Kết quả nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam và các nước ở Đông Nam Á đều cho thấy vào thời đại Đông Sơn - tương ứng với thời đại đồng thau và sắt sớm - cư dân Đông Nam Á đã có một cuộc sốn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TS TRẦN THỊ MAI
LỊCH SỬ BANG GIAO
VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TP HỒ CHÍ MINH - 2007
Trang 2MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH BANG GIAO VIỆT
NAM – ĐÔNG NAM Á 5
I ĐÔNG NAM Á: MỘT KHU VỰC LỊCH SỬ – VĂN HÓA SỚM, LIÊN TỤC PHÁT TRIỂN VỚI BẢN SẮC RIÊNG 5
II TÍNH TẤT YẾU CỦA MỐI BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á 14
CÂU HỎI ÔN TẬP 16
CHƯƠNG II: BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á THỜI CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI 17
I BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á Ở BUỔI ĐẦU DỰNG NƯỚC 17
II BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á TRONG THỜI KỲ VIỆT NAM BỊ PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC ĐÔ HỘ 25
III BANG GIAO VIỆT NAM – CHÂN LẠP 31
IV BANG GIAO VIỆT NAM – LÀO 41
V BANG GIAO VIỆT NAM – THÁI LAN 47
VI BANG GIAO VIỆT NAM – MIẾN ĐIỆN 54
VII BANG GIAO VIỆT NAM VỚI KHU VỰC CÁC NƯỚC HẢI ĐẢO ĐÔNG NAM Á 56
VIII MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ MỐI BANG GIAO VN–ĐNA THỜI CỔ – TRUNG ĐẠI 62
CÂU HỎI ÔN TẬP 70
CHƯƠNG III: BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á THỜI CẬN ĐẠI 71
I ĐÔNG NAM Á TRƯỚC SỰ XÂM NHẬP CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN PHƯƠNG TÂY 71
II CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á THỜI CẬN ĐẠI 76
III BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á Ở THỜI CẬN ĐẠI 83
CÂU HỎI ÔN TẬP 109
CHƯƠNG IV: BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á THỜI HIỆN ĐẠI 110
I NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BANG GIAO VIỆT NAM-ĐÔNG NAM Á THỜI HIỆN ĐẠI 110
II SỰ PHÁT TRIỂN TỐT ĐẸP CỦA LIÊN MINH ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU VIỆT-LÀO-CAMPUCHIA 116
III BANG GIAO VIỆT NAM–ASEAN 125
1 VÀI NÉT VỀ ASEAN… 125
2 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN BANG GIAO 135
3 BANG GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC THÀNH VIÊN ASEAN 152
CÂU HỎI ÔN TẬP 178
CHƯƠNG V: MỘT VÀI NHẬN XÉT THAY KẾT LUẬN .179
TÀI LIỆU THAM KHẢO 184
PHỤ LỤC 188
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ SỞ HÌNH THÀNH BANG GIAO
VIỆT NAM - ĐÔNG NAM Á
I ĐÔNG NAM Á: MỘT KHU VỰC LỊCH SỬ - VĂN HÓA SỚM,
LIÊN TỤC PHÁT TRIỂN VỚI BẢN SẮC RIÊNG
Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, khu vực Đông
Nam Á đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà “Đông
Phương học” do tính chất quan trọng và nổi bật về vị trí địa
lý mang tính chất chiến lược của nó Tiếp đó, những khám
phá mới về những bước đi đầu tiên của loài người, tiến trình
lịch sử dựng nước và giữ nước sôi động cùng với sự xác lập
thường xuyên mối liên hệ của khu vực này với thế giới đã
đưa Đông Nam Á trở thành một trong những khu vực có ý
nghĩa quan trọng trong toàn bộ lịch sử thế giới Cho đến nay,
mặc dù còn có những ý kiến khác nhau về tiến trình lịch sử
cũng như vị trí và vai trò của Đông Nam Á trong lịch sử văn
minh nhân loại, song không còn ai nghi ngờ gì nữa về sự hiện
diện và quá trình phát triển liên tục với những tính cách hết
sức riêng biệt của nó
1- Nằm trải rộng trên một phần trái đất, từ khoảng 290
kinh đông đến 1400 kinh đông và từ khoảng 280 vĩ bắc chạy
qua xích đạo đến 150 vĩ nam, Đông Nam Á ngày nay bao gồm
11 nước với 5 nước nằm sâu trong lục địa (Việt Nam, Lào,
Campuchia, Mianma và Thái Lan) và 6 nước phân bố ngoài
hải đảo (Malaysia, Indonesia, Singapo, Brunei và Philípin, Đông Timo) Tất cả các nước trong khu vực đều nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới và bị chi phối bởi gió mùa quanh năm Chính yếu tố gió mùa và khí hậu biển đã tạo nên hai mùa rất rõ rệt ở Đông Nam Á: Mùa mưa bắt đầu từ tháng tư đến tháng 11 dương lịch và mùa nắng từ tháng 11 dương lịch đến tháng tư năm sau Điều kiện khí hậu thuận hòa tạo cho Đông Nam Á nhiều thuận lợi lớn, đáng kể nhất là một thiên nhiên thống nhất trong đa dạng, một thảm thực vật quanh năm tươi tốt với nhiều sắc thái xen kẽ giữa rừng nhiệt đới, đồi núi, đồng bằng và biển tạo nên cảnh quan đa dạng và rất giàu về tiềm năng Tề thư của Trung Quốc viết: ‘Các nước Man di chia nhau lập quốc, của quý không đâu bằng ở đây”
Vị trí địa lý nối liền giữa phương Đông (thế giới Trung Quốc, Nhật Bản ) và phương Tây (Ấn Độ, Tây Á, Địa Trung Hải) cũng tạo điều kiện cho Đông Nam Á có dịp tiếp xúc và cọ sát với nhiều nền văn minh lớn của nhân loại Đồng thời qua đó, cư dân Đông Nam Á cũng xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng mang bản tính cởi mở và thượng võ “Không phải ngẫu nhiên mà mối liên hệ của khu vực này với thế giới đã được xác lập thường xuyên trong mấy chục thế kỷ qua Và cũng không phải ngẫu nhiên mà đã có mặt ở Đông Nam Á những nhà địa lý hay du lịch, những nhà truyền giáo hay ngoại giao của cả phương Đông và phương Tây trong suốt chiều dài lịch sử như Ptôlêmê, Khang Thái, Nghĩa Tĩnh, Marco Polo, Chu Đạt Quan, Ibn Batutah v.v Họ đã đến đây xem xét, ghi chép và để lại những tài liệu cho đời sau”(1)
1 Xem thêm Lương Ninh - Hà Bích Liên: Lịch sử các nước Đông Nam Á, tập
I, tủ sách Khoa Đông Nam Á, Đại học Mở Bán công, TP Hồ Chí Minh
Trang 42- Kết quả của ngành khảo cổ học trong mấy chục năm
gần đây đã kết luận: Đông Nam Á là một trong những cái
nôi của loài người Dấu vết hóa thạch vượn bậc cao được
tìm thấy ở Pondaung (Mianma) có niên đại khoảng 40
triệu năm; hoá thạch người tối cổ được tìm thấy ở Java
cách đây khoảng 2 triệu năm; răng người vượn ở Bình Gia
(Lạng Sơn-Việt Nam) có niên đại cách đây khoảng 30 vạn
năm; nhiều xương cốt của loài người vượn, người tối cổ và
của người hiện đại được tìm thấy rải rác ở nhiều nơi ở
Đông Nam Á như Solo (Indonesia), Wajak, Hòa Bình, Bắc
Sơn có niên đại muuộn hơn một chút v.v cho thấy sự
phát triển mang tính liên tục của quá trình chuyển biến từ
vượn người thành người vượn, cũng như của người hiện đại
tại khu vực này
Kỹ nghệ đá tương đương cũng đã được tìm thấy ở
nhiều nơi trong khu vực như núi Đọ (Việt Nam), Sungs Mas
(Sumatra), ở Tabon, Palawan và Espinôsa (Philippin), v.v
Cho đến khoảng trên dưới 4000 năm cách đây, Đông
Nam Á bắt đầu bước vào thời kỳ sử dụng công cụ kim loại
Kết quả nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam và các nước ở
Đông Nam Á đều cho thấy vào thời đại Đông Sơn - tương
ứng với thời đại đồng thau và sắt sớm - cư dân Đông Nam
Á đã có một cuộc sống ổn định trên cơ sở nền nông nghiệp
trồng lúa nước, và trong nếp sống của từng vùng đã diễn ra
sự hội tụ đầu tiên của các yếu tố văn hóa đồng bằng - biển -
rừng núi với thế đan xen nhau phức tạp, rồi từ đó mà định
hình những truyền thống chung và riêng (2)
2 Tham khảo Cao Xuân Phổ - Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á
thời cổ, từ sách “Về lịch sử Đông Nam Á thời cổ”, Hà Nội, 1983, tr 61
3- Hầu hết các học giả khi nghiên cứu về Đông Nam Á
đều nhất trí rằng: vào giai đoạn sớm trong lịch sử loài người, Đông Nam Á đã từng tồn tại một nền văn hóa chung mang tính bản địa và đạt đến trình độ khá cao Đó là nền văn hóa xây dựng trên những yếu tố:
- Về phương diện vật chất: Có khả năng làm ruộng
nước do có một tổ chức xã hội đã đạt đến một trình độ nhất định (tổ chức làng xã); biết thuần dưỡng trâu bò phục vụ cho nông nghiệp, biết sử dụng thô sơ kim loại, thành thạo nghề sông nước Thiết chế xã hội được tổ chức theo chế độ mẫu hệ và lấy làng mạc thôn xóm làm đơn vị cơ sở Cộng đồng thôn xóm được coi là tổ chức xã hội quan trọng nhất với những truyền thống dân chủ: chọn lựa chức sắc trong làng, cày chung ruộng công, tương thân, tương trợ, v.v
- Về phương diện tinh thần: Có truyền thống thờ tổ
tiên trên những nơi cao Trong tư duy biện chứng sơ khai đã xuất hiện thế lưỡng hợp (âm - dương) và những thiết chế dựa trên tính quan trọng và cả trên tính ưu thế của yếu tố CÁI
4- Vào những thế kỷ trước và sau công nguyên, cư dân
Đông Nam Á, trên cơ sở một nền văn hóa đã định hình và phát triển cao của mình từ trước đó, bắt đầu bước vào quá trình “Dựng nước và giữ nước” trên toàn khu vực Cũng từ đây, văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Quốc bắt đầu thâm nhập vào Đông Nam Á Do sự vận động tự thân bên trong và những tác động từ bên ngoài, ở hầu hết các dân tộc phía Nam (kể cả các dân tộc ngoài hải đảo) trên bước đường hoàn thiện tổ chức nhà nước và xã hội của mình, họ đã tiếp nhận một cách tự nguyện văn hóa Ấn và chịu ảnh hưởng khá lớn của nền văn hóa này Trong khi đó, đối với Việt
Trang 5Nam ở phía Bắc, quá trình dựng nước đã diễn ra sớm hơn
nhiều so với các nước khác trong khu vực (vào hạ bán thiên
niên kỷ thứ nhất trước công nguyên) Quá trình này được
thúc đẩy bởi các yếu tố: sự phát triển cao của kỹ thuật
trồng lúa nước dựa trên sự phong phú của công cụ đồng và
sắt sớm Sự hợp lực cùng nhau để chống thiên nhiên và
làm thủy lợi Và sự đoàn kết toàn dân để chống lại các cuộc
xâm lược từ phương Bắc tràn xuống Do phải đương đầu với
các cuộc xâm lăng từ phương Bắc và sự du nhập mang tính
cưỡng bức của văn hóa Hán, nên các dân tộc ở bán đảo
Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam, đã phần nào tiếp nhận
và chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán
Tuy nhiên, với nền văn hóa bản địa đã định hình
sớm, với truyền thống dân chủ và tính cách cởi mở, khoáng
đạt trong cách ứng xử, cư dân Đông Nam Á đã tiếp thu văn
hóa Ấn, Hoa một cách chủ động và chọn lọc Sự tiếp thu
này thể hiện trên hai phương diện:
- Phương diện tổ chức bộ máy nhà nước: Hầu hết
các nhà lãnh đạo ở đây đều muốn tìm đến việc ứng dụng
mô hình tổ chức nhà nước đã khá hoàn thiện từ Ấn Độ,
Trung Quốc, và cùng với mô hình đó là sự mô phỏng thiết
chế xã hội, chủ yếu là chế độ đẳng cấp Tất nhiên, sự mô
phỏng này chỉ về mặt hình thức và tùy tình hình cụ thể của
mỗi nhà nước mà sự mô phỏng cũng ở mức độ đậm nhạt
khác nhau Điểm cần nhấn mạnh ở đây là về mặt nội dung,
các nhà nước vẫn được xây dựng trên nền tảng chủ đạo đó
là tinh thần dân tộc, tính dân chủ và cởi mở của cư dân
Đông Nam Á
- Phương diện tinh thần: Vẫn giữ gìn và bảo lưu
những phong tục, tập quán cổ truyền Đồng thời tiếp nhận
thêm những tinh hoa văn hóa phù hợp với phong tục, tập quán và lối sống riêng Sự tiếp nhận ở đây chủ yếu là từ tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo Lẽ dĩ nhiên sự tiếp thu ở mỗi nơi cũng mang màu sắc đậm nhạt khác nhau và theo từng cách thức riêng
5- Vào khoảng các thế kỷ X-XV, Đông Nam Á sau một
quá trình “dựng nước và giữ nước” lâu dài đã đồng loạt bước vào giai đoạn xác lập và phát triển thịnh đạt của các quốc gia dân tộc, lấy một bộ tộc đông và phát triển nhất làm nòng cốt Chính trong giai đoạn này, nền kinh tế của các quốc gia đã đạt đến giai đoạn thịnh vượng nhất kể từ truớc đó Nhiều trung tâm kinh tế quan trọng được thiết lập, có khả năng cung cấp một khối lượng hàng hóa lớn từ các sản phẩm nông nghiệp (lúa gạo), ngư nghiệp (cá), tiểu thủ công nghiệp (vải vóc, hàng sơn, đồ sứ, chế phẩm kim loại ) và nhất là những sản vật thiên nhiên (như các loại gỗ quý, hương liệu, gia vị, đá quý, ngọc trai, sừng tê, cánh kiến, thiếc ) Thị trường hàng hóa phong phú đó đã có sức thu hút lớn đối với khách thương của nhiều nước trên thế giới đổ xô đến đây để trao đổi và buôn bán sản phẩm Trên lĩnh vực văn hóa, đây cũng là giai đoạn phát triển rực rỡ của nền văn hóa dân tộc Sau một thời kỳ vừa đấu tranh gìn giữ bản sắc riêng vừa tiếp thu và chọn lọc các giá trị văn hóa từ bên ngoài, Đông Nam Á bước vào giai đoạn phục hưng văn hóa với mục tiêu và nội dung chính là sự khẳng định ý thức dân tộc Những nền văn hóa tiêu biểu như Ăngco, Pagan, Sri Vijaya, Brobudur, Chămpa, Đại Việt không chỉ là niềm tự hào của các dân tộc Đông Nam Á, mà ở những mức độ nhất định đã đóng góp vào kho tàng văn hóa của nhân loại những giá trị văn hóa - tinh thần độc đáo
Trang 6Cũng trong giai đoạn này, mối quan hệ giữa các nhà
nước dân tộc cũng được thiết lập ngày càng chặt chẽ Trong
quá trình khẳng định ý thức dân tộc của mình, giữa các
vương triều lẽ dĩ nhiên không tránh khỏi có những xung
đột, va chạm quyền lợi, thậm chí có khi biến thành xung
đột vũ trang Song, về cơ bản nhân dân các nước Đông
Nam Á vẫn sát cánh bên nhau cùng xây dựng một Đông
Nam Á hòa bình và thịnh vượng Tinh thần đoàn kết, gắn
bó giữa nhân dân Việt với nhân dân Đông Nam Á nhằm
chống lại các cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên vào thế kỷ
XIII là một trong những bản anh hùng ca tiêu biểu cho mối
quan hệ mật thiết đó
6- Sau một thời kỳ phát triển thịnh đạt, từ cuối thế kỷ
XV, các vương triều phong kiến Đông Nam Á bước vào giai
đoạn suy thoái Sự suy thoái này là kết quả tất yếu của sự
vận động theo đúng quy luật khách quan lịch sử: chế độ
phong kiến khi đã phát triển đến đỉnh cao của nó cũng là
lúc nó bắt đầu bộc lộ những mâu thuẫn đối kháng không
thể điều hòa nổi trong lòng chế độ đó Tính chất bảo thủ,
trì trệ của quan hệ sản xuất phong kiến, sự tiêu hao sức lực
của nhà nước cho những cuộc chiến tranh nhằm xác định
lãnh thổ và quyền lực là những nguyên nhân bên trong của
sự suy thoái đó Nhưng, nhân tố có ý nghĩa quyết định dẫn
tới sự suy sụp của các quốc gia phong kiến trong khu vực lại
chính là sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây
diễn ra từ thế kỷ XVI và trong suốt các thế kỷ đó cho đến
đầu thế kỷ XX Tuy ở mỗi nước, sự thiết lập ách thống trị
của chủ nghĩa tư bản phương Tây diễn ra sớm, muộn khác
nhau, tính chất cai trị cũng khác nhau, nhưng về cơ bản cho
đến cuối giai đoạn này hầu hết các nước Đông Nam Á đều
bị lệ thuộc hoặc bị biến thành thuộc địa của các nước tư bản
phương Tây Số phận lịch sử một lần nữa lại cố kết các dân tộc Đông Nam Á vào một sứ mệnh thiêng liêng: Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành lại nền độc lập dân tộc Trong cuộc đấu tranh đó, các dân tộc Đông Nam Á đã tận dụng ngay chính những thành tựu mới của văn hóa phương Tây để vừa bồi bổ thêm cho văn hóa của chính mình, vừa làm vũ khí chống lại âm mưu thôn tính và chia cắt lâu dài nền độc lập và thống nhất ở Đông Nam Á của các thế lực thực dân
7- Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, phong trào giải
phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, các nước Đông Nam Á dần dần thoát khỏi sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân.3
Cũng từ sau chiến tranh thế giới thứ II, dưới tác động của chiến tranh lạnh và “Trật tự thế giới hai cực Yanta”, Đông Nam Á bị tách thành hai nhóm: Nhóm nước Đông Dương và nhóm nưóc ASEAN Hai nhóm nước này lựa chọn con đường phát triển đất nước theo hai hướng khác nhau (Nhóm nước Đông Dương, trước hết là Việt Nam, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhóm nước ASEAN lại lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa) Sự khác biệt trong đường lối phát triển giữa hai nhóm nước đã khiến cho mối quan hệ giữa các nước Đông Nam Á không khỏi có những căng thẳng, thậm chí đối đầu Điều này đã có ảnh hưởng không ít đến lợi ích của mỗi quốc gia cũng như của cả khu vực Lẽ dĩ nhiên, trong giai
