Tài liệu Chuyện người con gái Nam Xương của chương trình Ngữ văn 9 được biên soạn đầy đủ nhất với tác giả, tác phẩm, nghệ thuật và nội dung. Phân tích các chi tiết trong truyện đầy đủ. Ngoài ra còn có các đề trọng tâm để các bạn tham khảo và có giải đầy đủ, chi tiết. Riêng phần bài văn chỉ cần liên kết các ý với nhau để trở thành một bài văn hoàn chỉnh
Trang 1CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
I Hệ thống kiến thức cơ bản
1 Tác giả
- Chưa rõ năm sinh, năm mất; quê ở Hải Dương
- Ông sống ở thế kỉ XVI, là thời kì triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền binhsm gây ra các cuộc nội chiến kéo dài
- Ông là người học rộng, tài cao, luôn mơ ước về một xã hội có kỉ cương, nề nếp; ông có nhân cách trong sạch, thanh cao
- Trí thức yêu nước, một nhân cách lớn
- Tài năng, có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học
2 Tác phẩm
* Thể loại: Truyện truyền kì Đây là thể loại thường mô phỏng cốt truyện dân gian; bằng tài
năng, sự sáng tạo, các tác giả đã sắp xếp lại các tình tiết rồi xen vào yếu tố kì ảo
* Xuất xứ:
- Tác phẩm: Tập truyện Truyền kì mạn lục viết bằng chữ Hán, gồm 20 truyện, được đánh giá là
tác phẩm mở đầu và mẫu mực của sáng tác truyện truyền kì trong văn học trung đại
- Văn bản Truyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16 trong tập truyện trên, truyện kể dựa theo truyện cổ tích Vợ chàng Trương được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian.
* Bố cục:
- Phần 1: Từ đầu đến “lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”: Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và
Vũ Nương, sự xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách
- Phần 2: Tiếp đến “những việc trót qua rồi”: Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương.
- Phần 3: Còn lại: Cuộc gặp gỡ giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động Linh Phi Vũ Nương được giải oan
*Tóm tắt văn bản:
Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là người con gái quê ở Nam Xương tình tình thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp Lấy chồng chưa được bao lâu thì chồng nàng (Trương Sinh) đi lính Ở nhà, nàng một mình vừa nuôi con thơ (bé Đản) vừa chăm sóc mẹ chồng đau ốm, rồi lo ma chay chu đáo khi mẹ qua đời Để dỗ con, tối tối, nàng thường trỏ bóng mình trên vách mà bảo đó là cha Đản Khi trở
về, nghe lời con thơ nói về chiếc bóng, nghi ngờ vợ thất tiết, Trương Sinh mắng nhiếc, đánh đuổi nàng đi Vũ Nương thanh minh không được, uất ức khấn nguyện rồi gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn; được thần Rùa Linh Phi và các tiên nữ cứu Một thời gian sau, Trương Sinh
Trang 2mới biết vợ bị oan Ở thủy cung, nàng gặp Phan Lang, người cùng làng với nàng chết đuối, vì có
ơn nên được Linh Phi cứu Khi Phan Lang trở về, Vũ Nương nhờ gửi chiếc thoa vàng nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng Trương Sinh nghe theo, Vũ Nương hiện về, ẩn hiện giữa dòng, nói lời tạ từ rồi biến mất
* Giá trị:
- Nội dung:
+ Phản ánh chân thực số phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến
+ Tố cáo xã hội phong kiến bất công
+ Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ
=> Giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc
- Nghệ thuật:
+ Cốt truyện hấp dẫn, chặt chẽ
+ Sử dụng thành công yếu tố kì ảo
+ Xây dựng chi tiết nghệ thuật độc đáo, có ý nghĩa sâu sắc
=> Mẫu mực của thể loại truyền kì
* Ý nghĩa nhan đề:
“Truyền kì mạn lục” bao gồm 20 truyện Đa số các chuyện đều được bắt đầu bằng chữ
“chuyện” hay “câu chuyện” và “Chuyện người con gái Nam Xương” cũng vậy Nhưng đây không phải là một yếu tố thừa mà qua đó người đọc hiểu được đây là câu chuyện kể về một người con gái ở Nam Xương Đưa cụm từ “người con gái” lên nhan đề của tác phẩm, Nguyễn Dữ muốn cho người đọc thấy được nhân vật trung tâm của truyện là một người phụ nữ
