt

Nam… Bên cạnh hoạt động thương mãi, người Hà Lan cũng

không ngần ngại trong việc cấu kết với các thế lực chính trị

ở các nước mà họ thiết lập quan hệ hòng can thiệp sâu hơn

vào công việc nội bộ của các nước này Chẳng hạn như: vào

năm 1630, họ đã gửi chiến thuyền giúp chính quyền Prasat Tong (Thái Lan) tiến hành cuộc chiến tranh với người Campuchia và chống lại người Bồ Đào Nha Cũng tương tự như vậy, người Hà Lan đã giúp đỡ súng ống, đạn dược, chiến thuyền và thậm chí cả quân đội cho chúa Trịnh (ở Việt Nam) trong cuộc chiến tranh giữa hai dòng họ Trịnh – Nguyễn

Ở Malaysia, vào những thập niên đầu của thế kỷ XVII, Hà Lan và Anh cũng bắt đầu xâm nhập vào vùng cấm địa của người Bồ Những năm 1740-1741, bằng cuộc bắt tay chính trị giữa Hà Lan và chính quyền bản địa ở Malaysia, người Bồ Đào Nha đã bị đẩy bật ra khỏi Malacca Cùng từ đó, Hà Lan chính thức thiết lập chế độ thực dân của mình lên vùng bán đảo này

Song, mặc dù chiếm được Malacca, nhưng người Hà Lan lại không muốn tiếp tục phát triển Malacca như người Bồ Đào Nha mà họ chủ yếu tập trung vào Battavia Malacca

do đó chìm dần vào quên lãng Tình trạng này là một cơ hội tốt để Anh can thiệp vào Malaysia Năm 1807, Anh từ Ấn Độ đã vươn tới Malacca, tàn phá thương cảng này thêm một lần nữa, và sau đó quay sang thiết lập cơ sở của họ ở Singapo vào năm 1819, đồng thời xúc tiến quá trình xâm lược toàn bộ Malaysia

Tại Thái Lan, ở các thế kỷ XVII, XVIII, cả Hà Lan, Anh, Pháp, đều đã đặt được các thương điếm của mình thông qua các công ty Đông Ấn Thái Lan có quan hệ khá mật thiết với Hà Lan (như đã nói tới ở trên đây) Thái Lan cũng thiết lập quan hệ buôn bán khá phát đạt với Anh Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XVIII, bước sang đầu thế kỷ XIX (khi Anh đã giành được những thắng lợi quyết định trong công

Trang 39

cuộc xâm lược Mianma), phía triều đình Thái Lan đã từng

bước nhượng bộ Anh và người Anh được phép triển khai

hoạt động buôn bán của mình trên đất Thái Lan ngày càng

mạnh hơn

Tình hình trên cũng diễn ra tương tự ở các nước Đông

Dương và Mianma Thông qua hoạt động thương mại của

các công ty Đông Ấn và sự tích cực của các nhà truyền giáo,

các nước phương Tây đang ráo riết chuẩn bị cho bước quyết

định: xâm lược bằng quân sự vào các nước Đông Nam Á,

biến các nước này thành thuộc địa của thực dân phương

Tây

3 Giai đoạn thứ ba (thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX)

Ở giai đoạn này, Châu Âu đang có được những thuận

lợi hết sức căn bản: sự phát triển mạnh mẽ của khoa học -

kỹ thuật và việc rút ngắn con đường biển từ Châu Âu sang

Đông Nam Á thông qua việc hoàn thành công trình đào

kênh Suéz (1859-1869) Vì vậy, các nước thực dân bị cuốn

vào cơn lốc của cuộc chạy đua tìm kiếm thị trường và nguồn

nguyên liệu phục vụ cho sự phát triển của ngành công

nghiệp Trong cuộc chạy đua nước rút này, Tây Ban Nha đã

chiếm lĩnh được Philippin (1542-1896), Bồ Đào Nha và Hà

Lan tranh nhau chiếm giữ các đảo ở Indonesia, Anh nhảy

vào Mianma (tháng 11/1885, Mianma trở thành thuộc địa

của Anh), Thái Lan cũng buộc phải ký với Anh hiệp ước bất

bình đẳng đầu tiên vào ngày 18/4/1855, tiếp đó là hàng loạt

hiệp ước bất bình đẳng ký với Pháp, Đức, Mỹ … nhượng cho

các nước này một số quyền lợi của Thái Lan

Tại Đông Dương, thực dân Pháp mở rộng xâm lược ra

toàn bán đảo, cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương

diễn ra vô cùng quyết liệt, nhưng cuối cùng cũng bị thất bại và thực dân Pháp đã thiết lập được ách đô hộ của chúng ở

ba nước Đông Dương vào nửa cuối thế kỷ XIX Như vậy là cho đến nửa cuối thế kỷ XIX, hầu hết các nước Đông Nam

Á đã dần dần bị biến thành các nước thuộc địa hoặc lệ thuộc vào các nước tư bản phương Tây Chủ nghĩa thực dân (cũ) ra đời Kể từ đây cho đến năm 1945, nhân dân Đông Nam Á đứng trước một sứ mệnh cao cả mà lịch sử giao phó: tiến hành đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành lại nền độc lập, tự do cho dân tộc về mọi mặt

II CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á THỜI CẬN ĐẠI (1858-1945)

Cho đến cuối thế kỷ XIX, công cuộc xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây đã cơ bản hoàn tất Không một lãnh thổ nào ở Đông Nam Á không bị biến thành thuộc địa hay phụ thuộc Sứ mệnh lịch sử của nhân dân Đông Nam Á lúc này là tiến hành đấu tranh lật đổ ách đô hộ của đế quốc, khôi phục nền độc lập cho đất nước