3 Mở đầu bằng việc Nhân dân Việt Nam vùng dậy làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thiết lập nền dân chủ cộng hòa Cách mạng Tháng Tám cũng đã diễn ra ở Indonesia, và cho đến giữa thập niên 80 tất cả các quốc gia Đông Nam Á đều đã giành được nền độc lập trọn vẹn
Trang 7đoạn này cái nền chung của sự tương đồng vẫn tiếp tục tồn
tại, nhưng khoảng cách mới được tạo ra không phải nhỏ
Tuy nhiên, tính chất căng thẳng, đối đầu giữa các
nước Đông Nam Á diễn ra không lâu Tình trạng này đã
nhanh chóng kết thúc cùng với sự kết thúc của chiến tranh
lạnh và sự sụp đổ của “thế giới hai cực Yanta” vào cuối thập
niên 80 Xu thế đối thoại và hợp tác diễn ra trên phạm vi
toàn cầu đã góp phần làm thay đổi tư duy chính trị của các
nước trong khu vực và thúc đẩy họ xích lại gần nhau Khép
lại quá khứ, hướng tới tương lai, kể từ những năm cuối của
thập niên 80, các quốc gia Đông Nam Á đều có chung một
mục tiêu: biến khu vực Đông Nam Á thành một khu vực
hòa bình ổn định và phát triển Hơn bao giờ hết, Đông
Nam Á hiện tại đang ở vào thời kỳ sôi động nhộn nhịp
nhất của sự hợp tác và thiết lập các mối quan hệ song
phương, đa phương Tinh thần “Thống nhất trong đa dạng”
lại càng được khẳng định mạnh mẽ khi tất cả các nước
Đông Nam Á đều tự nguyện đứng vào một tổ chức chung
của khu vực: Tổ chức ASEAN Ý thức tự cường dân tộc, tự
cường khu vực được xem là yếu tố năng động nhất hiện nay
của “một gia đình các nước Đông Nam Á được ràng buộc với
nhau bằng những sợi dây đầy tình hữu nghị, thiện chí,
thấm nhuần những lý tưởng và nguyện vọng của chúng ta,
quyết tâm tạo lập được xã hội của chúng ta” (4)
4 Lời tuyên bố của Phó Thủ tướng Malaysia Tun Abdun Razak, trích
từ ASEAN hình thành, phát triển và triển vọng; Ban Châu Á-Thái
Bình Dương, Viện Quan hệ Quốc tế, 1995, tr 6
II TÍNH TẤT YẾU CỦA MỐI BANG GIAO VIỆT NAM - ĐÔNG NAM Á
1- Từ sự khái quát trên đây, rõ ràng từ rất sớm Đông
Nam Á đã là một khu vực lịch sử - văn hóa, một chỉnh thể được sản sinh trong một môi trường và điều kiện lịch sử cụ thể: có chung một không gian địa lý, một cội nguồn văn hóa, một hệ thống giá trị và cùng chung một thân phận lịch sử Do vậy, mối liên hệ giữa các nước Đông Nam Á, cũng như khu vực này với thế giới, đã được xác lập từ rất sớm, ngay từ thời cổ đại, hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên Cơ sở lịch sử của mối bang giao Việt Nam - Đông Nam Á cũng đã được thiết lập từ đó
Về mặt lý luận: Xuất phát từ nguyên lý: Có con
người là có văn hóa, là một trong những cái nôi của loài người, ít nhất từ hàng mấy chục vạn năm cách đây những mối giao lưu văn hóa đầu tiên đã xuất hiện trên khu vực này Khi những tổ chức xã hội của con người ngày càng hoàn thiện thì sự biệt lập của cộng đồng người trong buổi đầu của thời nguyên thủy sẽ ngày càng bị giảm dần, yêu cầu phát triển sản xuất, mở rộng phạm vi giao tiếp, do đó, sẽ càng được tăng cường Đến giai đoạn cận đại, những cuộc phát kiến địa lý, sự phát triển của kinh tế hàng hóa và sự xác lập của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm xích gần các lục địa, các khu vực vốn cách xa về địa lý, biệt lập trong mối quan hệ xã hội Mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, do đó, càng trở nên gắn bó mật thiết
Về mặt thực tiễn: Truyền thống làm ruộng nước, lối
cư trú quần tụ trong các xóm làng và đặc biệt là nhu cầu phải thường xuyên tập hợp lực lượng để chống đỡ các cuộc
Trang 8xâm lược của kẻ thù bên ngoài, đã buộc các dân tộc Đông
Nam Á sớm cố kết cùng nhau trong một mối dây đoàn kết
tương thân, tương trợ để cùng tồn tại và phát triển
2- Việt Nam là một nước thuộc Đông Nam Á, mối bang
giao giữa Việt Nam và Đông Nam Á là một tất yếu khách
quan
Nằm trọn ở phần Đông của bán đảo Đông Dương,
trong vành đai nóng với chiều dài hơn 15 vĩ tuyến (từ 8030’
Bắc đến 23022’ Bắc), diện tích khoảng 330.000km2 với bờ
biển dài khoảng 3.300km và đường biên giới chung với các
nước Trung Quốc, Lào, Campuchia, dài khoảng hơn
3.800km, Việt Nam có một vị trí chiến lược hết sức quan
trọng trên trục giao thông Đông - Tây thông qua con đường
Hồ tiêu và con đường Tơ lụa trên cả đất liền và trên biển
Vì vậy, từ rất sớm Việt Nam đã trở thành một trong những
nơi dừng chân của các thương nhân trên con đường thương
mại Bắc - Nam, Tây - Đông và ngược lại Lợi dụng các đợt
gió mùa định kỳ hàng năm, thương nhân Ấn Độ, Ceylan,
Java, Palempang, v.v thường giong buồm đến Óc-eo, Đồng
Dương, Giao Chỉ, v.v Tại đó, họ lập các thương điếm để
thu mua, tích trữ và chế biến hàng hóa để đưa sâu vào lục
địa, tới Trung Quốc, và ngược lại đưa hàng hóa từ Trung
Quốc tới các nước phía Nam và, xa hơn, tới Ấn Độ, Địa
Trung Hải…
Do ở vào vị trí ngã tư đường giao lưu quốc tế nên Việt
Nam sớm trở thành nơi sinh trưởng, gặp gỡ và tiếp xúc giữa
các cư dân thuộc nhiều thành phần nhân chủng khác nhau,
cũng như nhiều luồng giao lưu văn hóa của nhiều dân tộc trên
thế giới: Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, Ấn Độ, Trung
Quốc, Nhật Bản và các dân tộc ở Đông Nam Á Vì lẽ đó, cũng
có thể nói trong mối giao lưu quốc tế, Việt Nam đã trở thành nơi gặp gỡ của nhiều dân tộc và nhiều nền văn minh
3- Trên cơ tầng lịch sử - văn hóa chung đó, Đông Nam Á
ngày nay tiếp tục đóng một vị trí hết sức quan trọng về địa lý - kinh tế - chính trị chiến lược Tất cả các quốc gia độc lập đều có những lợi ích chung trên con đường phát triển đất nước với tinh thần tự cường dân tộc và tự cường khu vực Đông Nam Á đã thiết lập được mối quan hệ đa dạng trong cộng đồng thế giới và đang nằm trong vùng chiến lược khu vực và quốc tế của nhiều nước, nhất là các nước lớn vốn theo đuổi các mục đích không giống nhau Đây là một thuận lợi rất lớn nhưng cũng đồng thời là một thách thức không nhỏ đối với các quốc gia trong cộng đồng Đông Nam Á Tình hình trên lại càng đòi hỏi các nước trong khu vực xích lại gần nhau, đồng thời liên kết tất cả các nước lại trong một ASEAN thống nhất về quyền lợi và nghĩa vụ để tạo ra những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển chung
Câu hỏi ôn tập
1 Bang giao Việt Nam-Đông Nam Á đã được hình thành
dựa trên những cơ sở nào?
2 Tại sao nói mối bang giao Việt Nam-Đông Nam Á là
một tất yếu khách quan?
TÀI LIỆU THAM KHẢO – Chương 1
1 Bộ Ngoại giao – Vụ Asean : “Hiệp hội các nước Đông Nam Á” (Asean), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995
2 Bộ Ngoại giao – Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
Trang 93 Bộ Ngoại giao – vụ hợp tác kinh tế đa phương – Việt Nam hội
hhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá vấn đề giải pháp, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
4 Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế
– xã hội quốc gia: Các quốc gia và vùng lãnh thổ có quan hệ
kinh tế với Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn, hà Nội, 2006
5 Trần Thị Mai – Lịch sử bang giao Việt Nam – Đông Nam Á,
Khoa Đông Nam Á học, Đại học Mở – Bán công TP.HCM,
1997
6 Trần Quang Lâm – Nguyễn Khắc Thân – Hội nhập kinh tế Việt
Nam – ASEAN những đặc trưng, kinh nghiệm và giải pháp, Nhà
xuất bản Thông kê, Hà Nội, 1999
7 Lương Ninh – Hà Bích Liên : “Lịch sử các nước Đông Nam Á”
tập I – Khoa Đông Nam Á Học, Đại Học Mở - Bán công
TP.HCM, 1994
8 Lưu Văn Lợi – Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945 –
1995, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 1998
9 Việt Nam – Đông Nam Á, quan hệ lịch sử văn hóa, Nhà xuất
bản chính trị quốc gia, Hà Nội 1993
CHƯƠNG II
BANG GIAO VIỆT NAM - ĐÔNG NAM Á
THỜI CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI
A- BANG GIAO VIỆT NAM - ĐÔNG NAM Á
TRƯỚC THẾ KỶ X
I BANG GIAO VIỆT NAM-ĐÔNG NAM Á Ở BUỔI ĐẦU DỰNG NƯỚC
1- Bối cảnh lịch sử
Trải qua các giai đoạn phát triển của thời tiền sử trên nền tảng của “Chiếc nôi của loài người”, cho đến khoảng trên dưới một vạn năm cách đây, ở Đông Nam Á, những điều kiện thiên nhiên, kỹ thuật và xã hội đã hội đủ để đạt đến một bước nhảy vọt mới: Cuộc cách mạng đá mới - theo cách gọi của các nhà khảo cổ học Với cuộc “Cách mạng” này nghề nông và cùng với nó là nền văn hóa xóm làng đã được khai sinh
Ngay từ đầu thời đại đá mới, Đông Nam Á đã là một khu vực văn hóa có sắc thái riêng, đó là cuộc sống định cư ngày càng ổn định trong cấu trúc làng mạc, là xu hướng tiến xuống vùng thung lũng và châu thổ của các con sông Trong phương thức kiếm sống, mặc dù việc khai thác nguồn lợi thiên nhiên (săn bắt, hái lượm) vẫn tiếp tục tồn tại, song, bên cạnh đó, cư dân ở đây đã biết trồng trọt các loại hình vườn cây ăn củ và ăn quả, biết thuần hóa một số gia súc như chó, lợn, v.v
Đến cuối thời đá mới, với những lưỡi cuốc, lưỡi rìu đá tứ giác, bầu dục, có vai, có nấc, nền nông nghiệp trồng trọt đã đạt được những thành tựu lớn Vào giai đoạn này, cư dân Đông Nam Á đã biết thuần hóa cây lúa hoang, mở ra một nền nông nghiệp trồng lúa đặc sắc trên toàn miền Niên đại lúa trồng xưa nhất được biết ở Việt Nam và Đông Nam Á là vào khoảng 6000 cho đến 5000 năm trước công nguyên Nghề trồng lúa phát triển dẫn tới việc định canh, định cư và nhu cầu mở rộng mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội Nguyên lý tổ chức xã hội theo thị tộc huyết thống (Cây gia
Trang 10phả) trở nên chật hẹp và đòi hỏi phải được thay thế bằng
nguyên lý mới: thị tộc láng giềng (Công xã nông thôn) Theo
đó, một hệ thống giá trị mới cũng dần định hình dựa trên lối
sống cộng đồng, tương thân, tương ái
Cho đến khoảng trên dưới 4000 năm cách đây, trên
toàn miền Đông Nam Á, nếp cư trú xóm làng dựa trên cơ
sở đất công của làng xã, dựa trên việc quản lý các công
trình thủy lợi và tự vệ chống lại những cuộc tấn công từ
bên ngoài vào đã trở nên phổ biến
Cuộc “Cách mạng luyện kim” tiếp nối và hoàn chỉnh
cuộc “Cách mạng đá mới” diễn ra vào khoảng cuối thiên
niên kỷ thứ III, đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên
và tiếp tục phát triển về sau là bước nhảy kỳ diệu trong
lịch sử Đông Nam Á Sự xuất hiện của đồng, đồng thau và
sắt sớm thúc đẩy mạnh mẽ khả năng chinh phục rừng già,
đầm lầy để tạo nên những làng mạc trù phú Kỹ thuật canh
tác nhờ đó cũng đạt được những bước tiến đáng kể Và một
nền văn hóa tinh thần phong phú, sáng tạo cũng có điều
kiện nảy nở và phát triển rực rỡ
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng, sau
một thời kỳ phát triển liên tục từ đồ đá, sơ kỳ đồng thau,
đồng thau thịnh đạt đến hậu kỳ đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt -
tức giai đoạn văn hóa Đông Sơn - Đông Nam Á đã là một
trung tâm tiến bộ của văn minh cổ đại thế giới, bên cạnh
các trung tâm văn minh sông Nil, văn minh Lưỡng Hà, văn
minh sông Ấn, văn minh Hoàng Hà (tuy niên đại của các nền văn minh này sớm muộn có khác nhau).(5 )
“Văn minh Đông Sơn là bước hội tụ lớn của cư dân Đông Nam Á, một cư dân nòi da vàng-Anhđônêdiêng và Nam Á - đa dạng trong sắc thái ngôn ngữ Môn-Khmer – Tày Thái – Mã Lai đa đảo (Anhđônêdiêng), cả Tạng-Miến nữa, đa dạng trong lối sống, đồng bằng, biển, nửa đồi núi, núi rừng với đủ dạng kết cấu đan xen phức tạp nhưng mẫu số chung là văn minh nông nghiệp trồng lúa, văn hóa bản làng ”6
Chính nhờ vào sức mạnh hội tụ “Văn hóa Đông Sơn” mà toàn thể Đông Nam Á đã bước vào thời kỳ xác lập các nhà nước cổ đại kiểu phương Đông Thời điểm ra đời của các nhà nước có sớm muộn tùy vùng khác nhau nhưng đều mang đặc điểm chung là sự kết hợp tuyệt vời kết quả của hai quá trình phát triển nội tại và giao lưu văn hóa với các nền văn minh lớn ở Châu Á
2- Thiết lập mối bang giao:
Như trên đã đề cập: Đông Nam Á là một khu vực lịch sử - văn hóa sớm Dựa trên những điểm tương đồng về địa lý, về kết cấu và phân bố dân cư, nhất là về mặt lịch sử, giữa các dân tộc láng giềng với nhau đã sớm có mối liên hệ mật thiết, gắn bó để cùng tồn tại và phát triển Việc giao
(5) Theo “Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược”, Tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1984, tr.19
6 Theo “Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược”, Tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1984, tr.19
Trang 11lưu giữa Việt Nam và Đông Nam Á cũng như giữa Việt Nam
với các khu vực khác khi ấy chủ yếu diễn ra trên các lĩnh
vực kinh tế và văn hóa
a) Về kinh tế:
Hiện chúng ta còn thiếu những số liệu ghi chép về
mối bang giao giữa Việt Nam với khu vực nói chung, và
Việt Nam với từng nước nói riêng ở buổi bình minh của lịch
sử này Thế nhưng bù vào đó, kết quả của ngành khảo cổ
học đã cho thấy một mối giao lưu khá rộng khắp trên toàn
khu vực thể hiện qua sự phân bố đều khắp của các công cụ
sản xuất mang dáng dấp, chất liệu và kỹ thuật khá gần gũi
với nhau Hàng loạt các hiện vật khảo cổ đã được tìm thấy
như các công cụ đá (từ đá cuội, rìu mài, rìu có nấc, có vai),
các hiện vật gốm, đồ đồøng, đặc biệt là trống đồng, thạp
đồng được phân bố ở khắp nơi với niên đại và kỹ thuật
chế tác không cách biệt nhau là mấy, chứng tỏ rằng tại khu
vực này vốn đã có quá trình gần gũi, trao đổi và học hỏi
lẫn nhau từ rất sớm Đặc biệt giai đoạn phát triển của thời
đại đồ đồng, việc trao đổi diễn ra khá thường xuyên Trong
giai đoạn này, cũng cần lưu ý đến một điều đó là về đại thể
Đông Nam Á không phải là nơi sẵn đồng Ngoại trừ Việt
Nam có trữ lượng đồng lớn hơn cả, các vùng còn lại đều
khá khan hiếm thứ kim loại này Cho nên trong khoảng
hai thiên niên kỷ cuối trước công nguyên, chỉ có cư dân
đồng bằng sông Hồng (Việt Nam) là sớm phát triển kỹ
nghệ đồng và phát huy được tác dụng của kim loại này
Nhờ ưu thế đó, Việt Nam đã trở thành nơi cung cấp đồng và công cụ đồng chủ yếu cho khu vực.7
Quan hệ giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á ở thời kỳ này chủ yếu diễn ra một cách tự phát do nhu cầu tự nhiên giữa các khối cư dân trong vùng với nhau Điều này dễ dàng xảy ra do yếu tố cộng cư cài răng lược giữa các nhóm tộc người trên cùng một địa bàn tương đối đồng nhất và không có những ranh giới tự nhiên rõ rệt Bên cạnh đó, cũng phải kể đến tác động trực tiếp của mối quan hệ buôn bán giữa các quốc gia vùng Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, Ấn Độ với khu vực này Và dĩ nhiên cả mối giao lưu của khu vực Đông Á với Đông Nam Á nữa Chúng ta đều biết Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đều nằm trong vành đai nhiệt đới - nơi có hệ sinh thái đa dạng, phong phú Những sản vật miền nhiệt đới như: hồ tiêu, trầm hương, kỳ nam, vàng ngọc, đá quý, đồi mồi, sừng tê, chim trĩ, các loại hoa quả nhiệt đới, v.v luôn có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với thị trường quốc tế, đặc biệt là thị trường phương Tây Dưới tác động của thị trường buôn bán thường xuyên này, những trung tâm buôn bán lớn đã hình thành ở các địa điểm thích hợp như: khu vực hội tụ các con sông, các cửa biển, lưu vực của các sông lớn để đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng nhiều Có thể kể đến một số trung tâm hình