Tuy nhiên, nhà văn lại đặt một cách phiếm chỉ “người con gái Nam Xương” chứ không phải là
“Chuyện người con gái Vũ Nương” hay “Chuyện người con gái Vũ Thị Thiết” nhằm khẳng định đây không phải là câu chuyện của riêng Vũ Nương Mà còn là câu chuyện chung của những người phụ nữ trong xã hội xưa Cuộc đời của nàng Vũ Nương chỉ là đại diện cho những người phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ Qua nhân vật này, nhà văn cũng gửi gắm những giá trị nhân đạo cao quý Đầu tiên là sự trân trọng đối với những ước mơ chính đáng, khát vọng cao đẹp như: khát vọng được hạnh phúc, ước mơ về sự công bằng trong xã hội Tiếp theo là niềm xót thương, cảm thông sâu sắc của tác giả đối với số phận của người phụ nữ Không chỉ vậy, nhà văn cũng lên án, phê phán, tố cáo xã hội phong kiến đã chà đạp lên quyền sống của con người Cuối cùng
là lời khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Quả là một nhan đề có tính khái quát cao
II Một số vấn đề cần lưu ý
1 Nhân vật Vũ Nương
Trang 31.1 Vũ Nương trước khi tự vẫn
a Phẩm hạnh của Vũ Nương
* Đối với chồng, Vũ Nương là người vợ thủy chung, hết lòng yêu thương chồng, đảm đang
và giàu đức hi sinh.
- Trước khi chồng đi lính:
+ Là người con gái thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp
+ Biết giữ gìn khuôn phép, xử sự khéo léo để giữ gìn hạnh phúc
- Khi tiễn chồng đi lính: Biết chồng sắp đầu quân ra trận ở nơi biển ải xa xôi, Vũ Nuong rót chén rượu đầy tiễn chồng, bày tỏ tình yêu thương chồng qua những lời đằm thắm thiết tha
+ Ân cần, dặn dò, không chông ming vinh hiển: “Chàng đi chuyến xe này, thiếp chẳng dám
mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày trở về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”.
+ Chỉ cầu mong cho chồng được bình an trở về
+ Cảm thông, thấy hiểu trước nỗi vất vả, gian lao của chồng: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc
khôn lường giặc cuồng còn lẩn lutsm quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có mà mùa dưa chin quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng”.
+ Thể hiện nỗi khắc khoải nhớ mong: “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải
xa, trông liễu rủ bãi hoang lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có như tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng”.
- Khi xa chồng:
+ Luôn hướng tới chồng với tâm trạng khắc khoải, buồn nhớ: “Mỗi khi bướm lượn đầy vườn,
mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”.
+ Thủy chung chờ chồng, một lòng sắt son “cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết”.
+ Thay chồng gánh vác mọi việc gia đình: tận tụy chăm sóc mẹ già và nuôi dạy con thơ
+ Chi tiết cái bóng: Vừa thể hiện nỗi khắc khoải nhớ thương, vừa khẳng định tình nghĩa vợ chồng như hình với bóng
=> Vũ Nương là người vợ hết lòng yêu thương chồng, mong ước hạnh phúc gia đình bình dị, cảm thông với nỗi vất vả của chồng, giàu đức hi sinh
* Đối với mẹ chồng, Vũ Nương là người con dâu hiếu thảo.
- Khi mẹ chồng còn sống: Thay chồng chăm sóc mẹ chồng ân cần, chu đáo
- Khi mẹ chồng ốm: Hết lòng thuốc thang, lễ bái thần phật
- Lời trăng trối của mẹ chồng: Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời Mẹ không phải không muốn đợi
chồng con về, mà không gắng ăn miếng cơm miếng cháo đặng cùng vui sum họp Song, làm
Trang 4tham vô cùng mà vận trời khó tránh Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con Chồng con nơi xa xôi không biết sống chết thế nào không thể về đền ơn được Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.
=> Xưa nay, mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu chẳng mấy khi thuận hòa, đặc biệt trong xã hội
xưa Cách đối xử của Vũ Nương với mẹ chồng như vậy, người đọc càng thấy rõ hơn “tính thùy
mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp” của nàng.
* Đối với con, nàng là người mẹ hiền, luôn chăm sóc con chu đáo.