Do cùng có chung sứ mệnh lịch sử nên quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực cũng hướng vào mục tiêu trên, nhằm tập hợp lực lượng, tạo thêm sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ cao cả mà lịch sử giao phó

Nhìn chung, ở thời cận đại, quan hệ giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á có thể chia làm hai thời kỳ lớn như sau:

1 Thời kỳ thứ nhất (từ 1858 cho đến trước năm 1930)

Thời kỳ này được bắt đầu với sự bùng nổ của hàng loạt phong trào kháng chiến của nhân dân các nước chống xâm

Trang 40

lược như: phong trào kháng Pháp của nhân dân Việt Nam

dưới sự lãnh đạo của Trương Định, Thủ Khoa Huân…; phong

trào đấu tranh của nhân dân Campuchia dưới ngọn cờ của

Hoàng thân Asoa, Pucombô…, phong trào đấu tranh của nhân

dân Mianma chống thực dân Anh dưới màu sắc Phật giáo

Các phong trào đấu tranh cũng diễn ra sôi nổi ở các nước

Indonesia, Malaysia …, đặc biệt là ở Philippin Cuộc khởi

nghĩa năm 1896 của nhân dân Philippin dưới sự lãnh đạo

của Hôxê Ridan và Bônê Phaxiô được coi như một sự kiện nổi

bật trong khu vực lúc bấy giờ Tính nổi bật của cuộc khởi

nghĩa này không chỉ ở chỗ nó đã đấu tranh quyết liệt không

khoan nhượng với thực dân Tây Ban Nha, mà còn ở chỗ, lần

đầu tiên, một phong trào đấu tranh ở Đông Nam Á đã vượt

qua ý tưởng phục hồi vương triều phong kiến hướng mục tiêu

đấu tranh vào việc giành độc lập tự do, xây dựng xã hội bình

đẳng, phát triển công thương nghiệp, mở mang giáo dục,

phục hồi văn hóa dân tộc Tức là lần đầu tiên ở một nước

Đông Nam Á đã xuất hiện một phong trào đấu tranh mang

tính chất dân chủ tư sản Đây là một yếu tố rất mới trong

phong trào đấu tranh chống thực dân ở Đông Nam Á hồi cuối

thế kể XIX

Sang đầu thế kỷ XX, Đông Nam Á bắt đầu tiếp nhận

những luồng gió mới từ các nước ngoài khu vực vào: công

cuộc duy tân của Minh Trị ở Nhật, cuộc cách mạng Tân Hợi

ở Trung Quốc (1911) và cao trào đấu tranh của nhân dân

Ấn Độ (1905-1908) Tuy các phong trào trên có sắc thái rất

khác nhau song đều có chung một cốt lõi: khơi dâïy ý thức

dân tộc và truyền bá tinh thần dân chủ Điều đó đã có tác

động mạnh mẽ đến Đông Nam Á, khơi dậy ở đây một

không khí chính trị sôi động “làm nảy sinh nhiều hình

thức hoạt động với nội dung mới Đó là sự xuất hiện các

học hội hay trường học như Đông Kinh nghĩa thục ở Việt Nam, Budi Utômô ở Indonesia…, việc xuất bản nhiều sách báo nhằm du nhập tư tưởng mới, giới thiệu văn hóa mới và truyền bá nền giáo dục mới chứa đựng tinh thần yêu nước,

ý thức phục hưng dân tộc, khuyến khích phát triển doanh nghiệp và tiếp thu khoa học kỹ thuật mới Nhiều tổ chức chính trị ra đời như “Hội thương nhân Hồi giáo” sau là

“Hiệp hội Hồi giáo” ở Indonesia, “Hội thanh niên Phật giáo Miến Điện”, phong trào cải cách tôn giáo “Kaum muda” ở Malaysia, Duy Tân hội và Quang phục hội ở Việt Nam… Những hoạt động trên thu hút đông đảo thanh niên, trí thức và những người yêu nước tham gia, tuy chưa đạt được nhiều thành tựu cụ thể, nhưng là hồi chuông thức tỉnh, khơi dậy ý chí quật cường dân tộc, hướng về độc lập dân chủ Mục tiêu chung ấy đã đoàn kết mọi lực lượng yêu nước chống đế quốc và chống phong kiến”27

Năm 1917, cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thành công ở Nga Sự kiện này đã có ảnh hưởng lớn lao đến khu vực Đông Nam Á Một số nhà yêu nước ở Đông Nam Á đã tìm thấy từ tư tưởng của Cách mạng Tháng Mười, từ tư tưởng của V.I Lênin những vấn đề về quyền bình đẳng các dân tộc, về quyền lợi của nhân dân lao động… Từ ánh sáng của chủ nghĩa Lênin, các nhà yêu nước ở Đông Nam Á đã mạnh dạn bước theo con đường đấu tranh của Cách mạng Tháng Mười, đi theo lý tưởng cộng sản Kết quả là từ năm

1920, các đảng cộng sản đã được thiết lập: Tháng 5/1920, Đảng Cộng sản Indonesia – đảng cộng sản đầu tiên trong khu vực đã được thiết lập; tháng 2/1930, Đảng Cộng sản

27 Vũ Dương Ninh – Nhìn lại nửa thế kỷ đấu tranh giành độc lập ở Đông Nam Á (1896-1945) Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/1992, tr 3

Ngày đăng: 27/01/2014, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

7. Đinh Kim Phúc – Lâm Quang Trực “Asean lịch sử hình - Tài liệu Lịch sử Bang Giao Việt Nam - Đông Nam Á pptx
7. Đinh Kim Phúc – Lâm Quang Trực “Asean lịch sử hình (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w