7 Lấy sự hiện diện của Trống đồng loại I (Trống đồng Ngọc Lũ thuộc văn hóa Đông Sơn) làm ví dụ, ta thấy, phạm vi phân bố đều khắp của nó ở Đông Nam Á Ở đây cần lưu ý đến tính chất hàng hóa của nó Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đều đã thừa nhận Việt Nam là quê hương của trống đồng và sự phân bố rộng khắp của nó có liên quan đến người Việt nói chung
Trang 12thành sớm lúc bấy giờ ở Việt Nam như: lưu vực sông Hồng,
lưu vực sông Cả, Cửa Thị Nại, Óc-eo, v.v
Các sản phẩm trao đổi chính lúc bấy giờ, có lẽ vẫn là
các sản vật của địa phương như các lâm thổ sản, các loại
gia vị, trái cây, các sản phẩm được chế biến từ nguồn thủy,
hải sản và đặc biệt là các công cụ sản xuất được chế tạo từ
đồng, sắt, gốm, v.v
b) Về văn hóa:
Vào thời kỳ xa xưa: Thời đại Đông Sơn, cư dân Đông
Nam Á đã có một cuộc sống ổn định trên cơ sở làm nông
nghiệp trồng lúa và trong nếp sống của từng vùng đã diễn
ra quá trình hội tụ những yếu tố văn hóa đồng bằng, biển,
núi, rừng với thế đan xen phức tạp Giữa các tộc người
khác nhau trong khu vực từ rất sớm hình thành lối cư trú
xen cài Chính sự cộng cư cũng như quá trình hội tụ văn
hóa nói trên là cơ sở để định hình những truyền thống
chung và riêng của văn hóa Đông Nam Á Những truyền
thống chung là: làm ruộng (nước và khô) kết hợp với làm
vườn, biết sử dụng sức kéo của gia súc trong nông nghiệp,
biết xử lý nước cho nông nghiệp (biện pháp trị thủy); lối cư
trú nhà sàn, quần tụ trong những xóm làng; tín ngưỡng
nông nghiệp và tín ngưỡng thờ thần phổ biến Có thể nói
ở đâu có hội tụ, ở đó sớm hình thành tính cách Đông Sơn
Tính cách Đông Sơn là đặc điểm chung của cư dân Đông
Nam Á thời đại đồng thau và sắt sớm Tuy nhiên, do điều
kiện và khả năng thích ứng của từng môi trường ở mỗi
vùng có khác nhau, nên mỗi vùng lại có tính cách riêng
Chẳng hạn như:
- Cư dân Non Nok Tha - Ban Chiang hay Roi et - Phi Mai vùng cao nguyên Kòrạt làm ruộng và săn bắn, tức yếu tố đồng bằng và rừng núi nổi bật
- Cư dân vùng Somrôngsen và Mluprei (Campuchia) làm ruôïng kết hợp với đánh cá và săn bắn, tức có sự kết hợp giữa các yếu tố đồng bằng, biển, và rừng núi
- Cư dân Việt (sông Hồng) lại làm ruộng, săn bắn, đánh cá, đồng thời biết tổ chức ra nhà nước sơ khai để tổ chức và quản lý mọi hoạt động sản xuất của mình.(8)
Từ đặc điểm trên dẫn đến sự gần gũi nhau trong phong tục, tập quán của các khối cư dân ở Đông Nam Á Những trống đồng và sản phẩm đồng được phân bố ở nhiều nơi, lối cư trú nhà sàn, những biện pháp trị thủy làm nông nghiệp, những vườn cây ăn củ, ăn quả, cho đến lễ hội mùa được tổ chức hàng năm, cũng như kiểu qui tụ xóm làng cho đến nay vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở Đông Nam Á là những vết tích sống động của mối liên hệ ban đầu của cư dân ở đây trên lĩnh vực văn hóa Đó là một nền văn hóa riêng không lẫn được - nền văn hóa bản địa, định hình và phát triển dựa trên cơ sở những yếu tố riêng của mỗi tộc người và sự liên kết chặt chẽ giữa các vùng trong khu vực với nhau
Ngay từ những thế kỷ trước và sau công nguyên, trên
cơ sở nền văn hóa bản địa sớm định hình và phát triển đó, các dân tộc ở Đông Nam Á đã tự khẳng định mình: Sự ra đời của nhà nước Văn Lang của người Việt trên lưu vực sông Hồng vào hạ bán thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên,
8 Theo Cao Xuân Phổ, Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, sđđ, tr.62
Trang 13rồi tiếp đó lần lượt các nhà nướùc được thiết lập ở cả trên lục
địa và hải đảo vào các thế kỷ đầu công nguyên như: Phù
Nam, Champa, Langkakusa, Palembang, Malayu, Kalinju,
Srivijaya đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong ý thức
dân tộc của cư dân Đông Nam Á
Vào thời điểm các nhà nước sơ kỳ đồng loạt ra đời
cũng là lúc Đông Nam Á đứng trước một bối cảnh lịch sử
mới: Sự thâm nhập hòa bình của văn hóa Ấn Độ và sự xâm
nhập bằng vũ lực của văn hóa Hán Bối cảnh lịch sử này
đặt Đông Nam Á trước một nhiệm vụ mới: quá trình “Dựng
nước và giữ nước” sôi động trên toàn khu vực:
Các dân tộc ở phía Nam tiếp thu các yếu tố văn hóa
Ấn Độ, cụ thể là tiếp thu thiết chế chính trị và chế độ đẳng
cấp, để dần dần hoàn thiện tổ chức xã hội của mình (Dựng
nước)
Các dân tộc ở phía Bắc (chủ yếu là người Việt) phải
đương đầu chống lại sự Hán hóa và phần nào tiếp thu văn
hóa Hán (Giữ nước)
Tình hình trên buộc các dân tộc ở đây phải xích lại
gần nhau hơn trên cơ sở của một nền văn hóa vốn có nhiều
điểm chung để chọn lọc và tiếp thu thêm những yếu tố văn
hóa mới Vì thế, về cơ bản nền văn hóa ở đây được bảo tồn
và có phần phát triển hơn do có thêm những yếu tố mới,
nhưng tuyệt nhiên không hề bị Ấn hóa hay Hán hóa
Đặc biệt, vào thời kỳ này đạo Phật khi thâm nhập
vào Đông Nam Á không chỉ làm phong phú hơn văn hóa
bản địa mà, thông qua đạo Phật, mối liên kết khu vực càng
thêm bền chặt Đạo Phật đã được người Việt sử dụng như
một thứ vũ khí chống lại Hán hóa, đồng thời cũng là chất keo liên kết cư dân trong các xóm làng lại với nhau
II BANG GIAO VIỆT NAM - ĐÔNG NAM Á TRONG THỜI KỲ VIỆT NAM BỊ PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC ĐÔ HỘ (TỪ 179 TRƯỚC CÔNG NGUYÊN ĐẾN THẾ KỶ THỨ X)
Từ năm 179 trước công nguyên, Việt Nam bị phong kiến phương Bắc xâm lược và đô hộ (Bắc thuộc) Kể từ đây, nhân dân Việt Nam có thêm một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng và khó khăn: Đánh đuổi phong kiến phương Bắc, khôi phục nền độc lập, tự chủ Vì thế, bang giao Việt Nam với Đông Nam Á cũng diễn ra khác trước, trên đại thể có thể xem xét trên hai phương diện:
1 Bang giao về phía nhà nước
Do Việt Nam tạm thời bị mất nước, cai trị Việt Nam ở trong thời kỳ này là các chính quyền đô hộ từ phương Bắc (Triệu, Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, Tuỳ, Đường)
Vì thế, về phía nhà nước là mối quan hệ giữa các thế lực cầm quyền ở Trung Quốc với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á
Với tư tưởng “Bình thiên hạ”, các triều đại phong kiến
ở Trung Quốc luôn thèm khát vùng đất giàu có tài nguyên và tiềm tàng khả năng phát triển mậu dịch biển này Do đó, họ ra sức bình định hầu biến Việt Nam thành quận, huyện của họ để làm bàn đạp vươn xuống Đông Nam Á Chính sách cai trị của các thế lực phong kiến Trung Quốc là một chính sách thâm độc kết hợp giữa khai thác kiệt quệ tài nguyên với đồng hóa sâu sắc về văn hóa Trong hơn một nghìn năm đô hộ ở Việt Nam, phong kiến Trung Quốc chưa bao giờ từ bỏ âm mưu đó Đối với các nước Đông Nam Á,
Trang 14chính sách của phong kiến Trung Quốc cũng là kết hợp
chiến tranh với ngoại giao để thiết lập ảnh hưởng của mình
tại đây Song, trước sau các thế lực phong kiến Trung Quốc
chủ yếu chỉ thiết lập được ảnh hưởng chính trị lên khu vực
này mà thôi Trong suốt thời kỳ này, lịch sử đã chứng kiến
các triều đại Trung Quốc liên tiếp cử các phái bộ ngoại giao
đến các nước láng giềng của Việt Nam để đặt ảnh hưởng và
gây chia rẽ nội bộ các nước này, cô lập họ với Việt Nam
Ngược lại, các nước Đông Nam Á trên bước đường củng cố
thực lực của mình cũng không thể đứng ngoài mối quan hệ
quốc tế và khu vực, nên đã chọn chính sách đối ngoại thân
thiện với các nước lớn Rất nhiều các phái đoàn ngoại giao
của các nước Đông Nam Á cũng được phái tới Trung Quốc
để triều cống hoặc xin giúp đỡ
2 Về phía nhân dân:
Do phải tiến hành chống Bắc thuộc nên mối quan hệ
giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á có phần nào bị
hạn chế hơn trước Song, nhìn chung, mối quan hệ vẫn là
giao hảo, thân thiện, nhất là các nước láng giềng có chung
đường biên giới Lúc bấy giờ, không riêng Việt Nam mà cả
Lào và Chân Lạp (Campuchia sau này) đều bị đặt trước họa
xâm lăng của phong kiến phương Bắc Do vậy, nhân dân
các nước này cùng có chung một nhiệm vụ đó là đấu tranh
chống kẻ thù chung là phương Bắc xâm lược Lịch sử đã
từng chứng kiến lần liên minh đầu tiên diễn ra giữa nhân
dân Việt với nhân dân Lào vào thế kỷ thứ VI, khi người
con ưu tú của đất Việt là Lý Nam Đế nổi dậy chống lại nhà
Lương Sau đó, vào năm 722 cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc
Loan chống lại phong kiến nhà Đường ở Việt Nam đã được
nhân dân Chămpa, Chân Lạp và Kim Lân ủng hộ
Trong suốt mười thế kỷ bị phong kiến nước ngoài đô hộ, trên thực tế người Việt đã bị mất nước, song, tinh thần dân tộc, ý thức độc lập của người Việt vẫn khẳng định sức sống mãnh liệt của nó Hơn mười thế kỷ bị đô hộ và đồng hóa cũng là mười thế kỷ người Việt chống xâm lược và chống đồng hóa Chính cuộc đấu tranh anh dũng, quật cường của người Việt đã góp phần chặn đứng và đẩy lùi sự xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc xuống Đông Nam Á Đồng thời, trong cuộc đấu tranh này, người Việt đã tiếp thu thêm văn hóa của các nước Đông Nam Á, nhất là thông qua đạo Phật để tiếp thêm sức mạnh chống lại Hán hóa
Nếu như vào thời kỳ này, mối bang giao giữa người Việt ở Bắc Bộ và các nước Đông Nam Á có phần nào giảm sút, thì ngược lại ở phía Nam trên phần đất của người Chăm và một bộ phận lãnh thổ thuộc vương quốc cổ Phù Nam và Chân Lạp (tương ứng với phần đất đồng bằng sông Cửu Long sau này) mối quan hệ lại có một sự phát triển vượt bậc
* Chămpa
Vương quốc cổ Chămpa được thành lập vào năm 192, là kết quả của phong trào đấu tranh chống lại ách thống trị của nhà Hán của nhân dân Chăm và Việt khi ấy Nhà nước đầu tiên được xây dựng vào năm này có tên là Lâm Ấp (là tên của một con sông) Chủ nhân của Lâm Ấp là những người Chăm thuộc ngữ hệ Mã Lai đa đảo Vương quốc này đã tồn tại bền vững suốt mười lăm thế kỷ, nhưng sau đó suy yếu dần và đã dần chuyển hóa thành một bộ phận của nước Việt Nam Quá trình chuyển hóa này là một quá trình lâu dài, ở đó vừa có sự can thiệp vũ lực của các vương triều
Trang 15phong kiến, vừa có sự tự nguyện của cả hai khối cư dân
Việt - Chăm vì nhu cầu sinh tồn và phát triển
Lẽ dĩ nhiên, khi còn tồn tại với tư cách là những nhà
nước độc lập, giữa Chămpa và Đại Việt đã có những mối
bang giao trên nhiều lĩnh vực Giữa hai nhà nước cũng không
tránh khỏi những va chạm về quyền lợi, thậm chí tiến hành
chiến tranh để thôn tính nhau Song, đây là việc làm hoàn
toàn phù hợp với logic lịch sử, với quy luật cạnh tranh sinh
tồn, mạnh được yếu thua của thời Cổ - Trung đại
Về phía nhân dân, do có chung những điều kiện sinh
sống, quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, đặc biệt
có chung kẻ thù nguy hiểm là phong kiến phương Bắc, nên
cư dân hai nước có một sự chia sẻ và hiểu biết lẫn nhau Vì
thế, giữa họ luôn có sự tiếp nhận lẫn nhau, chung lưng, đấu
cật để tạo dựng cuộc sống Đây là một yếu tố năng động và
là động lực chính thúc đẩy quá trình chuyển hóa trên
Trong thời kỳ tồn tại và phát triển thịnh vượng với tư
cách là một quốc gia độc lập, Chămpa có mối quan hệ
thường xuyên với các nước trong khu vực, đặc biệt là với
Chân Lạp, Lào, Thái Lan và Philippin Mối quan hệ này
diễn ra trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa,
ngoại giao Đồng Dương (nay thuộc tỉnh Quảng Nam) và
cửa Đại Chăm (nay là Hội An) được xem là các trung tâm
chính trị, văn hóa, và kinh tế lớn của Chămpa lúc bấy giờ,
cũng là nơi thu hút thương nhân từ nhiều nước đến đây giao
lưu thương mại
Chămpa nổi tiếng với sản vật quý hiếm: ngà voi, tê
giác, gỗ có hương, vàng, vải vóc, tổ yến Sản vật của
Chămpa thường được dùng làm lễ vật trong quan hệ ngoại
giao với các nước ngoài
• Phù Nam (Founan, thế kỷ I đến thế kỷ VII)
Vào những thế kỷ đầu công nguyên, dựa trên sự phát triển kinh tế của thời đại đồng thau và sắt sớm cùng sự trao đổi văn hóa với bên ngoài, đặc biệt là Ấn Độ, các tộc người miền Nam Đông Nam Á đã lần lượt dựng lên các nhà nước sơ kỳ hoặc các địa điểm quần cư quan trọng Phù Nam là một trong những quốc gia sơ kỳ đó, đã ra đời trên vùng đất đại thể tương ứng với đất Nam Bộ và một phần các tỉnh thuộc Đông Nam Campuchia ngày nay
Trên thực tế, Phù Nam đã phát triển qua những giai đoạn kế tiếp nhau với những đặc điểm riêng Trong khoảng vài ba thế kỷ đầu là giai đoạn hình thành và phát triển của vương quốc Từ thế kỷ thứ III, Phù Nam đã là một đế quốc hùng mạnh khống chế một tập hợp các tiểu quốc thuộc các tộc người khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội rất khác nhau Trong đó, đương nhiên có một tiểu quốc Phù Nam chính tông nắm địa vị tôn chủ bắt các tiểu quốc khác phải thần phục và cống nạp
Một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa lớn của Phù Nam lúc bấy giờ đã được thiết lập ở miền Tây sông Hậu (Việt Nam ngày nay) có lẽ trùng với nhà nước Naravaranagara (nước Chí Tôn) - một tiểu quốc có vị trí đặc biệt quan trọng đối với Phù Nam Đây vừa là cửa ngõ ở phía Đông tiếp giáp với nước ngoài qua đường biển, vừa là trung tâm thu nhận cũng như phát tán văn hóa của khu vực và cả thế giới xung quanh Cư dân Naravaranagara làm ruộng, đánh cá và đặc biệt thông thạo việc buôn bán trên biển nên có giao lưu rộng rãi với bên ngoài Thông qua Naravaranagara mà Phù Nam trở nên mạnh về kinh tế và cũng qua đó mà tiếp nhận văn hóa từ bên ngoài vào, nhất là văn hoá Ấn Độ
Trang 16Vào thời kỳ thịnh trị của mình, Phù Nam có mối quan
hệ rất chặt chẽ với các nước trong khu vực: Lâm Ấp, Chân
Lạp, Thái Lan, Mianma, Malaysia và các nước ngoài khu
vực: Ấn Độ, Trung Quốc Có thể kể ra đây một số lĩnh vực
chính:
- Về mặt văn hóa: Bên cạnh việc giao lưu với khu
vực, Phù Nam đã tiếp thu mạnh mẽ văn hóa Ấn Độ trong
đó có Bàlamôn giáo Thần Civa cũng như cơ chế tổ chức
vương triều và thiết chế đẳng cấp của Ấn Độ được du nhập
và ảnh hưởng không nhỏ ở nước này Đạo Phật cũng rất
được sùng bái ở Phù Nam Chính là qua Phù Nam mà văn
hóa Ấn Độ đã truyền bá sâu hơn vào miền lục địa, nhất là
đến Chân Lạp
- Về mặt kinh tế: Thương cảng Óc-eo là một trung
tâm kinh tế, phồn thịnh không chỉ của Phù Nam mà còn
của cả Đông Nam Á lúc bấy giờ: Ở đây không thiếu một thứ
gì dù là của Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc hay vùng Địa
Trung Hải Tàu buôn của các nước tấp nập vào ra nơi đây
để buôn bán và bốc dỡ hàng hóa Các hiện vật còn tìm thấy
ở Óc-eo qua quá trình khai quật như: các loại tiền cổ của
các nước trong khu vực, tiền đồng và đặc biệt là hai tấm
mề đay bằng vàng có niên đại rất sớm dưới triều đại
Antoni le Pieux và Marc Aurèle (thế kỷ II), nhiều đồ trang
sức bằng mã não và thủy tinh màu có xuất xứ tại La Mã và
Trung Cận Đông, tượng phật Ấn Độ, v.v cho thấy mối
giao lưu kinh tế đặc biệt thịnh vượng tại đây
Tiếc rằng, thương cảng lớn nhất Đông Nam Á trong 7
thế kỷ đầu công nguyên sau đó đã bị hủy hoại một cách đột
ngột, mà nguyên nhân của sự biến mất này hiện vẫn chưa
được làm sáng tỏ
B BANG GIAO VIỆT NAM - ĐÔNG NAM Á TỪ SAU THẾ
KỶ THỨ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