- Một mình sinh con, nuôi dạy con
- Luôn bù đắp sự thiếu vắng tình cảm người cha cho con bằng việc chỉ chiếc bóng trên trường và bảo đó là cha Đản, mang đến cho con một không khí gia đình đầm ấm
* Đối với hàng xóm, Vũ Nương hiện lên là người biết cách cư xử, được mọi người kính trọng,
yêu quý Vì thế, khi Trương Sinh ghe tuông, Vũ Nương bày tỏ lòng mình thì “họ hàng làng xóm
bênh vực và biện bạch cho nàng”.
* Vũ Nương còn là người trọng danh dự, nhân phẩm
- Khi chồng trở về, Vũ Nương bị chồng nghi oan:
+ Nàng vẫn thể hiện sự thủy chung và niềm khát khao hạnh phúc gia đình bình dị Nàng cố gắng phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình Nàng thể hiện sự đoan trang, đúng mực trong lời lẽ
giải thích nhẹ nhàng, từ tốn: “Thiếp vốn dĩ con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu Sum họp chưa
thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh Cách biết ba năm, giữ gìn một tiết Tô son điểm phấn từng đã nguôi trong lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bến gót Đâu có sự mất hết hư thân như lời chàng nói Xin chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”
+ Nàng bày tỏ nỗi thất vọng khi không hiểu vì sao bị đối xử tàn nhẫn, bất công và không thể tự bảo vệ mình dù có những lời biện bạch, thanh minh của hàng xóm láng giếng Tình cảm thủy chung, yêu thương dành cho chồng đã được phủ nhận không thương tiếc khiến nàng đau đớn
trước “cảnh bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết
bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa”
+ Thất vọng đến tột cùng, cuộc hôn nhân đã đến độ không thể nào hàn gắn nổi Vũ Nương đành
mượn dòng nước con sông quê hương để giãi tỏ tấm lòng trong trắng của mình, nàng “tắm gội
sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng: Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”.
- Hành động tự vẫn của Vũ Nưng là hành động quyết liệt để bảo toàn danh dự Trong hành động
ất có nỗi tuyệt vọng, đắng cay nhưng cũng có sự chỉ đạo của lí trí
Trang 5=> Vũ Nương là người phụ nữ nết na, hiền thục, đảm đang, tháo vát, hiếu thảo, thủy chung giàu lòng yêu thương và đức hi sinh, có lòng tự trọng cao Nàng là hiện thân cho những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống
b Số phân đau khổ, bất hạnh của Vũ Nương
- Chuyện oan khuất xảy ra sau ba năm, Trương Sinh đi lính trở về Chàng cùng con thăm mộ mẹ,
ở chi tiết này, xuất hiện lời nói ngây thơ của bé Đản: “Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông
lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít” Khi chàng gạn hỏi, người con nói
tiếp: “Trước kia thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”
- Hành động và thái độ của Trương Sinh: đinh ninh là vợ hư, nghi ngờ ngày càng sâu, la um lên cho hả giận, mắc nhếc, đuổi đi
- Nguyên nhân dẫn đến cái chết của Vũ Nương:
+ Trực tiếp: là sự cả ghen, mù quang của Trương Sinh; là lời nói ngây thơ, vô tình của con dại; là
sự bất lực, tuyệt vọng của Vũ Nương
+ Gián tiếp:
Lễ giáo phong kiến hà khắc: Thái độ khin thường phụ nữ và uy quyền tối thượng có tính chất quyết định của người đàn ông trong gia đình Trương Sinh độc đoán, gia trưởng, ghen tuông không cho Vũ Nương cơ hội để giải thích Cách hành xử của Trương Sinh đối với vợ là cách hành xử của xã hội phong kiến coi rẻ và chà đạp lên thân phận, nhân phẩm của người phụ nữ Trương Sinh là con đẻ của chế độ “trọng nam khinh nữ”
Chiến tranh phi nghĩa: Vợ chồng đang sống hòa thuận phải chia lìa dẫn đến hiểu nhầm
Cuộc hôn nhân không môn đăng hậu đối: Trương Sinh nhà giàu, Vũ Nương là con kẻ khó, đồng tiền làm bạc thói đời, khiến nàng bị coi rẻ
=> Lời nói của đứa con vô tình trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của người mẹ, nói lên số phận mong manh của con người, tai họa và oan khất có thể ấp đến bất cứ lúc nào và vì bất cứ lí do gì