Vào đầu thế kỷ thứ X, cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc của người Việt đã giành được thắng lợi hoàn toàn Một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập tự chủ và phát triển về mọi mặt được mở ra Nhà nước dân tộc được xác lập và củng cố Trong xu thế khẳng định chính mình, các triều đại phong kiến Việt Nam từng bước củng cố và hoàn thiện bộ máy trung ương tập quyền trong nước, đồng thời mở rộng quan hệ với bên ngoài
Cũng vào thời điểm này, nhiều nước Đông Nam Á cũng bước vào giai đoạn xây dựng các quốc gia dân tộc Bối cảnh chung đó là tiền đề vô cùng thuận lợi để mở ra một trang mới trong lịch sử bang giao giữa các nước trên toàn khu vực Có thể nói mối bang giao giữa Việt Nam với Đông Nam Á chưa bao giờ gặt hái được nhiều thành công đến thế kể từ trước đó
III BANG GIAO VIỆT NAM - CHÂN LẠP
1 Vài nét về vương quốc Chân Lạp (Campuchia)
Vào khoảng đầu công nguyên ở giai đoạn sơ kỳ đồ sắt, trên cơ sở của kỹ thuật mới và sự tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, có lẽ những quốc gia sơ kỳ của người Môn cổ và người Khmer cổ đã được lập ra Biên niên sử của Campuchia đã đề cập đến một trong những quốc gia sơ kỳ đó có tên gọi là Chenla Các quốc gia này sau đó bị lệ thuộc vào một quốc gia mạnh hơn, đó là Phù Nam (mà ta đã có dịp đề cập) Cho đến
Trang 17thế kỷ thứ VI và VII, các quốc gia này mạnh dần lên và dần
thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào Phù Nam
Theo truyền thuyết, thủy tổ của người Khmer là một ẩn
sĩ người gốc Ấn Độ tên là Kambu đã đến vùng đất này truyền
giáo Sau đó, vị ẩn sĩ kết hôn với nữ thần Mera, vì thế con
cháu của họ được gọi là Kambuja Tên ghép của cặp vợ chồng
Kambu-Mera cũng được lấy làm tên tộc Kmer hay Khmer
Trung tâm điểm của bộ lạc Khmer gốc có thể là Vạt
Phu (Champassac), gần nơi hội lưu của hai sông Sêmun và
Mêkông Bộ lạc này có trình độ kinh tế - xã hội khá cao, họ
có sự tiếp xúc khá gần gũi và thường xuyên với các bộ tộc
Khmer ở phía Nam và qua đó mà họ tiếp thu ảnh hưởng
của văn hóa Ấn Độ
Người chính thức xác lập ra vương quốc Khmer miền
Bắc hay vương quốc Campuchia sơ kỳ là Bhavavarman I Tên
nước lúc đầu cũng được đặt theo tên ông: nước Bhava
(Bhavapura), nhưng người Trung Quốc thì vẫn gọi là Chân
Lạp
Bhavavarman I là người chấm dứt sự lệ thuộc của
Khmer vào Phù Nam Nhưng phải đợi đến em trai ông là
Sitơrasena (Mahendravarman - 600 - 620) và cháu ông là
Isanavarman (620-650), người Khmer mới chinh phục được
Phù Nam Vương quốc Campuchia sơ kỳ thực sự thịnh trị
dưới triều Jayavarman I (650-680)
Việc tiếp xúc với văn hóa biển, việc mở rộng địa bàn
với những điều kiện sinh sống mới đã thúc đẩy nền kinh tế
- xã hội Campuchia đạt được những bước tiến đáng kể Dưới
thời Javavarman I, người Chân Lạp đã xâm chiếm cả AiLao
(Lào) và một phần Nam Chiếu (Vân Nam - Trung Quốc)
2 Bang giao Việt Nam - Chân Lạp
a) Bang giao trước thế kỷ XVI
Thư tịch cổ Việt Nam đã từng nói đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Chân Lạp được thiết lập khá sớm Vào đầu thế kỷ VIII (722), mối quan hệ này được củng cố thêm qua cuộc nổi dậy của Mai Thúc Loan ở Hoan Châu chống nhà Đường 32 châu trong nước đã nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của ông Bên ngoài, Mai Thúc Loan liên kết được với Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, quân số lên đến hơn
30 vạn người Nhà Đường phải vất vả lắm mới dẹp được cuộc khởi nghĩa
Từ sau khi Đại Việt giành được độc lập từ tay phong kiến Trung Quốc, Đại Việt ngày càng được củng cố và phát triển Trong khi đó, ở Chân Lạp, nền văn minh Aêngkor cũng bước vào giai đoạn thịnh đạt dưới triều đại Jayavarman VII (1181 - sau 1200) Nếu như Đại Việt thực thi chính sách mở rộng quan hệ với bên ngoài, thì Jayavarman VII cũng chủ trương liên kết và giữ quan hệ hòa hiếu với các nước lớn như Trung Quốc, Đại Việt, Java Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Chân Lạp được chính thức thiết lập dưới triều Lý, thời vua Lý Thái Tổ Thư tịch cổ của Việt Nam còn ghi rõ: lần đi sứ đầu tiên của sứ bộ Chân Lạp đến nước ta là vào năm 1012 – 1013, họ mang theo rất nhiều sản vật để triều cống nhà Lý Tiếp theo đó, chỉ tính riêng dưới triều Lý đã có cả thảy 13 lần sứ bộ Chân Lạp đến Đại Việt Mối giao hảo giữa hai nước đặc
biệt thuận thảo, tốt đẹp Chẳng hạn như:
- Vào năm 1118, sứ giả Chân Lạp đến Thăng Long, gặp lúc triều đình mở tiệc mừng xuân khánh thành 7 ngọn
Trang 18Bảo tháp, vua Lý sai hữu ty bày nghi trượng ở Điện Linh
Quang rồi dẫn sứ giả cùng xem.(9)
- Cũng vào thời này, một số dân Chân Lạp vì sợ nội
loạn đến xin cư trú ở Đại Việt, vua Lý ưng thuận
Ở nửa đầu nhà Lý, quan hệ ngoại thương giữa hai nước
cũng khá phát triển Thương cảng Vân Đồn (Quảng Ninh)
được mở rộng và thu hút khách thương từ nhiều nước tới đây
Vì thế người Chân Lạp cũng thường tới trao đổi các sản
phẩm của họ và đổi lấy các thổ sản, đồ dùng thông thường
như: chiếu thô, nồi đồng, mâm đồng, lược gỗ, kim khâu…
Trên lĩnh vực văn hóa: Thời Lý, các vua của ta đều
chuộng đạo Phật nên giao lưu văn hóa giữa hai nước thông
qua đạo Phật khá thịnh hành Các nhà sư vẫn thường được
cử đi cùng các sứ giả trong đoàn ngoại giao Thậm chí, vào
năm 1086, trong phái bộ ngoại giao của Chân Lạp sang
triều cống còn có cả hai người theo đạo Bàlamôn đi cùng
Tuy nhiên, không phải quan hệ giữa các vương triều
lúc nào cũng thuận thảo Do bị chi phối bởi áp lực của các
nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc, và quy luật canh tranh
quyền lực khốc liệt của thời trung đại, giữa hai nước không
tránh khỏi có những lúc bất hòa, thậm chí phải dụng binh
để giải quyết những bất đồng về quyền lợi Vào năm 1069,
Chân Lạp bị nhà Tống (Trung Quốc) xúi bẩy đã liên minh
với Tống, chống lại Đại Việt Để giữ vững biên giới phía
nam của mình nhà Lý buộc phải tấn công liên quân Chân
Lạp –Champa trước để tự vệ và đẩy lùi âm mưu thâm độc
của nhà Tống Dưới thời Harsavarman III (Vua chinh phục
9 Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Lý, quyển 3, tr.248-249
1066-1080), Chân Lạp nhiều lần mang quân tiến đánh Chămpa và vùng biển phía nam của Đại Việt Thời vua Suryavarman II (1113-1150), Chân LạÏp cũng đã 5 lần mang quân tiến đánh Đại Việt bằng đường bộ và đường biển Trong đó lần diễn ra vào năm 1128, Chân Lạp lấy cớ Đại Việt chứa chấp người Chiêm và người Chân Lạp lưu vong, đã cử tới 20.000 quân tấn công Đại Việt Năm sau (1129), Chân Lạp lại liên kết với Chămpa mang 700 chiến thuyền tấn công Thanh Hóa, v.v… Các trận tấn công còn tiếp diễn dưới thời Jayavarman VII, lôi kéo cả quân Miến Điện (Mianma) tham chiến
Đặc biệt, quan hệ Chân Lạp - Chămpa trong giai đoạn này rất xấu Chân Lạp từng chinh phục Chămpa trong nhiều năm (từ 1145-1149), thậm chí đưa cả hoàng thân Chân Lạp lên trực tiếp cai trị Chămpa Những việc làm đó mở đầu cho một cuộc chiến tranh kéo dài giữa hai nước, mà sử gọi là “chiến tranh trăm năm” (1113-1220) Hầu hết trong thời gian đó, Chân Lạp chiếm đóng và đô hộ Chămpa, ngoại trừ giai đoạn 1177-1181, Chăm Pa chiếm đóng và đô hộ được một phần Chân Lạp Đã có thời kỳ Chămpa bị biến thành một tỉnh của Chân Lạp (1203-1220)
Ở cuối thời Lý và sang thời Trần, Chân Lạp bước vào giai đoạn suy tàn, tình hình Chân Lạp ngày càng xấu đi và bị nước láng giềng Thái Lan thường xuyên gây áp lực và chiếm đất Bang giao Việt Nam-Chân Lạp tạm thời gián đoạn
Một nguyên nhân khác cũng không kém phần quan trọng làm đứt đoạn quan hệ giữa hai nước là cuộc xâm lược của quân đội Mông-Nguyên xuống phương Nam Đại Việt là tiêu điểm của cuộc đụng đầu này, đã dồn hết mọi khả năng và lực lượng cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Cuộc
Trang 19kháng chiến anh dũng của Đại Việt đã đẩy lùi 3 lần tấn công
của quân đội Mông Cổ và do vậy chẳng những Đại Việt giữ
vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình mà còn góp
phần bảo vệ vững chắc nền hòa bình của khu vực
b) Bang giao từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ
XIX
Từ thế kỷ XVI trở đi, mối quan hệ giữa hai nước được
thiết lập trở lại và ngày càng phát triển hơn trước Đây cũng
là thời kỳ người Việt bắt đầu di chuyển ngày càng đông vào
phía nam (Đàng trong) để tìm đất sống Trong quá trình tiến
về phương Nam mưu cầu cuộc sống, người Việt càng có dịp
tiếp xúc và gần gũi với lớp cư dân Khmer tại đây Đều là nạn
nhân của chế độ phong kiến, những lớp cư dân Việt - Khmer
đầu tiên đã dễ dàng tiếp nhận lẫn nhau Họ cùng chung lưng
đấu cật để vượt qua thử thách của thiên nhiên và những bất
công xã hội để tạo nên các làng mạc trù phú và ruộng vườn
tốt tươi Vì thế mà hình thành nên tình trạng cư trú xen cài
giữa hai cộng đồng cư dân trên vùng đất hạ lưu sông Mê
Kông Thông thường, người Việt có khả năng thích ứng cao
với các loại hình ruộng nước, sình lầy, nên tỏa xuống các vùng
trũng, ngập nước để canh tác Còn người Khmer tỏ ra thích
hợp với các vùng cao hơn, nên họ thường canh tác trên các gò,
giồng là chính
Quan hệ giữa Việt Nam và Chân Lạp thời họ Nguyễn
mở rộng quyền lực về phía Đàng trong là một mối quan hệ
mật thiết và được thể hiện trên nhiều lĩnh vực:
Chính trị – ngoại giao – quân sự:
Vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII xung đột giữa
các thế lực phong kiến ở Việt Nam diễn ra gay gắt Một
trong những thế lực ấy là họ Nguyễn (Nguyễn Hoàng) quyết định chọn đất Thuận Hóa làm nơi tập hợp lực lượng, chuẩn
bị cho những dự tính quyền lực lâu dài Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), con trai Nguyễn Hoàng, nối nghiệp Chúa đã xúc tiến mạnh mẽ mối quan hệ với các quốc gia láng giềng phía nam của mình
Cũng vào khoảng thời gian này, ở Chân Lạp, Chey Chettha II (1618-1628) lên ngôi Ông là người có ý thức khôi phục nền tự chủ cho Chân Lạp nên đã tìm đồng minh để chống lại vương triều Ayuthaya (Thái Lan) Bối cảnh lịch sử suy tàn của Chân Lạp đã đưa Chey Chettha II đến với Chúa Nguyễn và kể từ đây vai trò của Chúa Nguyễn bắt đầu xuất hiện ở Chân Lạp
Năm 1620 đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ giữa hai nước Vào năm này, Chey Chettha II chính thức cầu hôn với công chúa Ngọc Vạn (con gái Chúa Nguyễn Phúc Nguyên) Kinh đô của Chân Lạp cũng rời xa hơn nữa về phía đông và được đặt tại Uđông trên bờ Tônglêsáp Để giữ vững ngai vàng và tranh thủ sự giúp đỡ của Chúa Nguyễn về quân sự trong cuộc chiến chống lại phong kiến Xiêm, Chey Chettha II đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho dân Việt tiến sâu vào khai phá đất đai vùng đồng bằng sông Cửu Long - nơi từ trước vẫn thuộc quyền quản lý của Chân Lạp và được gọi dưới tên Chân Lạp miền nước (Thủy Chân Lạp)
Năm 1628, Chey Chettha II qua đời Chân Lạp càng suy yếu nghiêm trọng Các thế lực cầm quyền ở Chân Lạp lúc thì dựa vào phong kiến Xiêm, lúc lại cầu cứu Chúa Nguyễn để bảo vệ quyền lợi Do vậy các Chúa Nguyễn càng có điều kiện củng cố ảnh hưởng của mình với Chân Lạp
Trang 20Tuy vậy, vai trò chủ yếu của Chúa Nguyễn chỉ xuất hiện
trong những trường hợp cần thiết để hỗ trợ cho Chân Lạp,
đồng thời ngăn cản bớt tham vọng của phong kiến Xiêm
đối với Chân Lạp và khu vực Một số sự kiện tiêu biểu cho
vai trò này có thể kể đến như:
- Vào năm 1674, nội chiến giữa Nặc Ông Đài và Nặc
Ông Nộn diễn ra Chúa Nguyễn cử Cai cơ Nguyễõn
Dương Lâm sang giúp Ông Nộn lên ngôi và đặt Ông
Đài làm phó Vương
- Năm 1699, Nặc Ông Nộn nghe theo lời xúi bẩy của
phong kiến Xiêm, bỏ triều cống và đem quân chống
lại Chúa Nguyễn Tổng suất Nguyễn Hữu Cảnh phải
ra tay đánh dẹp
- Năm 1705, nội loạn diễn ra ở Chân Lạp, Chúa
Nguyễn phải giúp lập lại trật tự
- Năm 1753, lại giúp người Chăm Islam ở Chân Lạp
chống lại sự đàn áp của phong kiến Chân Lạp
- Năm 1813, đưa Nặc Ông Chân lên ngôi và giúp
thêm nhiều của cải
- Năm 1834: Bảo hộ cho triều đình của công chúa Ang
Mây (Ngọc Vân), v.v…
* Về kinh tế:
Có thể nói đây là một thời kỳ quan hệ kinh tế giữa
hai nước phát triển nhất Sự có mặt của người Việt ngày
càng đông ở Đàng trong đã khiến cho thực trạng vùng đồng
bằng sông Cửu Long thay đổi nhanh chóng: từ hoang vu,
rừng rậm chuyển thành đồng ruộng tươi tốt, xóm làng trù
mật Được thiên nhiên ưu đãi, lại được bàn tay lao động cần
cù sáng tạo của người Việt tác động vào nên chỉ trong một thời gian ngắn, kể từ cuối thế kỷ XVII, đồng bằng sông Cửu Long đã là một trung tâm kinh tế - chính trị lớn Hoạt động kinh tế, nhất là ngoại thương, trở nên nhộn nhịp, sầm uất, là nơi thu hút khách thương từ nhiều vùng đổ đến Việc buôn bán trên trục Gia Định – Nam Vang (Phnompênh) phát triển mạnh mẽ cả trên bộ, dưới thuyền Người Việt thường chở gạo, muối sang Nam Vang và mua về các lâm thổ sản và cá khô từ vùng biển Hồ Người Khmer thì tìm mua lương thực, muối và các đồ gia dụng cần thiết
Mặc dù nhà Nguyễn chủ trương “ức thương” bằng cách đặt các trạm kiểm soát, đánh thuế cao (thuế hàng hóa, thuế ghe thuyền, thuế sản vật…), quy định chặt chẽ các tuyến buôn bán, thậm chí quy định cả số lượng thương nhân trong một chuyến buôn … nhưng, việc buôn bán không vì thế mà hạn chế, trái lại nó vẫn phát triển ngày càng mạnh hơn
Ở những vùng cư trú xen cài, quan hệ kinh tế giữa hai khối cư dân trở nên tự nhiên, cần thiết Họ không chỉ trao đổi sản phẩm cho nhau mà còn học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau ngay trong quá trình sản xuất
*Về văn hóa – xã hội:
Nếu như trước đây người Khmer đã sớm biết chuyển hóa văn hóa biển Phù Nam để làm giàu thêm nền văn hóa của mình, thì ở giai đoạn này việc học hỏi, giao thoa về văn hóa càng có điều kiện để thúc đẩy hơn nữa Khi tiến về phương Nam người Việt mang theo mình văn hóa Thăng Long đã tích hợp từ ngàn năm trước, nhưng đồng thời cũng không ngừng tiếp thu thêm các giá trị văn hóa từ các nền văn hóa Chăm, Khmer Sự tiếp thu này thể hiện phong
Trang 21phú, đa dạng từ nghệ thuật xây dựng, điêu khắc, ca múa
nhạc cung đình và dân gian cho đến sự giao hoan trong tín
ngưỡng, phong tục, tập quán Ngược lại, qua quá trình
chung sống thuận hòa, người Khmer cũng có thêm những
kinh nghiệm mới trong việc xây dựng tổ chức chính quyền,
trong kinh nghiệm làm ruộng nước và nhiều vấn đề khác
nữa… Kể từ thế kỷ XVIII, mối quan hệ giữa hai khối cư dân
ngày thêm bền chặt, cơ sở của tình đoàn kết đó không chỉ
bắt nguồn từ cuộc sống, sản xuất gần gũi mà còn từ việc họ
đều có chung một kẻ thù giai cấp, đó là phong kiến họ
Nguyễn Ở giai đoạn thế kỷ XVIII, phải kể đến những mối
liên minh đoàn kết chiến đấu giữa nghĩa quân Tây Sơn với
nhân dân Chân Lạp Mối liên minh này được Thực Lục 10
phản ánh “Trong cuộc khởi nghĩa, Tây Sơn đã được các Ốc
nha (quan viên) Chân Lạp ủng hộ Năm 1872, khi Nguyễn
Ánh thua Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã cử sứ giả theo đường
Chân Lạp sang Xiêm cầu viện Người Chân Lạp theo Tây
Sơn đã giết chết toàn bộ đoàn sứ giả này” Một số Ốc nha
còn tình nguyện mang lực lượng theo Tây Sơn, cùng chiến
đấu chống lại Chúa Nguyễn Khi quân đội Chân Lạp được
huy động đi đánh Tây Sơn, có đội đã phản chiến
Bước sang giai đoạn đầu thế kỷ XIX, Chân Lạp suy