- Chi tiết cái bóng: Xuất hiện hai lần, gián tiết có ý nghĩa thắt nút, đẩy câu chuyện lên cao trào; lần hai xuất hiện trực tiếp có ý nghĩa mở nút, nỗi oan Vũ Nương được sáng tỏ Đây là một chi tiết nghệ thuật giàu ý nghĩa: vừa tạo sức kịch tính cho câu chuyện, vừa góp phần xây dựng nhân vật và quan trọng hơn, góp phần tạo nên giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc cho cả thiên truyện
1.2 Vũ Nương sau khi tư vẫn
* Những yếu tố kì ảo: Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa; Phan Lang lạc vào động của Linh Phi,
được đãi tiệc yến và gặp Vũ Nương, người cùng làng đã chết, rồi được sứ giả của Linh Phi rẽ nước đưa về dương thế; hình ảnh Vũ Nương hiện ra sau khi Trương Sinh lập đàn tràng giải oan
cho nàng ở bến Hoàng Giang, lung linh, huyền ảo, với “kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có
Trang 6đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện”, rồi bỗng chốc
“bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”
* Tình tiết kì ảo ở cuối truyện có tác dụng:
- Tạo yếu tố kì ảo, làm tăng sức hấp dẫn cho câu truyện
- Thỏa mãn nhu cầu tâm lí của nhân dân: ở hiền gặp lành
- Thể hiện ước mơ, khát vọng về cuộc sống công bằng, hạnh phúc
- Đặc biệt, hoàn chỉnh thêm tính cách của nhân vật Vũ Nương, Vũ Nương vẫn khao khát muốn sống, muốn được trả lại danh dự, giàu lòng vị tha, nặng tình, nặng nghĩa với gia đình, quê hương
=> Sự sáng tạo bằng cách đưa thêm các tình tiết kì ảo này, nhà văn đã một lần nữa nhấn mạnh chủ đề của tác phẩm: Câu chuyện trước sau vẫn là bi kịch về cuộc đời của người phụ nữ bất hạnh, dù khát khao và đáng đucợ hưởng hạnh phúc, nhưng trong xã hội phong kiến họ không thể nào có được hạnh phúc Cái chết vẫn là kết thúc bi thảm không thể cứu vãn
2 Nhân vật Trương Sinh
a Giới thiệu nhân vật Trương Sinh
- “Trương Sinh con nhà hào phú nhưng không có học”, “có tính đa nghi đối với vợ phòng ngừa quá sức”, “mến vì dung hạnh” của Vũ Nương “xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”
- Qua một vài chi tiết, tác giả giúp người đọc hiểu Trương Sinh là người có tính đa nghi và một cuộc hôn nhân không bình đẳng, đó chính là mầm mống, bi kịch sau này
b Nét nổi bật trong tính cách
- Là người thiếu suy nghĩ, hồ đồ, cả ghen, gia trưởng, độc đoán, nam quyền
- Khi Trương Sinh đi lính trở về, lời nói ngây thơ của bé Đản đã gieo lòng Trương Sinh vốn hay
đa nghi, Trương Sinh đã nghi ngờ vợ không thủy chung, về đến nhà chàng: “Chàng la um lên cho
hả giận” Sinh không suy xét, hồ đồ, mù quáng, không tìm hiểu sự việc đến cùng, bỏ qua lời phân trần, thanh minh của vợ, lời biện bạch, can ngăn của bà con hàng xóm, một mực nghi ngờ
vợ không chung thủy Trương Sinh đã trở thành kẻ vũ phu, thô bạo, chỉ lấy chuyện bóng gió này
ra mà mắng nhiếc vợ, đánh đuổi đi Việc làm của Trương Sinh đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của Vũ Nương, đẩy Vũ Nương đến thế cùng đường tuyệt vọng, phải tìm đến cái chết oan ức ngay
cả khi Vũ Nương đã chết, Trương Sinh vẫn giận vợ và chẳng động lòng thương
=> Nguyễn Dữ đã rất thành công khi xây dựng nhân vật Trương Sinh Bản chất của Trương Sinh hay cũng chính là bản chất bất công thối nát của xã hội phong kiến đương thời đã chà đạp lên số phận con người
c Đánh giá nhân vật Trương Sinh: Trương Sinh là người hồ đồ, cả ghen, độc đoán vì quá ghen
tuông, coi thường phụ nữ cho nên phải sống trong dằn vặt, ân hận suốt đời Trương Sinh tư đánh tuột khỏi niềm hạnh phúc của chính mình Trương Sinh vừa là hiện thân, vừa là nạn nhân của xã hội phong kiến, chế độ nam quyền độc đoán
Trang 7III Luyện đề
Đề 1: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”
của Nguyễn Dữ Từ đó, hãy liên hệ với người phụ nữ Việt Nam trong xã hội hiện nay.