yếu nghiêm trọng phải dựa hẳn vào các vua Triều Nguyễn
Dưới thời kỳ trị vì của công chúa Ang Mây (1834 - 1847),
triều đình nhà Nguyễn đã can thiệp vào nội tình và thậm
chí còn trực tiếp điều hành (dưới hình thức bảo hộ) công
việc của vương quốc Chân Lạp Trên thực tế, nhà Nguyễn
đã sử dụng Chân Lạp như phên giậu để ngăn cản bớt tham
vọng bành trướng lãnh thổ của chủ nghĩa Đại Thái
10 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục
IV BANG GIAO VIỆT NAM – LÀO
1 Vài nét về đất nước Lào
Lào là một nước láng giềng phía Tây của Việt Nam Mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa hai nước đã sớm hình thành do yếu tố địa lý, cương vực: Hai nước có chung một dải biên giới dài kéo từ Hưng Hóa, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị
Thư tịch cổ Việt Nam chép: Lào là một nước giàu sản vật “nước này có tê, voi, sáp trắng, vải lông, chiêng đồng”,
“Phá Lào dệt bằng các sợi ngũ sắc sặc sỡ, rất tốt, còn thứ vải không có hoa, màu cũng tốt (vải trắng) nay nước Lào bán các thứ phá Lào cũng loại ấy…” 11
Cho đến trước thế kỷ XIII, miền hạ Lào vẫn bị chiếm đóng và thuộc quyền cai quản của các vương triều Chân Lạp trong khi đó ở miền Bắc (Thượng Lào), các thị tộc, bộ lạc Lào bắt đầu bước vào giai đoạn hình thành các tổ chức xã hội sơ khai, các Mường cổ
Đến giữa thế kỷ XIV, xã hội người Lào tương đối phát triển Ở miền Hạ Lào, vương quốc Chân Lạp ngày càng suy yếu và thu hẹp lãnh thổ Thêm vào đó, những điều kiện thuận lợi của tình hình quốc tế và khu vực đã tác động mạnh đến Lào, dẫn đến sự ra đời của nhà nước thống nhất, độc lập của người Lào: Nhà nước Lạn Xang dưới triều Vua Pha Ngừm
2 Mối bang giao Việt – Lào hình thành rất sớm và phát triển liên tục trong lịch sử
a Cơ sở của mối bang giao:
11 Lê Quý Đôn, Văn Đài Loại ngữ, Hà Nội, 1962, tr.155, 156, T.II
Trang 22- Cả hai nước đều có chung điều kiện địa lý mang tính
khu vực
- Có chung đường biên giới dài, nhân dân hai nước
sớm qua lại giao lưu như một thực thể khách quan
- Có chung một kẻ thù nguy hiểm là phong kiến
phương Bắc xâm lược Cả Lào và Việt Nam đều là cửa ngõ
của Đông Nam Á ở phía Đông, nên hai nước sớm hình
thành khối liên minh đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù
chung Những cơ sở này đã sớm hình thành nên mối quan
hệ gắn bó “như môi với răng” giữa hai nước Trong lịch sử,
mỗi khi một nước có nguy cơ chiến tranh hay gặp những
khó khăn lớn trong nội tình đất nước, đều tìm đến với nước
láng giềng của mình để nương tựa và tìm đồng minh nhằm
cứu nước hoặc phục hồi đất nước
b) Bang giao Việt – Lào
Sự kiện lịch sử ghi nhận mối quan hệ giữa hai nước,
được thu tịch cổ Việt Nam phản ánh sớm nhất là vào năm
550, khi nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế bị nhà Lương đàn
áp Lý Nam Đế phải chạy lên vùng Khuất Lạo, người anh
ruột của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo đã đến vùng Dĩ
Năng của người Lào lập căn cứ chống giặc và được nhân
dân Lào nhiệt tình giúp đỡ
Từ khi Đại Việt độc lập, triều Lý một mặt ổn định
mọi mặt trong nước, phát triển thực lực, mặt khác lo chuẩn
bị lực lượng chống Tống nên đặc biệt quan tâm đến vùng
biên cương phía Tây Việc ổn định biên giới Việt – Lào là
một trong những việc làm được nhà Lý coi trọng để bảo vệ
hậu phương
Dưới triều Lý, các tù trưởng Lào vẫn thường sang
triều cống: Ví như năm 1067, sứ Lào mang vàng, bạc, trầm
hương, sừng tê, ngà voi và một số đặc sản địa phương quý giá sang triều cống
Sang thời Trần: Đứng trước nguy cơ xâm lược của đế quốc Mông – Nguyên, liên minh Lào - Việt đã được củng cố Nhà Trần đặc biệt ý thức được tầm quan trọng của liên minh này
Năm 1335: Triều Trần bàn luận về các hoạt động biên cương ở phía Tây, Thượng hoàng nhà Trần đã nêu ý kiến: Lỡ ra giặc phương Bắc xâm lấn thì ta nhờ cậy vào đâu?12 Trước đó, các vua Trần cũng đều nhận rõ tầm quan trọng trong việc thiết lập khối liên minh với Lào, nên các vua Nhân Tôn, Anh Tôn, Minh Tôn và các tướng Phạm Ngũ Lão, Đoàn Nhữ Hài … đích thân tham gia việc này Việc làm của nhà Trần đã đặt cơ sở đầu tiên cho việc thiết lập hệ thống phòng thủ ở phía Tây Bắc và phía Tây nước ta, nhằm đối phó với phong kiến Trung Quốc
Khi nhà Trần suy yếu, nhà Hồ lên, các quý tộc nhà Trần đã chạy sang đất Lào để lánh nạn và chờ cơ hội phục hồi lại ngai vàng Nhân dân Lào đã che chở và bảo bọc họ Từ thế kỷ XIV, khi vương quốc Lạn Xang độc lập ra đời, trên cơ sở bang giao đã có từ trước giữa nhân dân hai nước, mối bang giao giữa hai nhà nước cũng nhanh chóng được thiết lập Các sứ giả của hai nước thường xuyên qua lại giao hảo Mối giao hảo thân thiện ngày càng trở nên gắn bó hơn khi cuộc xâm lượïc của nhà Minh xuống vùng này đang gần kề Hai nước đã cùng nhau sát cánh đương đầu với cuộc xâm lược đó
12 Theo Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần
Trang 23Đầu thế kỷ thứ XV, khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
bùng nổ, Lê Lợi đã cử các tướng thông thạo tiếng Lào sang
liên hệ với vua Lào để mua voi, lương thực, vũ khí của Lào
Vua Lào cùng nghĩa quân kết nghĩa giao hòa và giúp đỡ
nghĩa quân rất nhiều Trên thực tế quân dân Lào – Việt đã
cùng chiến đấu dũng cảm chống lại quân Minh Tuy ở
những năm 20 của thế kỷ này, quan hệ giữa hai bên có xấu
đi do sự xúi bẩy của nhà Minh và do phong kiến Thái dèm
pha, nhưng khi Lê Lợi lên ngôi, bang giao giữa hai nước lại
trở nên tốt đẹp Dưới thời Thao Thèng Khâm (1479-1489)
và Phaya Vi Xun (1507 – 1530), Lạn Xang phát triển và ổn
định, quan hệ với Việt Nam vì thế cũng rất bền vững
Đầu thế kỷ XVI, ở Việt Nam, Mạc Đăng Dung lật đổ
nhà Lê, lập ra triều Mạc Các quần thần của nhà Lê đã
chạy sang Lào và được vua Lào che chở, giúp đỡ Chính vua
Lê Duy Ninh cũng sang lánh nạn ở Lào, rồi lên ngôi vua ở
đây (Sầm Châu – Sâm Nưa) “Kỷ Sửu (1520) Mạc Minh Đức
năm thứ ba, Minh Gia Tĩnh năm thứ tám, khi ấy bọn
Thanh Hóa hữu vệ điện tiền tướng quân An Thành Hầu
Nguyễn Kim chạy sang Ai Lao, quốc vương ấy là Sạ Đẩu
cho là người nước có liên quan che chở lẫn nhau như môi
với răng, mới cấp cho đất và dân Sầm Châu để ở Từ đó
nuôi dưỡng quân lính, lập mưu khôi phục”13
Việc thắt chặt quan hệ hòa hiếu thông qua quan hệ hôn
nhân được xem là một biện pháp vô cùng quan trọng và cần
thiết giữa hai nước Năm 1564, vua Lạn Xang đã cử người
sang mang tặng phẩm và bốn con voi, lại xin cầu hôn công
chúa Ngọc Hoa Vua Lê bèn: “sai thái sư đem con gái nuôi gả
13 Toàn thư , tr 123, TTV, QIX, kỷ nhà Lê
cho để kết hòa hiếu với nước láng giềng” Mối nhân duyên này càng làm cho quan hệ giữa hai nước thêm bền đẹp Một đặc điểm lớn của vương quốc Lạn Xang là: nhà nước quân chủ được xây dựng trên cơ sở sức mạnh quân sự và yêu cầu chống ngoại xâm hơn là trên cơ sở một nền tảng thống nhất về kinh tế – xã hội Tính chất phân tán, biệt lập của nền kinh tế – xã hội và địa lý khiến giao lưu, trao đổi, giao thông khó khăn, thường hình thành các thế lực cát cứ địa phương Do vậy, từ cuối thế kỷ XVIII, Lào bị chia làm ba tiểu quốc: Viêng Chăn, Luông Pha Băng và Chăm
Pa Xắc Để duy trì quyền lợi của mình, các tiểu vương đã cấu kết với các thế lực bên ngoài: Việt Nam, Thái Lan và Campuchia Chính quyền Viêng Chăn đã nhận được sự giúp đỡ của các Chúa Nguyễn và Triều Nguyễn sau này
Khi phong trào Tây Sơn nổ ra và giành thắng lợi, vua Quang Trung là người nhìn xa trông rộng đã thấy rõ tầm quan trọng của mối đoàn kết Việt – Lào, nên đã cho sứ giả đến Trấn Ninh, Trịnh Cao, Quy Hợp và Viêng Chăn (là nơi tập đoàn Lê Duy Chỉ cấu kết với Lào nhằm phá hoại phong trào Tây Sơn) Vua Viêng Chăn (Châu Mẫn Thạ Xỗm) bị Xiêm bức bách đã bắt sứ giả giao cho Xiêm, còn trống, cờ, ấn tín thì đem nộp cho Nguyễn Ánh Được tin này Quang Trung đã cử vợ chồng Đốc Trấn Nghệ An Trần Quang Diệu mang 3 vạn quân đi dẹp phía Tây Đây là việc làm nhằm tự vệ, nhưng đã góp phần chặn đứng được sự bành trướng của Xiêm sang Lào Vì vậy cuộc hành quân này đã được nhân dân Lào ủng hộ và giúp đỡ
Sau khi Quang Trung mất, Lào bị áp lực của Xiêm – Nguyễn đã liên minh với họ để phản công Tây Sơn Đây chỉ
Trang 24là sự liên minh giữa các lực lượng phản động nhằm chống
lại lực lượng tiến bộ
Đầu thế kỷ XIX, Lào vẫn tiếp tục bị chia cắt và nằm
dưới sự thống trị của Xiêm Các Mường Lào thường có xu
hướng dựa vào Việt Nam để chống lại Xiêm nên thường
xuyên cử sứ giả đến Việt Nam Ví như năm 1802 Nam
Chưởng, Vạn Tượng và các mường phía Nam đều đến chúc
thọ Gia Long khi ông này lên ngôi
Năm 1805, vua Viêng Chăn là Châu A Nỗ vừa lên
ngôi đã sang đặt quan hệ ngoại giao với nhà Nguyễn Từ
năm 1805 đến 1824, để chuẩn bị lực lượng chống Xiêm,
Châu A Nỗ đã 8 lần cử sứ sang triều Nguyễn
Năm 1827, A Nỗ thất bại trước lực lượng của Xiêm,
các lực lượng Lào thân Nguyễn phải chạy đến Tam Động
(Nghệ An) và xin cứu viện Triều Nguyễn do dự trong việc
giúp A Nỗ nên đã bỏ lỡ một cơ hội liên minh với Lào để
đẩy lùi phong kiến Xiêm
Năm sau, được nhà Nguyễn giúp sức, A Nỗ về được
Viêng Chăn và đánh thắng quân Xiêm một trận lớn, nhưng
sau đó quân Xiêm và giới quý tộc miền Bắc Lào đã liên kết
phản công, cuộc khởi nghĩa của A Nỗ thất bại
3 Trên lĩnh vực kinh tế- văn hóa
Nhân dân Việt – Lào vốn có quan hệ khá khắng khít,
đặc biệt là ở các vùng biên giới Tại đây, các chợ biên giới
rất sầm uất: Tây Bắc (Hưng Hóa), thượng du Thanh Hóa,
Nghệ An, Quảng Trị… đặc biệt là ở phía tây Nghệ An: là
nơi người Lào thường mang trâu bò sang bán cho người
Việt, rồi đổi lấy đồ sắt mang về
Lê Quý Đôn đã từng mô tả phiên chợ biên giới sầm uất ở vùng Cam Lộ (Quảng Trị): Đây là nơi có đường đi thuận lợi sang các Mường Lào xuống miền xuôi của Việt, cho nên cứ đến phiên chợ, người Lào từ bên kia biên giới lùa trâu bò, chở lâm sản bằng voi sang đổi lấy mắm muối, cá khô, đồ sắt, nồi đồng của người Việt từ miền xuôi mang lên Đó là nơi thuận tiện cho việc trao đổi hàng hóa giữa miền xuôi và miền ngược, giữa người Việt và người Lào.14
Về văn hóa cũng có sự giao lưu khá đậm nét ở các vùng biên giới kể trên Lào là nơi có kho tàng truyện cổ tích dân gian phong phú, những câu truyện này cũng có thể tìm thấy những dị bản khác nhau ở vài nơi trên đất Việt hoặc ngược lại ở các thời kỳ quan hệ giữa hai nước tốt đẹp, vẫn thường xảy ra việc trao đổi văn hóa với nhau Một số quý tộc Lào vẫn được đưa sang Việt Nam để du học
V BANG GIAO VIỆT NAM - THÁI LAN
1 Thái Lan là một nước có lịch sử rất trẻ ở vùng
Đông Nam Á, thế nhưng trên lãnh thổ người Thái lại có dấu vết rất cổ xưa của con người
Cư dân trên khu vực Sê-Mun (Khò rạt), có lẽ chủ yếu là người Khmer Còn ở đồng bằng Mê-Nam là địa bàn cư trú của người Môn
Ở thời kỳ phát triển của Phù Nam, vùng hạ lưu sông Mê-Nam và một số điểm quần cư khác của người Môn đã bị lệ thuộc vào Phù Nam Thư tịch cổ Trung Quốc còn nhắc đến một trong số những nước phụ thuộc ấy có tên gọi là Xích Thổ (Đất Đỏ) Kết quả khảo cổ học cho biết cư dân
14 Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học Xã hội, q 4, tr 223
Trang 25vùng hạ lưu sông Mê-Nam đã đạt đến một trình độ khá cao
trong khu vực về nghề chế tạo gốm, đồ đồng thau … Họ có
trao đổi khá thường xuyên với cư dân vùng đồng bằng sông
Cửu Long qua đường biển và đã tiếp xúc với người Ấn Độ
cũng như chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ
Ở các thế kỷ VII và VIII, tài liệu Trung Quốc có nói
đến một quốc gia có tên là Tô-lô-pô-ti (Dvaravati) có lẽ tiền
thân của nó là Xích Thổ Một bộ phận Hoàng tộc của nước
này đã tham gia xây dựng nên nước Haripunjaya hùng
mạnh ở miền Bắc, tồn tại cho đến thế kỷ XII
Từ thế kỷ X đến thể kỷ XIII, đồng bằng Mê-Nam lệ
thuộc Campuchia Đây cũng là quá trình người Khmer tiến
hành đồng hóa người Môn một cách sâu sắc Một số còn lại
thì sau này khi người Thái đến đã dồn đẩy họ đi và hoàn
thành nốt tiến trình đồng hóa Người Thái là một bộ phận
thuộc nhóm tộc người nói tiếng Thái kađai, cư trú ở thượng
nguồn sông Mê-Kông và sông Hồng, giáp ranh giữa Trung
Quốc và Đông Nam Á Họ chính là chủ nhân của quốc gia
Nam Chiếu (Quy Nghĩa hay Đại Lý – Theo tài liệu Trung
Quốc) Ở thế kỷ IX-XII họ đã di cư về phương Nam sống xen
kẽ với cư dân bản địa và được gọi là người Xiêm (Đen) Họ
thực sự có mặt đông đúc ở Đông Nam Á vào thế kỷ XIII, khi
Mông Cổ tiêu diệt Nam Chiếu, và đặc biệt sống tập trung ở
lưu vực sông Mê Nam (Thái Lan ngày nay)
Vốn tính năng động, lối ứng xử mềm mỏng và uyển
chuyển, người Thái đã nhanh chóng kết hợp với cư dân bản
địa và dần dần trở thành tộc người giữ vị trí chủ đạo ở giai
đoạn thế kỷ XIII – XIV Một trong những thành thị lớn của
họ lúc này là Sukhothay đã giành lấy chính quyền và chinh
phục các bộ lạc lân cận Dưới thời Râma dũng sĩ (Râma
Khamheng), Sukhothay đã có quan hệ với nhiều nước trong khu vực: Campuchia, Miến Điện, Lào, Đại Việt và Trung Quốc
2 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan được sử sách ghi
chép sớm nhất vào thế kỷ XII và các thế kỷ sau đó Có lẽ là vào thời kỳ phát triển của Sukhothay và sau đó là Auythaya Quan hệ lúc này chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực thương mại: thuyền buôn của người Xiêm thường đến Vân Đồn buôn bán Bên cạnh thuyền buôn của khách Xiêm còn có cả thuyền buôn của nước Xiêm do triều đình cử đi.15
Cuối thế kỷ XIV, quan hệ Việt - Xiêm càng thêm thân hữu, chính sách của Sukhothay lúc này là tăng cường quan hệ với Đại Việt và Trung Quốc Ý đồ của Xiêm muốn liên kết với các quốc gia hùng mạnh và bí quyết ngoại giao của Xiêm trong giai đoạn này là dựa vào mối quan hệ thân thiện nhiều mặt với Trung Quốc, để tạo thực lực và uy tín, từ đó đưa Sukhothay thành một quốc gia thịnh vượng và lớn mạnh, đồng thời cũng thông qua đó để mở rộng lãnh thổ ra bên ngoài
Với Đại Việt, năm 1335, một phái bộ Xiêm đã đến tận Cửa Rào (Nghệ An) để đón vua Trần Hiến Tông nhân dịp nhà vua đi thị sát biên giới phía Tây
Từ thế kỷ XVI trở đi, mối quan hệ giữa Đại Việt – Xiêm ngày càng tiến triển phong phú và không kém phức tạp Tình hình này đã được ghi chép trong Đại Nam Thực Lục của quốc sử quán triều Nguyễn Đây cũng là thời kỳ họ
15 Sách Toàn thư cũng đã cho biết: Vào cuối thế kỷ XII, vua Xiêm đã sai sứ giả sang giao hiếu
Trang 26Nguyễn có quan hệ trực tiếp với chính quyền Xiêm Chúng
ta có thể thấy rõ mối liên hệ này trên các lĩnh vực sau đây:
• Về chính trị – quân sự: Trong các thế kỷ XVI –
XIX), quan hệ giữa hai nước trên lĩnh vực này diễn ra xoay
quanh việc khẳng định ảnh hưởng đối với Campuchia và
Lào Do việc Campuchia ngày càng suy yếu, vẫn thường tìm
đến nương tựa vào phong kiến Đại Việt và phong kiến
Xiêm Vì vậy nhiều cuộc dàn xếp chính trị , thậm chí đụng
độ quân sự đã diễn ra:
Năm 1750: Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cử
phái bộ ngoại giao mang thư sang triều đình Thái Lan, nội
dung trách cứ họ can thiệp vào nội bộ Chân Lạp
Năm 1755: Triều đình Xiêm cử phái bộ sang Đại
Việt điều đình về vấn đề buôn bán của thương nhân Thái
và xin giảm thuế
Năm 1771: Vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh (Phìa Tắc
Xỉn) tấn công trấn Hà Tiên của chúa Nguyễn, bắt nhóm