A Mở bài
Nguyễn Dữ là nhà văn xuất sắc trong giai đoạn từ thế kỉ XVII đến nửa đầu thế kỉ XVIII, có nhiều đóng góp cho nền văn học dân tộc Ông viết rất nhiều bài thơ, bài văn về tình yêu nước, tinh thần dân tộc và rất ít tác phẩm viết về người phụ nữ bởi quan niệm “trọng nam khinh nữ”
của xã hội phong kiến “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong số ít nhứng tác phẩm
của ông hướng ngòi về những người phụ nữ trong xã hội xưa Tác phẩm đã khắc họa thành công nhân vật Vũ Nương tiêu biểu cho số phận và vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến
B Thân bài:
I Khái quát
1 Xuất xứ tác phẩm: Truyện thứ mười sáu trong hai mươi truyện của “Truyền kì mạn lục” có
gốc từ truyện “Vợ chàng Trương” được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian => Tiêu biểu cho thành tựu của thể loại truyền kì
2 Vai trò của nhân vật (lí luận văn học).
Trong tác phẩm tự sự, nhân vật có vai trò hết sức quan trọng, giúp người đọc khám phá thế giới
nghệ thuật của tác phẩm và tư tưởng của nhà văn Xây dựng nhân vật thành công là thước đo tài năng, sự sáng tạo của những người cầm bút Chính vì vậy, tên tuổi của các nhà văn lớn thường gắn liền với nhân vật bất hủ mà họ sáng tạo thành công
II Phân tích
1 Số phận đau khổ, bất hạnh.
* Nỗi khổ bị phụ thuộc:
- Là nạn nhân của chế độ phong kiến “trọng nam khinh nữ” nên mặc dù có nhiều phẩm chất cao đẹp nhưng Vũ Nương cũng như những người con gái khác trong xã hội, không có quyền quyết định cuộc đời, số phận của mình Chi tiết Trương Sinh đem một trăm lạng vàng cưới Vũ Nương
hé mở một cuộc hôn nhân không có sự lựa chọn mà mang tính chất mua bán
- Bên cạnh đó, lời nói đầy mặc cảm của Vũ Nương với chồng “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu” nhấn mạnh nỗi khổ bị phụ thuộc
- Mở rộng: Nỗi khổ bị phụ thuộc là khởi nguồn của sự đau khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Nỗi khổ ấy được cất lên trong nhiều bài ca dao than thân:
“Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
* Chịu nỗi oan bất công:
Trang 8- Vũ Nương là người phụ nữ thủy chung, hết lòng vun đắp cho gia đình nhưng lại bị chính chồng mình nghi ngờ Đó là một sự xúc phạm danh dự, nhân phẩm Không có quyền được thanh minh
tự bảo vệ mình khi bị Trương Sinh đuổi đi
- Nàng đã bị dồn đến bước đường cùng, người chồng đa nghi, gia trưởng đã không cho vợ mình
cơ hội để minh oan Sự bênh vực của mọi người cũng không thể giúp nàng vượt qua sóng gió
- Cuối cùng Vũ Nương phải tìm đến cái chết Lời khấn của nàng bên song Hoàng Giang cho thấy nỗi đau tột cùng của một nhân cách trong sạch là lời tố cáo đanh thép với xã hội phong kiến bất công và phản ánh số phận đau khổ, bế tắc của người phụ nữ
=> Nhận xét: Tác phẩm phản ánh chân thực số phận bất hạnh, bi thảm của Vũ Nương tiêu biểu cho thân phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Qua đó, tác giả bày tỏ sự cảm thông với những đau khổ mà họ phải chịu đựng Điều đó được Nguyễn Du tổng kết bằng những vần thơ đầy nước mắt:
“Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Ra đời trong những thời đại khác nhau, hai tác phẩm có sự gặp gỡ tư tưởng nhân đạo sâu sắc, tiến bộ