người Mạc Thiên Tứ và chiếm đóng Hà Tiên cho đến năm
1773
Năm 1780: Triều đình Xiêm đã giết phái bộ ngoại
giao cao cấp Nguyễn Ánh và nhóm người Mạc Thiên Tứ và
trục xuất người Việt sinh sống ở Băngcốc ra các vùng hẻo
lánh Thái độ và chính sách định cư đặc biệt với người Việt
sinh sống ở Thái Lan của phong kiến Xiêm được bắt đầu từ
đây
Năm 1781: Vua Xiêm cử hai anh em Chakri – Sôsi
tấn công Chân Lạp Vua Nặc Ấn cầu cứu Nguyễn Ánh, năm
1782 Nguyễn Ánh cử hai tướng Nguyễn Hữu Thụy và Hồ
Văn Lâm tiếp ứng Nhưng quân Nguyễn vừa đến La Bích
(Lovek) thì Chakri – Sôsi xin giảng hoà và kể từ đây quan hệ giữa hai nước bước sang giai đoạn mới
Kể từ năm 1784 đến giữa thế kỷ XIX: quan hệ giữa hai nước bớt căng thẳng và cả hai bên đều cố giữ thăng bằng trong quan hệ ở cấp độ ngoại giao:
Năm 1784: Nguyễn Ánh cầu cứu Xiêm chống lại
phong trào Tây Sơn Rama I đã giúp đỡ Nguyễn Ánh đem 5 vạn quân Xiêm kéo sang xâm lược nước ta và bị Tây Sơn đánh cho đại bại trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1785)
Năm 1802: Triều Nguyễn thiết lập Mối quan hệ giữa
nhà Nguyễn và Xiêm có phần khác trước: Xiêm với ý đồ bành trướng đã đem quân xâm lược Lào và Campuchia Nhà Nguyễn do không thể với tay sang phía Tây được nên cố giữ hòa hiếu với Xiêm, quan hệ ngoại giao cấp nhà nước được duy trì Năm 1807, nghi thức ngoại giao giữa hai nước được quy định Từ đó sứ giả hai bên thường qua lại trao đổi “quà tặng” và thăm hỏi khi có lễ tang, chúc tụng khi có tin mừng, hoặc lên ngôi… Tuy vậy, những khi mâu thuẫn lên cao, nhất là đối với vấn đề quyền lợi ở Chân Lạp, thì quan hệ ngoại giao ngay lập tức được thay thế bằng cách dụng binh
Chẳng hạn: Năm 1834, phong kiến Xiêm quấy rối Hà Tiên, Châu Đốc; năm 1839, sau khi xâm lược Lào và Campuchia, Xiêm đem quân xâm lấn Hà Tiên và một số vùng biên giới khác của Việt Nam Cuộc xâm phạm kéo dài mãi cho đến khi Thiệu Trị lên ngôi (1841) quân Xiêm mới gửi thư xin lui binh
Ở thời vua Thiệu Trị (1841 – 1847) quan hệ hai nước trở lại bình thường, do cả hai bên cùng muốn lập lại quan hệ như xưa và nhất là cùng bị áp lực của tư bản phương
Trang 27Tây Tuy nhiên, thân thiện mới chỉ là xu hướng, trên thực
tế sứ giả hai bên còn chưa qua lại với nhau
• Trên lĩnh vực kinh tế:
Quan hệ thương mại đã được thiết lập lâu đời giữa hai
nước Trước thế kỷ X, các quốc gia sơ kỳ của người Môn vẫn
lui tới vùng đồng bằng sông Cửu Long để buôn bán trao đổi
Khi các quốc gia Sukhôthay và Adutthaya thiết lập và
phát triển, người Thái có định hướng về phát triển thương
mại Bản thân thủ đô Adutthaya cũng là một trung tâm
kinh tế thương mại lớn của khu vực, do có vị trí điạ lý hết
sức thuận lợi (nằm trên vùng đồng bằng rộng lớn, phì
nhiêu, ở nơi hợp lưu của ba con sông: Chaophaya, Loburi và
Pasak, cách biển chừng 110 km) Các khách buôn trong khu
vực vẫn thường lui tới buôn bán tấp nập
Ở thời Lý - Trần, quan hệ buôn bán càng được mở
rộâng, khách Xiêm thường tới Vân Đồn để buôn bán Họ
thường mang các sản phẩm nông nghiệp, hồ tiêu, gỗ tếch,
đàn hương … sang buôn bán và mua về các sản phẩm được
làm ở Trung Quốc: lụa, gấm, ngọc, đồ sứ…
Khi họ Nguyễn chiếm Đàng trong, thương nhân Xiêm
thường đến đây để buôn bán lúa gạo, cau… Sử sách cho biết
nhà Nguyễn đánh thuế thương nhân Xiêm khá nặng
“Thuyền nhân Xiêm La lệ thuế đến là 2000 quan và
thuế về là 200 quan”16
Những năm thuộc thế kỷ XVIII, khi đất Đàng Trong
được mở mang hơn, thuyền buôn của Xiêm thường chở sắt,
diêm tiêu sang bán rồi mua tơ, luạ, gạo thóc, vải vóc mang
16 Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, quyển 4, tr.253
về Nhà Nguyễn qui định nếu thuyền buôn Xiêm có bán sắt, diêm tiêu thì mới được mua thổ sản về: “Năm 1797, chuẩn định thuyền buôn Xiêm La từ sau có sang buôn ở nước ta, hạng thuyền lớn phải chở 30.000 cân sắt, hạng trung bình 20.000 cân, hạng nhỏ 10.000 cân trở lên, còn diêm tiêu thì không kỳ nhiều hay ít, đến nộp vào quan, theo giá trả tiền, rồi mới cho đổi mua các sản vật, thổ nghiệp như: tơ, vải, nếu không thì cấm không cho chở”17
Nhiều khi, thương nhân Xiêm cũng dùng Việt Nam như trạm trung chuyển để đến các nước khác, đặc biệt là đến Trung Quốc và các nước ở biển Đông
Khi Xiêm - Nguyễn bắt tay với nhau để chống lại phong trào Tâây Sơn, quan hệ kinh tế giữa họ ngày càng gắn bó Nhiều năm Thái Lan mất mùa nhà Nguyễn đã bán gạo cho họ, đôi khi còn giúp đỡ họ mà không lấy tiền:
”Nõăm 1793, dân Xiêm La đói, xin mua gạo ở Kiên Giang, quản đạo Nguyễn Tiến Lương đem việc tâu lên, vua nói:
“Nước ta với Xiêm vốn có tình láng giềng tốt với nhau, dân Xiêm cũng như dân ta, sao nỡ thấy người đói mà không thương” bèn ra lệnh bán gạo”18
Năm 1827, dân Thái bị đói lớn, chạy sang đất Campuchia, nhà Nguyễn đã đem gạo muối giúp đỡ
VI – BANG GIAO VIỆT NAM – MIANMA (MIẾN ĐIỆN)
17 Đại Nam thực lục, sđd, tr.186
18 Đại Nam thực lục, sđd, tr.186
Trang 281 Mianma nằm ở phía Tây bán đảo Trung Ấn, ba mặt
Tây, Đông và Bắc đều bị núi cao hiểm trở bao bọc Cư dân
Mianma rất phức tạp, gồm nhiều thành phần dân tộc khác
nhau (trên 100 dân tộc) những tộc người lâu đời nhất là
Môn, Pyu và người Miến từ phiá Bắc xuống định cư
Hiện nay người ta còn biết rất ít về thời tiền sử của
Mianma, cũng như những hiểu biết về các quốc gia sơ kỳ ở
đây cũng rất mờ nhạt và được cho là ra đời khá muộn
Người ta đoán định rằng văn hóa Ấn Độ đến đây khá muộn
so với các vùng khác trong khu vực, những bằng chứng có
được cũng không sớm hơn thế kỷ VI
Từ thế kỷ VII đến thế kỷ X, các quốc gia sơ kỳ của
người Môn, người Pyu và người Miến đã được thành lập ở
miền Nam, Trung, Bắc Mianma
Nhưng một quốc gia thống nhất thực sự chỉ có từ thế
kỷ thứ X Theo biên niên sử Mianma, Anoratha là ông vua
đầu tiên đã sáng lập ra vương quốc Pagan thống nhất
Cho mãi đến thế kỷ XVIII, người Việt vẫn còn hiểu
biết rất ít về Mianma Tên Miến Điện chỉ xuất hiện lần
đầu tiên trong bộ biên niên sử của Quốc sử quán triều
Nguyễn “Đại Nam Thực Lục” và sau đó, trong Đại Nam
chính biên liệt truyện, phần các nước ngoài có ghi:
“Miến Điện xưa là nước Chu-Ba, từ thời Tống,
Nguyên, Minh, Thanh mới gọi là Miến Lại còn có tên
Phạ-ma, một tên nữa là Đại Man” Những ghi chép này đều có
được do ghi chép lại từ tài liệu Trung Quốc
2 Quan hệ Việt Nam – Mianma có lẽ đã thiết lập từ
rất sớm, nhưng đáng tiếc là không được phản ánh vào sách
vở Đến thời Nguyễn, việc ghi chép về đất nước này mới
được chú ý Theo đó ta được biết mối quan hệ giữa hai nước xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử là vào thời Tây Sơn Theo những ghi chép của Đại Nam chính biên liệt truyện, phần Mianma thì: “Khi nhà Tây Sơn thắng lợi, Nguyễn Huệ lên ngôi, Miến Điện đã qua đường Châu Hưng Hóa vào thông hiếu”
Bẵng đi một thời gian, mãi đến triều Minh Mạng (1823), quốc vương Mianma mới lại sai sứ giả sang đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Phái bộ này theo đường biển tới Gia Định, được Lê Văn Duyệt tiếp đãi chu đáo: hàng tháng đều được cấp tiền tiêu và gạo trắng để ăn Trong lần giao hiếu này, vua Mianma cũng gửi cho vua Minh Mạng một bức thư, nội dung cho biết: Họ muốn lập quan hệ với nhà Nguyễn từ thời Gia Long, đã hai lần sứ giả được cử đi, nhưng vì đường xá quá trắc trở nên không đến được, phải quay về Mục đích lần giao hiếu này Miến Điện muốn Việt Nam tuyệt giao với Thái Lan Song quan hệ Việt – Thái đang ở thế cân bằng, Triều Nguyễn không thể đáp ứng yêu cầu của Mianma Vì vậy chỉ hậu đãi sứ đoàn, gửi thư phúc đáp cho Quốc Vương Miến kèm theo tặng phẩm 23 cân quế,
100 tấm nhiễu vóc, lụa trắng và lụa mộc, 1000 cân đường Sáu năm sau, vào năm 1829, Mianma lại phái sứ giả sang Việt Nam thông hiếu Lần này, đích thân vua Minh Mạng đã sai người tiếp đón sứ bộ, lại cho người đi họa đồ đường sá đến Mianma
Năm Tân Mão (1831), người Mianma lại sai sứ sang Việt Nam xin thần thuộc và triều cống Vua Minh Mạng sai người tiếp đón nồng hậu và cấp tiền cho sứ giả sinh hoạt Khi sứ đoàn trở về lại phái một viên quản cơ đem quân hộ tống sứ thần trở về nước
Trang 29Đến năm Thiệu Trị thứ tư (1844), một phái bộ ngoại
giao gồm 28 người của Mianma một lần nữa lại đến Việt
Nam Phái bộ này cố gắng thuyết phục triều Nguyễn giúp
đỡ họ về quân sự và xin được thiết lập quan hệ thần thuộc
lâu dài Triều Nguyễn do không thể đáp ứng nhu cầu của
họ, nên lưu sứ giả lại Sơn Tây hậu đãi và hộ tống họ về
nước Kể từ đây, không thấy sứ giả Mianma sang ta nữa
Vả lại, vào thời điểm này, cả Việt Nam và Mianma đều bị
cuốn vào cơn lốc của cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược
của phương Tây, nên các mối bang giao đều tạm thời bị
gián đoạn
Tóm lại: Mối quan hệ giữa Việt Nam và Mianma mới
xuất hiện từ khoảng cuối thế kỷ XVIII, so với các nước khác
là khá muộn Nguyên nhân chủ yếu của sự muộn màng này
là do điều kiện địa lý xa xôi, cách trở, sự hiểu biết về nhau
còn nhiều hạn chế Mặc dù quan hệ giữa hai nước không
tiến triển lâu dài, nhưng nhìn chung đây là một mối quan
hệ thân thiện và hòa hiếu
VII BANG GIAO VIỆT NAM VỚI KHU VỰC CÁC NƯỚC
HẢI ĐẢO ĐÔNG NAM Á (INDONESIA, MALAYSIA,
PHILIPPIN)
1 Vài nét về các nước hải đảo
Quần đảo Indonesia đã được người nước ngoài biết
đến khá sớm Sử thi Ấn Độ (Ramayana) viết về hòn đảo
Java: “Hãy nghiên cứu kỹ về Javadvipura, một hòn đảo
gồm bảy vương quốc, hòn đảo vàng và bạc, đầy những chế
phẩm bằng vàng” Người Trung Quốc thì chép rất tỷ mỷ về
một quốc gia có tên là Palembang, nơi thịnh hành đạo
Phật, và nhiều quốc gia khác như: Java, Tarupura, Cantoni…
Chủ nhân của Indonesia là người Indonediên cổ (da đen, môi dày, tóc xoăn và cứng) Sau đó người Malayo – Polynediens ở Đông Nam Á đã di cư đến với quy mô lớn và giữ vai trò chủ yếu trong việc xây dựng nên các quốc gia dân tộc ở đây
Về Malaysia, Lương Thư của Trung Quốc có viết đến một nước có tên gọi là Đốn Tốn: “Đốn Tốn ở trên một bờ biển cao lởm chởm, đất rộng không quá 1000 hải lý, thủ đô cách biển 10 hải lý, có 5 tiểu vương đều thần thuộc Phù Nam Đốn Tốn ở phía Nam Phù Nam, Tây giáp Ấn Độ… Đất Đốn Tốn hình vòng cung chạy ra biển hơn 1000 hải lý”…
“Rất đông nhà buôn đến nước này để trao đổi hàng hoá, đó là một thị trường, nơi gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây Hàng ngày có tới hàng vạn người đến họp Những đồ vật lạ, hàng hóa quý, không thiếu thứ gì”… “Trong nước Đốn Tốn có hơn nghìn người Bàlamôn Ấn Độ, người Đốn Tốn tin theo tôn giáo của họ và gả con gái cho họ, nên có nhiều người Bàlamôn ở lại, không đi nơi khác Họ đọc sách Kinh Thiên Thần, dâng hương trong lư bạc, ngày đêm không ngớt”… 19
Chính qua những ghi chép của người nước ngoài mà người Việt đã biết đến các quốc gia láng giềng ở phía Nam của mình Ngoài ra cũng cần phải nhắc đến vai trò của các quốc gia cổ Phù Nam, Chămpa, những quốc gia đã từng có mối quan hệ gắn bó nhiều mặt với các nước hải đảo (như đã đề cập ở phần trên)
Tuy nhiên, do những hiểu biết không đầy đủ, và có phần sai lệch, nên khi viết về vùng đất này, thư tịch cổ của
19 Dẫn lại từ Lịch sử các nước Đông Nam Á, tập 1, sđd, tr 204-205
Trang 30ta đều gọi họ với tên gọi chung là người Java hay người
Nam Dương
2 Bang giao
Quan hệ giữa Việt Nam với các nước hải đảo có lẽ đã
được thiết lập khá sớm và chủ yếu là trên lĩnh vực thương
mại Trong mối quan hệ này phải kể đến vai trò rất quan
trọng của vương quốc Phù Nam và đặc biệt là nhà nước Chí
Tôn (Naravara) Người Ấn Độ có lẽ là người đặt cầu nối ban
đầu cho quan hệ này Đặc biệt việc buôn bán giữa Malaysia
với Chí Tôn và với Phù Nam rất phát đạt Người ta đã phát
hiện được những hiện vật bằng thiếc với khối lượng lớn và
nhiều kiểu dáng khác nhau và cho rằng thiếc này có nguồn
gốc từ Malaysia Một số nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra mối
liên hệ mật thiết giữa Chămpa với vùng đảo Philippin
Thông qua việc nghiên cứu mối tương đồng giữa các đồ gia
dụng làm từ chất liệu gốm ở Sa Huỳnh, Trà Kiệu (Việt
Nam) với gốm Kalanay (Philippin), họ cho rằng trước thế
kỷ X và tiếp diễn cho đến thế kỷ XIII, Chămpa gần như
đóng vai trò độc quyền trong quan hệ thương mại với
Philippin, và đã cung cấp cho Philippin những hàng hóa từ
đất liền để đổi lấy vàng từ nơi này phục vụ cho việc phát
triển của các vương triều Chămpa
Từ thế kỷ thứ X, việc buôn bán được mở rộng hơn khi
ở phía Bắc Việt Nam chính quyền phong kiến được xác lập
và củng cố Thương cảng Vân Đồn trở thành điểm thu hút
khách thương do vị trí thuận lợi (nằm trên bờ biển Đông,
lại tiếp giáp với Trung Quốc qua biển Nam Hải) Các quốc
gia hải đảo lúc này cũng bước vào thời kỳ phát triển, vì vậy
họ mong muốn thiết lập các mối quan hệ rộng rãi với các
nước trong khu vực “Kỷ tỵ năm thứ 10 (1149) Tống Thiện
Hưng năm thứ 19, mùa Xuân tháng hai Thuyền buôn ba nước Trảo Oa (Java), Lộ Lạc và Xiêm La vào Hải Đông, xin
ở lại buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hóa quý, dâng tiến sản vật địa phương”20
Năm 1348 (tháng 5) Java chính thức sai sứ sang nước
ta thông hiếu: “Mậu Tý, năm thứ 8 (1348) Nguyên Chính Chính năm thứ 8, mùa Hạ tháng 5, nước Đại Oa (Java) sang cống sản vật địa phương và chim vẹt đỏ biết nói” 21
Năm 1360, Java lại sai sứ bộ sang triều cống: Canh Tý, năm thứ 3 (1360) Nguyên Chính Chính năm thứ 20, mùa Đông tháng 10, thuyền buôn các nước Lộ Lạc, Trảo Oa, Xiêm La đến Vân Đồn buôn bán và tiến các vật lạ”.22
Java vào thế kỷ XV (thời kỳ Mojopahit) có quan hệ thương mại rộng rãi với các nước Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ… Mã Hoan, một sứ giả của Trung Quốc trong phái đoàn của Trịnh Hòa đến Java vào đầu thế kỷ XV, đã miêu tả… “Nhà của họ có lầu cao 3 – 4 trượng, có lát ván… nhà nào cũng có một cái kho xây bằng gạch cao 3 – 4 thước để giấu của riêng
Cũng như ở Java, vương quốc Malacca ở Malaysia vào thế kỷ XV cũng là một vương quốc thịnh vượng và hoạt động của nó chủ yếu trên lĩnh vực thương mại Malacca có lẽ là nơi duy nhất trên thế giới (vào thời kỳ này – thế kỷ XV) mà người ta có thể mua rất dễ dàng hàng hóa của Trung Quốc (đồ sứ, tơ lụa, gương tàu), Ấn Độ (ngọc, vải
20 Toàn thư, kỷ nhà Lý, sđd, tr 281
21 Toàn thư, kỷ nhà Trần, sđd, tr 152
22 Toàn thư, kỷ nhà Trần, sđd, tr 152
Trang 31bông), Java và Sumatra (thóc lúa, hành tỏi, vàng, hồ tiêu,
trâu bò, vũ khí), Tây Á và Châu Âu (hàng len) và các sản
phẩm địa phương của Đông Nam Á Ở đây có mặt các nhà
buôn của hầu hết các nước có mậu dịch trên biển: Ấn Độ, Ả
Rập, Ba Tư, Trung Quốc, Java, Sumatra, Miến Điện, Việt
Nam, Thái Lan … Nhiều nước lập quan hệ ngoại giao và các
thương điếm để giao dịch tại đây
Sang thế kỷ XVI, quan hệ giữa Việt Nam với các nước
hải đảo thưa dần Thỉnh thoảng, sứ giả Java cũng sang
triều cống Nguyên nhân của sự sa sút này là do sự can
thiệp của tư bản phương Tây vào Đông Nam Á, mà trước
hết là vào Malaysia và Indonesia
Từ thế kỷ XVII, khi thực dân Anh, Hà Lan, Tây Ban
Nha và Bồ Đào Nha lần lượt chiếm đóng các vùng hải đảo,
chế độ bảo hộ của tư bản phương Tây được dựng lên tại các
nước này Mối quan hệ giữa các nước Đông Nam Á xuất