2 Nhân vật Vũ Nương hiện thân cho tâm hồn cao quí.
*Tấm lòng hiếu thảo, đức hạnh:
- Sau khi về nhà chồng, Vũ Nương luôn cư xử đúng mực, giữ gìn khuôn phép, cho nên dù Trương Sinh đa nghi hay ghen nhưng Vũ Nương vẫn tạo dựng được một mái ấm gia đình hòa thuận
- Khi chồng đi lính Vũ Nương một mình gánh vác gia đình Nàng vừa là người mẹ hiền nuôi con nhỏ, vừa là người con dâu hiếu thảo, tận tình chăm sóc lúc mẹ già đau ốm Trước khi mất mẹ
chồng Vũ Nương có nói “Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời Mẹ không phải không muốn đợi
chồng con về, mà không gắng ăn miếng cơm miếng cháo đặng cùng vui sum họp Song, làm tham vô cùng mà vận trời khó tránh Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con Chồng con nơi xa xôi không biết sống chết thế nào không thể về đền ơn được Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ” Xưa nay, mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu chẳng mấy khi thuận hòa, đặc biệt trong xã
hội xưa Lời nói của mẹ chồng trước khi mất giúp người đọc càng thấy rõ hơn “tính thùy mị, nết
na, lại thêm tư dung tốt đẹp” của nàng
* Tình yêu thủy chung được bộc lộ trong những hoàn cảnh cụ thể:
- Khi chồng đi lính, Vũ Nương đã dặn chồng bằng những lời lẽ đầy tình nghĩa: “Chàng đi
chuyến xe này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày trở về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” => Khát vọng hạnh phúc và tình
yêu chân thành dành cho Trương Sinh
Trang 9- Khi xa chồng: Nỗi buồn, nỗi nhớ dâng trào theo chiều dài thời gian, thể hiện tình yêu tha thiết của Vũ Nương
- Khi bị chồng nghi ngờ, nàng đã tìm cách để bảo vệ gia đình Dù mọi cố gắng của Vũ Nương không có kết quả nhưng nàng không chấp nhận danh dự bị xúc phạm Hành động tự vẫn của Vũ Nương khác hẳn với hành động bộc phát lúc nóng giận của nhân vật vợ chàng Trương mà là hành động quết định để khẳng định sự trong sạch và tình yêu thủy chung của mình
* Con người sâu nặng nghĩa tình:
- Ở thủy cung, Vũ Nương gửi Phan Lang chiếc hoa vàng cùng với lời nhắn tới Trương Sinh
- Sau đó, nàng trở về rực rỡ, uy nghi dù chỉ trong chốc lát Hình ảnh đó đã khằng định bức chân dung tốt đẹp của nhân vật Mặc dù đã ở thế giới khác nhưng Vũ Nương vẫn nặng lòng với cuộc đời, khao khát được phục hồi danh dự
=> Nhận xet: Nhân vật Vũ Nương là hiện thân cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam với những phẩm chất cao quí Mặc dù trong hoàn cảnh xã hội đen tối phải chịu nhiều bất công và kết thúc số phận bi thảm nhưng vẻ đẹp đó vẫn tỏa sáng, ca ngợi tâm hồn của Vũ Nương, tác phẩm kết tinh giá trị nhân đạo sâu sắc
3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
* Nghệ thuật trần thuật (kể):
- Tác phẩm được kể theo trình tự thời gian, qua đó tái hiện lại cuộc đời nhân vật trung tâm Lối
kể chuyển tự nhiên, hấp dẫn làm nổi bật số phận người phụ nữ xinh đẹp, hiền thục mà chịu nhiều đau khổ
- Xây dựng nhân vật: Đặt nhân vật trong tình huốn truyện đặc sắc để làm nổi bật tâm trạng, tính cách nhân vật Nếu như tình huốn truyện Trương Sinh ra nhà biễn biệt, không có tin tức góp phần thể hiện lòng đảm đang, hiếu thảo, sự chung thủy của Vũ Nương thì tình huống Vũ Nương
bị Trương Sinh nghi ngờ đã nêu bật sự bất công, phi lí Chính vì vậy, cái chết bi thảm của Vũ Nương gợi nỗi xót xa trong lòng người đọc