hiện thêm các nhân tố mới Người Hà Lan sau khi củng cố
quyền lực ở Indonesia đã lập quan hệ với Chúa Trịnh (Đàng
ngoài – Việt Nam) Mối quan hệ này có lúc đã khá chặt chẽ
vì cả hai phía đều có những mưu đồ riêng Qua sự bắt tay
này, Chúa Trịnh đã cho phép người Hà Lan được lập
thương điếm ở Phố Hiến để buôn bán Trong số các mặt
hàng buôn bán, có rất nhiều hàng hóa có nguồn gốc từ
Indonesia
Ở Đàng trong, các Chúa Nguyễn lại thông qua người
Bồ để buôn bán với Malaysia các mặt hàng chính là vũ khí,
đạn dược
Khi triều Nguyễn tái xác lập vào thế kỷ XIX, quan hệ
buôn bán được đẩy mạnh hơn trước, các quan hệ khác nhờ
đó cũng được cải thiện – ví dụ như:
- Năm 1818, Triều đình Huế cho phép người Indonesia, người Hoa và người Khmer được phép khẩn hoang, lập ấp ở Châu Đốc, An Giang
- Từ năm 1834, Minh Mạng liên tục cử các thuyền lớn
đi đặt quan hệ buôn bán với các nước hải đảo, thậm chí với cả Cancutta (Ấn Độ) Tàu buôn Việt Nam thường mang đi gạo, tơ, hàng da, yến sào, vây cá, ngà voi, gỗ… Và mua về các hàng xa xỉ: ống nhòm, đồng hồ, rượu, tranh treo tường v.v… Tuy nhiên, mối quan hệ này không phải lúc nào cũng thân thiện Biên niên sử của nhà Nguyễn cũng chép khá nhiều các vụ xung đột giữa Đại Việt với Java, mà nguyên nhân hầu hết đều xuất phát từ phía Java và thường gọi họ là cướp biển Chà Và Các cuộc tấn công của quân Chà Và thường diễn ra ở các vùng ven biển theo định kỳ gió nồm hàng năm:
- Đinh Mùi 767 (Đường Đại Tôn Dư, đại lịch năm thứ 2), nước Côn Lôn, Chà Và đến cướp, đánh lấy Châu Thành Kinh lược sứ Trương Bá Nghi cầu cứu với đô úy Châu Vũ Định là Cao Chính Bình Quân cứu viện đến, đánh tan quân Côn Lôn và quân Chà Và ở Chu Diên Bá Nghi đắp lại La Thành”.23
- Canh Dần năm thứ 5 (1770): “Bọn lính trốn ở Hà Tiên là Phan Lam họp Đảng ở Hương Úc, Cần Bột cùng với người Chà Và là Vang Ly Ma Lư và người Chân Lạp là Ốc Nha Kế, hợp quân hơn 800 người và 15 chiếc thuyền chia đường thủy bộ đánh úp Hà Tiên…”24
23 Toàn thư, ngoại kỷ, T1, tr 150
24 Đại Nam Thực Lục, Sđd, T1, tr 238
Trang 32- Nhâm Tý năm thứ 13 (1792) “Giặc Chà Và lên đến
bãi biển Hà Tiên, sai bảo hộ Nguyễn Văn Nhàn đem quân
đánh dẹp…”25
- Đinh Sửu, Gia Long thứ 16 (1817), “giặc biển Chà Và
thường nương tựa các cù lao thuộc Hà Tiên để đón cướp
thuyền buôn…”26
v.v…
VIII MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ MỐI BANG GIAO VIỆT NAM –
ĐÔNG NAM Á THỜI CỔ – TRUNG ĐẠI
1 Khái quát tiến trình thiết lập bang giao
Việt Nam là một nước ở Đông Nam Á Mối quan hệ
giữa Việt Nam với các dân tộc và các quốc gia trong khu
vực Đông Nam Á vì thế là một tất yếu
Những kết quả nghiên cứu của các bộ môn cơ bản và
của ngành khoa học nhân văn trong suốt hơn một thế kỷ
qua, kể từ khi việc nghiên cứu về Đông Nam Á được các
nhà Đông Phương học của thế giới đặt ra hồi cuối thế kỷ
XIX, đã cho phép chúng ta khẳng định rằng: Đông Nam Á
là một khu vực lịch sử – văn hóa, một chỉnh thể được sản
sinh trong một môi trường và kiều kiện lịch sử cụ thể: có
chung một không gian địa lý, một cội nguồn văn hóa, một
hệ thống giá trị và cùng chung một thân phận lịch sử
Chính những yếu tố chung đó là cơ sở, nền tảng cho sự
thiết lập các mối quan hệ về nhiều mặt giữa các dân tộc và
25 Đại Nam Thực Lục, Sđd, T2, tr 209
26 Đại Nam Thực Lục, Sđd, T4, tr 334
các quốc gia trong khu vực Bang giao Việt Nam – Đông nam Á cũng đã được thiết lập trên nền tảng đó
Mối bang giao giữa Việt Nam với các dân tộc và quốc gia ở Đông Nam Á có lẽ đã được thiết lập từ rất sớm, có thể trước cả khi có sự ra đời của các nhà nước sơ kỳ ở Đông Nam Á Ở thời cổ – trung đại chúng ta thấy rõ mối bang giao này diễn theo bốn thời kỳ chính:
Thời kỳ thứ nhất: Tương ứng với thời đại đồng thau
và sắt sớm mà ta vẫn quen gọi là thời đại Đông Sơn theo phân kỳ khảo cổ học – được xem là thời kỳ mở ra những mối liên hệ ban đầu của cư dân Đông Nam Á Trên nền tảng “cái nôi của loài người”, ở thời kỳ này, Đông Nam Á đã là một khu vực có nhiều dân tốc sinh sống Tuy có khác nhau về thành phần tộc người và khác nhau về ngôn ngữ, song hầu hết cư dân Đông Nam Á đều ít nhiều có quan hệ gần gũi với nhau bởi cùng mang trong mình những yếu tố chung về mặt nhân chủng (Tiểu chủng Mogoloid phương Nam hay tiểu chủng Đông Nam Á, như cách gọi của một số nhà nghiên cứu gần đây) Đặc biệt, trên lĩnh vực văn hóa, các nhà nghiên cứu đều thống nhất trong nhận định: Ở thời kỳ này, cư dân Đông Nam Á đã có một cuộc sống ổn định trên cơ sở nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước với một phức thể gồm ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng và văn hóa biển Và trong nếp sống của từng vùng đã diễn ra quá trình phát tán, hội tụ văn hóa với thế đan xen phức tạp và xu thế của nó là hội tụ sau bao giờ cũng cao hơn hội tụ trước về không gian và chất lượng Kết quả là làm định hình nên những truyền thống chung và riêng, tạo nên nét đặc trưng lớn của văn hóa Đông Nam Á “Thống nhất trong dị biệt” Trong bối cảnh chung đó, người Việt ở
Trang 33đồng bằng sông Hồng với kỹ thuật làm ruộng nước thuần
thục và kỹ thuật đúc đồng tinh xảo, đóng một vai trò hết
sức quan trọng trong việc tỏa sáng văn hóa Đông Sơn ra
toàn miền Sự có mặt của trống đồng Đông Sơn trên nhiều
vùng lãnh thổ ở Đông Nam Á là một bằng chứng sống động
của mối liên hệ ban đầu ấy
Thời kỳ thứ hai: Được đánh dấu bằng sự tự khẳng
định mình của các dân tộc ở Đông Nam Á thông qua việc
cho ra đời hàng hoạt các nhà nước sơ kỳ ở những thế kỷ
trước và đầu công nguyên, Nhà nước Văn Lang của người
Việt ở đồng bằng sông Hồng vào hạ bán thiên niên kỷ thứ
nhất trước công nguyên, Nhà nước Phù Nam ở cuối thể kỷ I
công nguyên, Nhà nước Lâm Ấp vào năm 192; và một số
nhà nước khác ở khu vực hải đảo như Langkasuka,
Palembang, Malayo… Điều này chứng tỏ sự trưởng thành
vượt bậc trong ý thức dân tộc và một khát vọng về một xã
hội có thể chế của cư dân Đông Nam Á Cũng chính ở giai
đoạn này, Đông Nam Á được đặt trước một bối cảnh lịch sử
mới có tác động rất lớn đến sự chuyển mình của các dân
tộc ở đây Đó là sự xâm nhập của văn hóa Ấn Độ và văn
hóa Hán Để có thể giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
riêng của mình, chống lại sự đồng hóa của các nền văn hóa
Ấn, Hoa, các dân tộc Đông Nam Á đã bước vào một cuộc
đấu tranh sôi động trên toàn miền để dựng nước và giữ
nước Các dân tộc ở phía Nam đã tiếp thu thêm các yếu tố
văn hóa Ấn Độ để xây dựng và hoàn thiện tổ chức xã hội
của mình và các dân tộc phía Bắc (chủ yếu là người Việt) do
phải đương đầu với các cuộc xâm lăng từ phương Bắc xuống
nên đã phần nào tiếp thu văn hóa Hán Mối bang giao giữa
Việt Nam và các nước Đông Nam Á do vậy được củng cố và
phát triển hơn bởi sứ mệnh lịch sử chung và được nâng lên
ở trình độ mới: Quan hệ ở cấp độ nhà nước
Thời kỳ thứ ba được gắn liền với cuộc đấu tranh lâu
dài và anh dũng của nhân dân Việt Nam chống phong kiến phương Bắc xâm lược và thống trị Đây là giai đoạn Việt Nam bị phong kiến phương Bắc đô hộ trong suốt hơn 10 thế kỷ, do vậy bang giao giữa Việt Nam và Đông Nam Á diễn
ra có phần khác với các giai đoạn trước Trên phương diện bang giao cấp nhà nước, các thế lực phong kiến phương Bắc đã tiến hành một đường lối bang giao có tính chất bất bình đẳng với các dân tộc và quốc gia khác ở Đông Nam Á bằng nhiều thủ đoạn khác khau Còn về phía nhân dân, mối bang giao về cơ bản vẫn không có gì thay đổi mà trái lại càng thêm thắt chặt do cùng có chung một kẻ thù là phong kiến phương Bắc xâm lược Chính ở thời kỳ này, nhân dân Đông Nam Á đã sát cánh bên nhau thành nên các liên minh đoàn kết chiến đấu mà điển hình nhất là liên minh đoàn kết chiến đấu giữa các dân tộc Việt – Lào – Chăm – Khmer chống lại phong kiến nhà Đường vào năm 722 dưới sự lãnh đạo của Mai Thúc Loan
Thời kỳ thứ tư (Từ thế kỷ thứ X đến giữa thế kỷ
XIX) được xem là thời kỳ đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của các quốc gia Đông Nam Á Nhiều quốc gia dân tộc đã ra đời ở các thế kỷ IX, X như: Ăngko, Đại Việt… và các thế kỷ tiếp sau đó như Sukhothay, Lạn Xang, Pagan, Mojopahit… Sự ra đời của các quốc gia dân tộc đã mở ra một kỷ nguyên mới cho toàn miền Đông Nam Á: Kỷ nguyên độc lập dân tộc Đây cũng chính là giai đoạn các quốc gia ở Đông nam Á bước vào thời kỳ “phục hưng” nền văn hóa của
Trang 34mình trên cơ sở sự khẳng định chính mình, khẳng định ý
thức dân tộc
Có thể nói ở giai đoạn này, mối bang giao Việt Nam –
Đông Nam Á phát triển hơn bao giờ hết Bước ra khỏi đêm
trường Bắc thuộc, Việt Nam có điều kiện hòa mình vào với
đại gia đình Đông Nam Á, vì thế, mối bang giao được
nhanh chóng thiết lập trên nhiều lĩnh vực Đặc biệt, với tư
cách một quốc gia độc lập và phát triển, Việt Nam đã chủ
động thiết lập quan hệ ngoại giao (thông qua các sứ đoàn)
với hầu hết các nước trong khu vực và theo đuổi một đường
lối bang giao hòa hiếu, thân thiện với tất cả các nước
Do vị trí chiến lược quan trọng về địa lý và kinh tế
của khu vực Đông Nam Á, nơi đây vốn là chiếc cầu nối giữa
phương Đông và phương Tây, là kho hương liệu lớn vào bậc
nhất của thế giới, nên nó cũng sớm trở thành nơi thu hút
sự chú ý của giới thương nhân và giới cầm quyền từ các khu
vực khác trên thế giới Vào thế kỷ XIII, Đông Nam Á đã
phải đối đầu với một đế chế hùng mạnh nhất thế giới lúc
bấy giờ là đế quốc Nguyên, định âm mưu mở rộng chiến
tranh, bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á hòng làm
bá chủ luồng thương mại trên biển Đông và làm chủ kho
nguyên liệu và hương liệu giàu có ở đây Việt Nam là tiêu
điểm của cuộc đụng đầu đó, không những đã dám đánh mà
còn đánh thắng cả ba lần tấn công xâm lược của nhà
Nguyên Chiến thắng của nhân dân Việt Nam đã đập tan ý
chí xâm lược của nhà Nguyên và một lần nữa góp phần duy
trì và giữ gìn nền hòa bình của khu vực Đông Nam Á
Từ thế kỷ XVI, Đông Nam Á lại bị đặt trước một thử
thách mới: Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây
Kể từ đây, vận mệnh của các nước Đông Nam Á lại có dịp
gắn bó với nhau trong cuộc đấu tranh gìn giữ nền độc lập và bản sắc văn hóa của mình Nhân dân Việt Nam một lần nữa lại sát cánh cùng các dân tộc anh em trong một mặt trận chung chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân xâm lược
2 Những đặc điểm chủ yếu của bang giao Việt Nam – Đông Nam Á thời cổ – trung đại
Từ sự phát triển có tính liên tục của mối quan hệ quốc tế nhiều mặt như trên, có thể khái quát nên một số đặc điểm chủ yếu của mối bang giao Việt Nam – Đông Nam Á ở thời cổ – trung đại như sau:
a) Bang giao Việt Nam – Đông Nam Á là mối bang giao
đã được hình thành từ rất sớm trong lịch sử Những tư liệu ghi chép về mối bang giao này tuy còn ít ỏi, song với hàng loạt các hiện vật khảo cổ học và những mối liên hệ gần gũi về mặt dân tộc học, đã chứng minh rằng tại khu vực này vốn đã có mối liên hệ thường xuyên Việc trao đổi và học hỏi nhau diễn ra từ rất sớm, có lẽ ít nhất cũng vào cuối thời đại đồ đá, đầu thời đại đồ đồng Đến giai đoạn đồng thau và sắt sớm, việc trao đổi đã diễn ra khá thường xuyên Nền tảng của những mối liên hệ này được xây dựng trên những yếu tố chung của khu vực về địa lý, lịch sử và văn hóa Không những xuất hiện sớm, mối bang giao Việt Nam – Đông Nam Á còn phát triển liên tục trong suốt tiến trình lịch sử, trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế… Chắc chắn cho đến thế kỷ thứ X, mối bang giao này đã rất phát triển, Việt Nam đã thiết lập được quan hệ ngoại giao ở cấp nhà nước với nhiều quốc gia trong khu vực Sự có mặt thường xuyên, nhộn nhịp của các sứ đoàn các nước tại Việt Nam và ngược lại đã góp phần
Trang 35tăng cường thêm sự hiểu biết lẫn nhau tạo ra sự gần
gũi gắn bó hơn giữa các nước trong khu vực
b) Việt Nam là một nước ở Đông Nam Á, mối quan hệ
giữa Việt Nam với các dân tộc và quốc gia trong khu
vực, do đó, là một tất yếu lịch sử Nhân dân Việt Nam
bao giờ cũng mong muốn thiết lập mối giao hảo thân
thiện với tất cả các nước láng giềng của mình Vì thế,
nhìn chung mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam với
nhân dân các nước bao giờ cũng diễn ra tốt đẹp Ở vị
trí tiền đồn, cửa ngõ phía Đông của Đông Nam Á, Việt
Nam nhiều phen phải đương đầu với các thế lực ngoại
xâm và bao giờ cũng chiến thắng vẻ vang Thắng lợi đó
của nhân dân Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào
việc duy trì và gìn giữ nền hòa bình của Đông Nam Á
Một điểm nổi bật mà ta dễ nhận thấy ở thời cổ – trung
đại là mối bang giao Việt Nam – Đông Nam Á không
phải lúc nào cũng thuận thảo, mà có lúc thuận hòa, có
lúc thù nghịch Song sự bất đồng thù nghịch chỉ có tính
chất tạm thời và phần nhiều là do chính sách của các
vương triều phong kiến gây ra khi có mâu thuẫn về
quyền lợi chính trị hoặc kinh tế Điều này cũng rất tự
nhiên vì nó phù hợp với bản chất của giai cấp phong
kiến Việc giai cấp phong kiến tiến hành các cuộc chiến
tranh cướp bóc lẫn nhau là điều không thể tránh được ở
thời trung đại Nhân dân trong vùng, dù bị đẩy vào các
cuộc chiến tranh nhưng không phải lúc nào họ cũng sẵn
sàng đứng về phía giai cấp thống trị mà thường là nếu
vương triều nào tiến bộ có quan hệ tốt với nhân dân các
nước láng giềng thì được họ ủng hộ và ngược lại Đặc
biệt, ở Đông Nam Á, dù quan hệ giữa các nước có lúc
thân thiện có lúc thù nghịch, nhưng tuyệt nhiên ở đây
không bao giờ có mối hằn thù về dân tộc hay tôn giáo Đây là một truyền thống tốt đẹp đã trở thành định hướng của sự phát triển trong vùng
c) Ở thời cổ – trung đại, Việt Nam đã có mối bang giao
với tất cả các nước trong khu vực, thiết lập ngoại giao với tất cả các vương triều ở các nước lúc bấy giờ Tuy nhiên, việc thiết lập bang giao với các nước làng giềng bao giờ cũng được xem xét chu đáo, kỹ lưỡng nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của quốc gia Với các nước láng giềng gần, bao giờ các vương triều phong kiến Việt Nam cũng có hẳn một chính sách đối ngoại và xây dựng một đường lối ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo trên nhiều lĩnh vực Nhưng với các nước xa xôi cách trở về địa lý như Mianma hay các nước vùng hải đảo, việc thiết lập quan hệ có phần muộn hơn và có lúc chỉ có quan hệ kinh tế diễn ra Nguyên nhân là do sự cách trở về địa lý khiến sự hiểu biết về nhau còn chưa nhiều, chưa đầy đủ Mặc dù vậy, nguyên tắc cao nhất mà các vương triều phong kiến Việt Nam theo đuổi vẫn là đảm bảo tính thân thiện, hoà hiếu với các nước xung quanh, đặc biệt là các nước láng giềng, trên cơ sở tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau Đây là nguyên tắc được hình thành sớm và có sự nhất quán trong suốt tiến trình lịch sử cổ trung đại
Câu hỏi ôn tập
1 Bang giao Việt Nam – Chân Lạp trước thế kỷ XVI?
2 Bang giao Việt Nam – Chân Lạp từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX?
3 Bang giao Việt Nam – Lào ở thời trung đại?
Trang 364 Bang giao Việt Nam – Thái Lan trên lĩnh vực chính trị
– quân sự ở các thế kỷ XVI – XVIII?
5 Bang giao Việt Nam – Mianma và Việt Nam – các nước
hải đảo thời trung đại?
6 Khái quát tiến trình bang giao Việt Nam – Đông Nam
Á thời cổ – trung đại
7 Trình bày những đặc điểm bang giao Việt Nam – Đông
Nam Á thời cổ – trung đại
TÀI LIỆU THAM KHẢO – Chương 2
1 Trương Hữu Quýnh (chủ biên), (1997) - Đại cương lịch sử
Việt Nam tập 1, NXB giáo dục
2 Trần Thị Mai (1997) - Lịch sử bang giao Việt Nam – Đông
Nam Á, Tủ sách Đại học Mở - Bán công TP.HCM
3 Phan Lạc Tuyên (1993) - Lịch sử bang giao Việt Nam –Đông
Nam Á (trước CN – thế kỉ XIX ), Bộ giáo dục và đào tạo - Viện
đào tạo mở rộng khoa ĐNÁ học
4 Nguyễn Lương Bích (2003) - Lược sử ngoại giao Việt Nam
các thời trước, NXB QĐND Hà Nội
5 Lưu Văn Lợi (2000.) - Ngoại giao Đại Việt NXB CA ND , Hà
Nội
6 D.G.E.Hall Lịch sử Đông nam Á – Nhà xuất bản chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1997
7 Huỳnh Văn Tòng : “Lịch sử Malaysia, Singapore và Brunei”
Tủ sách Khoa Đông Nam Á Học, Đại Học Mở – Bán công
TP.HCM , 1993
8 Huỳnh Văn Tòng : “Lịch sử Indonesia”, Khoa Đông Nam Á
Học, Đại Học Mở – Bán công TP.HCM, 1992
9 Huỳnh Văn Tòng : “Lịch sử Thailand” Khoa Đông Nam Á
Học, Đại Học Mở – Bán công TP.HCM, 1993
10 Hoàng Văn Thái – Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào – Campuchia, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1983
11 Lương Ninh – Hà Bích Liên : “Lịch sử các nước Đông Nam Á” tập I – Khoa Đông Nam Á Học, Đại Học Mở - Bán công TP.HCM, 1994
12 Lưu Văn Lợi – Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945 –
1995, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 1998
13 Lê Quý Đôn : Phủ biên tạp lục, Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội 1977
14 Nguyễn Lệ Thi :”Thu tịch cổ Việt Nam viết về các nước Đông Nam Á”, UBKHXH Việt Nam, Ban Đông Nam Á Hà Nội 1997
15 Nguyễn Tương Lai (chủ biên) – Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm 90, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001
16 Nguyễn Quốc Lộc “Dân tộc học các nước Đông Nam Á” Khoa Đông Nam Á Học, Đại Học Mở – Bán công TP.HCM,
1993
17 Nguyễn Quốc Lộc (Chủ biên), Đông Nam Á ngày nay số 1 (1992) – số 2 (1993) – số 3 (1995) – Khoa Đông Nam Á Học – Đại Học Mở – Bán công TP.HCM
CHƯƠNG III
BANG GIAO VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á
THỜI CẬN ĐẠI (1858 – 1945)
Trang 37I ĐÔNG NAM Á TRƯỚC SỰ XÂM NHẬP CỦA CHỦ NGHĨA
TƯ BẢN PHƯƠNG TÂY
Từ thế kỷ XVI cho đến giữa thế kỷ XX, lịch sử Đông
Nam Á bị đặt trước một thử thách mới: sự xâm nhập của
chủ nghĩa tư bản phương Tây Nếu như ở giai đoạn trước, cư
dân Đông Nam Á với bản lĩnh văn hóa riêng của mình đã
biết tiếp thu một cách chọn lọc những tinh hoa văn hóa từ
các nền văn hóa lớn Ấn Độ và Trung Quốc để không ngừng
đổi mới và nâng cao mình lên, thì ở giai đoạn sau này (giai
đoạn từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XX), họ lại có dịp cọ
xát với văn hóa phương Tây, để từ đó chắt lọc lấy những gì
tinh túy, hòng bồi bổ thêm nền văn hóa của mình, đồng
thời cũng là để tiếp thêm sức mạnh chống lại mọi sự thao
túng của chủ nghĩa tư bản phương Tây, bảo vệ nền độc lập
và nền văn hóa của mình
Trên đại thể, sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản
phương Tây vào Đông Nam Á có thể chia ra làm ba giai
đoạn như sau:
1 Giai đoạn thứ nhất (khoảng thế kỷ XVI)
Đối với người phương Tây, thị trường tơ lụa và hương
liệu ở Á Đông từ lâu vẫn có một sức hút mạnh mẽ, thúc
giục họ tìm ra những con đường ngắn nhất để có thể đến
được với miền đất vàng này Từ thế kỷ XVI, dựa vào những
kết quả lớn lao của công cuộc đại phát kiến địa lý, các nước
tư bản phương Tây đã có thêm những điều kiện thuận lợi
mới và họ đã có dịp để thực hiện sự bành trướng thế lực
của mình
Tuy nhiên, ở thế kỷ XVI, hoạt động của người Châu
Âu chủ yếu chỉ mới diễn ra ở vùng ngoại vi Đông Nam Á
Mục tiêu của họ là nhằm tìm kiếm một số bàn đạp chốt ở những hải đảo có vị trí chiến lược về địa lý và thương mại
Đi đầu trong cuộc tìm kiếm này là các nước: Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha
* Bồ Đào Nha:
Ngay từ cuối thời trung cổ, Bồ Đào Nha đã đóng vai trò lãnh đạo Châu Âu trong những cố gắng khai thác thương trường ở Ấn Độ Dương Từ thế kỷ XV, họ bành trướng thế lực và tiến hành giành giật độc quyền buôn bán hương liệu ở khu vực Ấn Độ Dương với các thương gia Ấn Độ, Ả Rập Năm 1509, trong một cuộc đụng độ lớn với liên quân Ấn Độ - Ai Cập ở Điu, quân Bồ Đào Nha thắng lợi lớn Từ đó, người Bồ Đào Nha tung hoành ở khu vực Ấn Độ Dương Họ tha hồ đi lại, buôn bán và cướp bóc ở vùng biển này Đặc biệt khi họ phát hiện ra rằng: phần lớn hương liệu và gia vị mà từ trước các thương nhân Ấn Độ và Ả Rập vẫn cung cấp cho họ đều có nguồn gốc từ Đông Nam Á, thì quyết tâm chinh phục Đông Nam Á trở nên quyết liệt đối với Bồ Đào Nha Năm 1510, quyết tâm này được thể hiện bằng cuộc tiến chiếm đất Goa (Ấn Độ) và năm sau (1511) từ Goa, Bồ Đào Nha tiến đánh Malaca – cửa ngõ vào Đông Nam Á, mở đầu cho quá trình xâm chiếm thực dân toàn khu vực Đông Nam Á
* Tây Ban Nha:
Cùng có một tham vọng chung giống như Bồ Đào Nha, người Tây Ban Nha cũng ráo riết tìm đường đến Đông Nam
Á Đầu thế kỷ XVI, được che đậy bằng hình thức hoạt động thương mại, người Tây Ban Nha đã có mặt ở đồng bằng Pasig (Philippin) Đến năm 1542, người Tây Ban Nha về cơ
Trang 38bản đã chiếm đóng được quần đảo này và đặt cho nó tên gọi
Philippin – như ngày nay chúng ta vẫn gọi
Từ bàn đạp Philippin, tháng 2-1565, người Tây Ban
Nha đổ bộ lên đảo Cebu Năm năm sau (vào năm 1570), họ
tiến chiếm Manila và sau đó tuyên bố Manila là đất của
Tây Ban Nha vào ngày 24/6/1571 và đặt tổng hành dinh
của chế độ thực dân Tây Ban Nha lên vùng đất Philippin
2 Giai đoạn thứ hai (từ khoảng thế kỷ XVII đến
đầu thế kỷ XIX
Đây là giai đoạn chủ nghĩa tư bản phương Tây thâm
nhập sâu hơn vào Đông Nam Á Cùng với Bồ Đào Nha và
Tây Ban Nha, thực dân Hà Lan, Anh, Pháp cũng xúc tiến
mạnh mẽ quá trình xâm chiếm thuộc địa ở Đông Nam Á
Trên quần đảo Indonesia, thông qua công ty Đông Ấn
Hà Lan (V.O.C), người Hà Lan đã đặt được bản doanh của
họ ở Basttavia Ý đồ của Hà Lan là thiết lập cho được một
trung tâm thương mãi lớn tại Battavia để vươn tới kiểm
soát toàn diện mặt biển Để thực hiện ý đồ này, trong các
thập niên 20 và 30 của thế kỷ XVII, người Hà Lan đã
chinh phục phần lớn phần phía đông và trung Java, kiểm
soát hầu như toàn bộ vịnh Belgal Đồng thời, Hà Lan cũng
từng bước thâm nhập vào thị trường các nước thuộc khu vực
bán đảo Đông Dương, Mianma và Thái Lan Cho đến giữa
thế kỷ XVII, hệ thống thương điếm của Hà Lan đã có mặt ở
các quốc gia Thái Lan, Mianma, Lào, Campuchia, Việt
Nam… Bên cạnh hoạt động thương mãi, người Hà Lan cũng
không ngần ngại trong việc cấu kết với các thế lực chính trị
ở các nước mà họ thiết lập quan hệ hòng can thiệp sâu hơn
vào công việc nội bộ của các nước này Chẳng hạn như: vào
năm 1630, họ đã gửi chiến thuyền giúp chính quyền Prasat Tong (Thái Lan) tiến hành cuộc chiến tranh với người Campuchia và chống lại người Bồ Đào Nha Cũng tương tự như vậy, người Hà Lan đã giúp đỡ súng ống, đạn dược, chiến thuyền và thậm chí cả quân đội cho chúa Trịnh (ở Việt Nam) trong cuộc chiến tranh giữa hai dòng họ Trịnh – Nguyễn
Ở Malaysia, vào những thập niên đầu của thế kỷ XVII, Hà Lan và Anh cũng bắt đầu xâm nhập vào vùng cấm địa của người Bồ Những năm 1740-1741, bằng cuộc bắt tay chính trị giữa Hà Lan và chính quyền bản địa ở Malaysia, người Bồ Đào Nha đã bị đẩy bật ra khỏi Malacca Cùng từ đó, Hà Lan chính thức thiết lập chế độ thực dân của mình lên vùng bán đảo này
Song, mặc dù chiếm được Malacca, nhưng người Hà Lan lại không muốn tiếp tục phát triển Malacca như người Bồ Đào Nha mà họ chủ yếu tập trung vào Battavia Malacca
do đó chìm dần vào quên lãng Tình trạng này là một cơ hội tốt để Anh can thiệp vào Malaysia Năm 1807, Anh từ Ấn Độ đã vươn tới Malacca, tàn phá thương cảng này thêm một lần nữa, và sau đó quay sang thiết lập cơ sở của họ ở Singapo vào năm 1819, đồng thời xúc tiến quá trình xâm lược toàn bộ Malaysia
Tại Thái Lan, ở các thế kỷ XVII, XVIII, cả Hà Lan, Anh, Pháp, đều đã đặt được các thương điếm của mình thông qua các công ty Đông Ấn Thái Lan có quan hệ khá mật thiết với Hà Lan (như đã nói tới ở trên đây) Thái Lan cũng thiết lập quan hệ buôn bán khá phát đạt với Anh Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XVIII, bước sang đầu thế kỷ XIX (khi Anh đã giành được những thắng lợi quyết định trong công
Trang 39cuộc xâm lược Mianma), phía triều đình Thái Lan đã từng
bước nhượng bộ Anh và người Anh được phép triển khai
hoạt động buôn bán của mình trên đất Thái Lan ngày càng
mạnh hơn
Tình hình trên cũng diễn ra tương tự ở các nước Đông
Dương và Mianma Thông qua hoạt động thương mại của
các công ty Đông Ấn và sự tích cực của các nhà truyền giáo,
các nước phương Tây đang ráo riết chuẩn bị cho bước quyết
định: xâm lược bằng quân sự vào các nước Đông Nam Á,
biến các nước này thành thuộc địa của thực dân phương
Tây
3 Giai đoạn thứ ba (thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX)
Ở giai đoạn này, Châu Âu đang có được những thuận
lợi hết sức căn bản: sự phát triển mạnh mẽ của khoa học -
kỹ thuật và việc rút ngắn con đường biển từ Châu Âu sang
Đông Nam Á thông qua việc hoàn thành công trình đào
kênh Suéz (1859-1869) Vì vậy, các nước thực dân bị cuốn
vào cơn lốc của cuộc chạy đua tìm kiếm thị trường và nguồn
nguyên liệu phục vụ cho sự phát triển của ngành công
nghiệp Trong cuộc chạy đua nước rút này, Tây Ban Nha đã
chiếm lĩnh được Philippin (1542-1896), Bồ Đào Nha và Hà
Lan tranh nhau chiếm giữ các đảo ở Indonesia, Anh nhảy
vào Mianma (tháng 11/1885, Mianma trở thành thuộc địa
của Anh), Thái Lan cũng buộc phải ký với Anh hiệp ước bất
bình đẳng đầu tiên vào ngày 18/4/1855, tiếp đó là hàng loạt
hiệp ước bất bình đẳng ký với Pháp, Đức, Mỹ … nhượng cho
các nước này một số quyền lợi của Thái Lan
Tại Đông Dương, thực dân Pháp mở rộng xâm lược ra
toàn bán đảo, cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương
diễn ra vô cùng quyết liệt, nhưng cuối cùng cũng bị thất bại và thực dân Pháp đã thiết lập được ách đô hộ của chúng ở
ba nước Đông Dương vào nửa cuối thế kỷ XIX Như vậy là cho đến nửa cuối thế kỷ XIX, hầu hết các nước Đông Nam
Á đã dần dần bị biến thành các nước thuộc địa hoặc lệ thuộc vào các nước tư bản phương Tây Chủ nghĩa thực dân (cũ) ra đời Kể từ đây cho đến năm 1945, nhân dân Đông Nam Á đứng trước một sứ mệnh cao cả mà lịch sử giao phó: tiến hành đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành lại nền độc lập, tự do cho dân tộc về mọi mặt
II CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM – ĐÔNG NAM Á THỜI CẬN ĐẠI (1858-1945)
Cho đến cuối thế kỷ XIX, công cuộc xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây đã cơ bản hoàn tất Không một lãnh thổ nào ở Đông Nam Á không bị biến thành thuộc địa hay phụ thuộc Sứ mệnh lịch sử của nhân dân Đông Nam Á lúc này là tiến hành đấu tranh lật đổ ách đô hộ của đế quốc, khôi phục nền độc lập cho đất nước
Do cùng có chung sứ mệnh lịch sử nên quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực cũng hướng vào mục tiêu trên, nhằm tập hợp lực lượng, tạo thêm sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ cao cả mà lịch sử giao phó
Nhìn chung, ở thời cận đại, quan hệ giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á có thể chia làm hai thời kỳ lớn như sau:
1 Thời kỳ thứ nhất (từ 1858 cho đến trước năm 1930)
Thời kỳ này được bắt đầu với sự bùng nổ của hàng loạt phong trào kháng chiến của nhân dân các nước chống xâm
Trang 40lược như: phong trào kháng Pháp của nhân dân Việt Nam
dưới sự lãnh đạo của Trương Định, Thủ Khoa Huân…; phong
trào đấu tranh của nhân dân Campuchia dưới ngọn cờ của
Hoàng thân Asoa, Pucombô…, phong trào đấu tranh của nhân
dân Mianma chống thực dân Anh dưới màu sắc Phật giáo
Các phong trào đấu tranh cũng diễn ra sôi nổi ở các nước
Indonesia, Malaysia …, đặc biệt là ở Philippin Cuộc khởi
nghĩa năm 1896 của nhân dân Philippin dưới sự lãnh đạo
của Hôxê Ridan và Bônê Phaxiô được coi như một sự kiện nổi
bật trong khu vực lúc bấy giờ Tính nổi bật của cuộc khởi
nghĩa này không chỉ ở chỗ nó đã đấu tranh quyết liệt không
khoan nhượng với thực dân Tây Ban Nha, mà còn ở chỗ, lần
đầu tiên, một phong trào đấu tranh ở Đông Nam Á đã vượt
qua ý tưởng phục hồi vương triều phong kiến hướng mục tiêu
đấu tranh vào việc giành độc lập tự do, xây dựng xã hội bình
đẳng, phát triển công thương nghiệp, mở mang giáo dục,
phục hồi văn hóa dân tộc Tức là lần đầu tiên ở một nước
Đông Nam Á đã xuất hiện một phong trào đấu tranh mang
tính chất dân chủ tư sản Đây là một yếu tố rất mới trong
phong trào đấu tranh chống thực dân ở Đông Nam Á hồi cuối
thế kể XIX
Sang đầu thế kỷ XX, Đông Nam Á bắt đầu tiếp nhận
những luồng gió mới từ các nước ngoài khu vực vào: công
cuộc duy tân của Minh Trị ở Nhật, cuộc cách mạng Tân Hợi
ở Trung Quốc (1911) và cao trào đấu tranh của nhân dân
Ấn Độ (1905-1908) Tuy các phong trào trên có sắc thái rất
khác nhau song đều có chung một cốt lõi: khơi dâïy ý thức
dân tộc và truyền bá tinh thần dân chủ Điều đó đã có tác
động mạnh mẽ đến Đông Nam Á, khơi dậy ở đây một
không khí chính trị sôi động “làm nảy sinh nhiều hình
thức hoạt động với nội dung mới Đó là sự xuất hiện các
học hội hay trường học như Đông Kinh nghĩa thục ở Việt Nam, Budi Utômô ở Indonesia…, việc xuất bản nhiều sách báo nhằm du nhập tư tưởng mới, giới thiệu văn hóa mới và truyền bá nền giáo dục mới chứa đựng tinh thần yêu nước,
ý thức phục hưng dân tộc, khuyến khích phát triển doanh nghiệp và tiếp thu khoa học kỹ thuật mới Nhiều tổ chức chính trị ra đời như “Hội thương nhân Hồi giáo” sau là
“Hiệp hội Hồi giáo” ở Indonesia, “Hội thanh niên Phật giáo Miến Điện”, phong trào cải cách tôn giáo “Kaum muda” ở Malaysia, Duy Tân hội và Quang phục hội ở Việt Nam… Những hoạt động trên thu hút đông đảo thanh niên, trí thức và những người yêu nước tham gia, tuy chưa đạt được nhiều thành tựu cụ thể, nhưng là hồi chuông thức tỉnh, khơi dậy ý chí quật cường dân tộc, hướng về độc lập dân chủ Mục tiêu chung ấy đã đoàn kết mọi lực lượng yêu nước chống đế quốc và chống phong kiến”27
Năm 1917, cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thành công ở Nga Sự kiện này đã có ảnh hưởng lớn lao đến khu vực Đông Nam Á Một số nhà yêu nước ở Đông Nam Á đã tìm thấy từ tư tưởng của Cách mạng Tháng Mười, từ tư tưởng của V.I Lênin những vấn đề về quyền bình đẳng các dân tộc, về quyền lợi của nhân dân lao động… Từ ánh sáng của chủ nghĩa Lênin, các nhà yêu nước ở Đông Nam Á đã mạnh dạn bước theo con đường đấu tranh của Cách mạng Tháng Mười, đi theo lý tưởng cộng sản Kết quả là từ năm
1920, các đảng cộng sản đã được thiết lập: Tháng 5/1920, Đảng Cộng sản Indonesia – đảng cộng sản đầu tiên trong khu vực đã được thiết lập; tháng 2/1930, Đảng Cộng sản
27 Vũ Dương Ninh – Nhìn lại nửa thế kỷ đấu tranh giành độc lập ở Đông Nam Á (1896-1945) Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/1992, tr 3