- Sử dụng thành công yếu tố hoang đường, kì ảo: Tác phẩm kết thúc phần nào có hậu khi mà Vũ Nương được minh oan, qua đó ca ngợi vẻ đẹp của Vũ Nương và gửi gắm niềm tin vào sự chiến thắng của cái thiện
* Xây dựng chi tiết nghệ thuật đặc sắc: Chân dung nhân vật Vũ Nương qua nhiều chi tiết đặc
sắc, trong đó cái bóng là chi tiết đầy ám ảnh Trước hết, cái bóng trên tường là lời nói đùa của Vũ Nương thể hiễn nỗi nhớ trong xa cách và thể hiện khát vọng đucợ đoàn tụ với gia đình Với sự trong sáng, Vũ Nương không ngờ rằng cái bóng là nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của mình
III Đánh giá
- Bằng việc xây dựng tình huống truyện độc đáo – xoay quanh sự ngộ nhận, hiểu lầm lời nói của
bé Đản; nghệ thuật kể chuyện đặc sắc, kết hợp hài hòa yếu tố hiện thực và kì ảo; khắc họa nhân vật thông qua lời nói trần thuật, lời thoại; hành động…; Nguyễn Dữ đã xây đựng thành công
Trang 10nhân vật Vũ Nương với số phận đau khổ, bất hạnh và những phẩm chất, tâm hồn cao đẹp, tiêu biểu cho tình cảnh và vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến
- Qua nhân vật Vũ Nương, tác phẩm kết tinh giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, điều đó được làm nên bởi tài năng và tấm lòng của một nhà văn lớn
C Kết bài
Thông qua cuộc đời và số phận của Vũ Thị Thiết, nhà văn Nguyễn Dữ đã cất lên tiếng nói cảm thương sâu sắc với thân phận của những người phụ nữ xưa - nạn nhân đáng thương của chế độ nam quyền, của những định kiến nghiệt ngã trong xã hội phong kiến Kết thúc truyện mang đậm màu sắc kì ảo đã thể hiện được sự trân trọng, tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Dữ đối với những người phụ nữ thủy chung, nết na nhưng có số phận bất hạnh ấy: Không chỉ ca ngợi vẻ đẹp phẩm chất của những người phụ nữ mà còn thể hiện sự trân trọng, đồng cảm với họ qua việc xây dựng chi tiết li kì giúp Vũ Nương giải oan, để vẻ đẹp của họ mãi rạng ngời, sống mãi trong dòng Hoàng Giang cũng như trong lòng của những người ở lại
D Liên hệ với người phụ nữ Việt Nam trong xã hội ngày nay.
Qua hình ảnh nhân vật Vũ Nương như hình mẫu phụ nữ lí tưởng thời xưa, em có thể liên hệ mình cơi hình ảnh phụ nữ của xã hội Việt Nam hiện nay: có công việc ổn định để đảm bảo cuộc sống, có cơ hội học tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, các đoàn thể, câu lạc bộ, có thời gian hưởng thụ văn hóa, văn nghệ, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp cho bản thân,…Nhiều phụ nữ đã khẳng định bản lĩnh của bản thân, trở thành nhà kinh doanh giỏi, nhà chính trị gia kiệt xuất Điều đó khiến chúng ta càng phải trân trọng hơn cuộc sống này
Đề 2: Theo em, trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, chi tiết nào quan trọng nhất? Hãy phân tích ý nghĩa của chi tiết đó.
1 Chi tiết quan trọng nhất: Cái bóng trên tường.
2 Ý nghĩa
* Giúp người đọc thấy được tính cách của các nhân vật:
- Với Vũ Nương:
+ Cái bóng là biểu hiện của tình yêu thương, nỗi nhớ chồng trong xa cách
+ Sâu xa hơn, nó còn ẩn chứa khát vọng được đoàn tụ gia đình, khát vọng hạnh phúc, bình dị
- Với Trương Sinh:
+ Cái bóng là cái cớ để Trương Sinh ghen tuông mù quáng Nó reo rắc cái sự hoài nghi, ngờ vực lòng chung thủy của Vũ Nương và cho thấy Trương Sinh là người đa nghi, gia trưởng
+ Sự ân hận muộn màng của Trương Sinh khi bé Đản chỉ vào cái bóng trên tường và nói: cha Đản lại đến => Con người đa nghi, nông cạn đã không cho Vũ Nương cơ hội được minh oan
*Mang giá trị tố cáo sâu sắc: