1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình trung cấp lý luận chính trị phần 8 ( câu hỏi và đáp án)

76 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 575 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 4 : sẽ trích một câu trong Nghị quyết về công tác cán bộ Bài làm Cán bộ và công tác cán bộ luôn luôn chiếm vị trí quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại đối với sự nghiệp cách mạng. Từ Đại hội VI đến nay, cùng với đường lối đổi mới nói chung, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ đã trở thành khâu then chốt của toàn bộ quá trình đổi mới, trong đó công tác đánh giá, quy hoạch, tuyển chọn, bố trí sử dụng và đào tạo cán bộ là vấn đề khó khăn, phức tạp, cần nắm vững những kiến thức tâm lý học lãnh đạo để tiếp cận với những khía cạnh tâm lý của cán bộ và thực hiện tốt nhiệm vụ này I. Khái niệm : Để làm rõ những khía cạnh tâm lý trong công tác cán bộ, trước hết chúng ta phải hiểu cán bộ là gì ? Cán bộ là những người được Đảng và Nhà nước giao cho những trọng trách, nhiệm vụ lớn hoặc nhỏ tùy theo cương vị và khả năng của mình để hoàn thành, thực hiện một hay nhiều nhiệm vụ nào đó trong bộ máy hoạt động của Đảng và Nhà nước cũng như toàn xã hội. Cán bộ chính là những người tham gia vạch ra đường lối, sách lược, chiến lược cách mạng chung hay phương hướng thực hiện nhiệm vụ nào đó. Đồng thời cũng là người thực hiện hoặc lãnh đạo quần chúng thực hiện đường lối đó. Không có một đội ngũ cán bộ mạnh về phẩm chất chính trị, đạo đức, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, tâm huyết với sự nghiệp thì không có một đường lối nào dù đúng đắn đến đâu cũng có thể trở thành hiện thực. Công tác cán bộ là một nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ một tổ chức nào đồng thời cũng là một khoa học về con người và mối quan hệ giữa con người với con người, về vai trò của con người trong quá trình quản lý xã hội. Đó là hoạt động nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ đủ về số lượng và đúng về chất lượng, phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của từng thời kỳ cách mạng. Công tác cán bộ bao gồm rất nhiều nội dung : đánh giá nhận xét cán bộ, quy hoạch, tuyển chọn, bồi dưỡng cán bộ, bố trí sử dụng, đề bạt, luân chuyển cán bộ, thực hiện chính sách cán bộ II. Một số vấn đề tâm lý trong công tác cán bộ 1. Công tác nhận xét đánh giá cán bộ : Nhận xét đánh giá cán bộ là khâu đầu tiên xuyên suốt của công tác cán bộ. Đây là khâu quan trọng, quyết định đối với việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, đề bạt bổ nhiệm... Nó không những là nhiệm vụ của công tác cán bộ mà còn là yêu cầu chính đáng của cán bộ đòi hỏi tổ chức và cấp trên đánh giá đúng mình. Nhận xét đánh giá cán bộ là khả năng biết đánh giá cán bộ, nhân viên thuộc phạm vi mình phụ trách, bởi vì sự thành công hay không của người là công tác cán bộ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng

Trang 1

Câu 4 : sẽ trích một câu trong Nghị quyết về công tác cán bộ

I./ Khái niệm :

Để làm rõ những khía cạnh tâm lý trong công tác cán bộ, trước hết chúng ta phải hiểu cán bộ là gì ? Cán bộ là những người được Đảng và Nhà nước giao cho những trọng trách, nhiệm vụ lớn hoặc nhỏ tùy theo cương vị và khả năng của mình để hoàn thành, thực hiện một hay nhiều nhiệm vụ nào đó trong bộ máy hoạt động của Đảng và Nhà nước cũng như toàn xã hội Cán bộ chính là những người tham gia vạch

ra đường lối, sách lược, chiến lược cách mạng chung hay phương hướng thực hiện nhiệm vụ nào đó Đồng thời cũng là người thực hiện hoặc lãnh đạo quần chúng thực hiện đường lối đó Không có một đội ngũ cán bộ mạnh về phẩm chất chính trị, đạo đức, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, tâm huyết với sự nghiệp thì không có một đường lối nào dù đúng đắn đến đâu cũng có thể trở thành hiện thực.

Công tác cán bộ là một nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ một tổ chức nào đồng thời cũng là một khoa học về con người và mối quan hệ giữa con người với con người, về vai trò của con người trong quá trình quản lý xã hội Đó là hoạt động nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ đủ về số lượng và đúng về chất lượng, phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của từng thời kỳ cách mạng Công tác cán bộ bao gồm rất nhiều nội dung : đánh giá nhận xét cán bộ, quy hoạch, tuyển chọn, bồi dưỡng cán bộ, bố trí sử dụng, đề bạt, luân chuyển cán bộ, thực hiện chính sách cán bộ

II./ Một số vấn đề tâm lý trong công tác cán bộ

1 Công tác nhận xét đánh giá cán bộ :

Nhận xét đánh giá cán bộ là khâu đầu tiên xuyên suốt của công tác cán bộ Đây là khâu quan trọng, quyết định đối với việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, đề bạt bổ nhiệm Nó không những là nhiệm vụ của công tác cán bộ mà còn là yêu cầu chính đáng của cán bộ đòi hỏi tổ chức và cấp trên đánh giá đúng mình Nhận xét đánh giá cán bộ là khả năng biết đánh giá cán bộ, nhân viên thuộc phạm vi mình phụ trách, bởi vì sự thành công hay không của người là công tác cán bộ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng hiểu biết con người.

Đánh giá cán bộ trước hết phải dựa vào cơ sở tiêu chuẩn cán bộ quy định cho từng chức danh, đồng thời phải dựa vào hiệu quả công tác, Đánh giá nhận xét cán bộ phải khoa học, khách quan, xem xét một cách toàn diện và gắn liền với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, chú ý đánh giá hiện tại và dự đoán sự phát triển trong tượng lai, không xem nặng về quá khứ, phải đánh giá một cách toàn diện cả mặt ưu và mặt nhược điểm của họ Không có cá nhân nào có năng lực bách khoa và cũng không có cá nhân nào hoàn toàn vô dụng Phải có phương pháp đánh giá dân chủ, trung thực, phải đặt cán bộ trong mối quan hệ nhất định Người đứng ra việc thực đánh giá cán bộ phải là người có thẩm quyền, có uy tính, có trách nhiệm và có khả năng đánh giá.

Nội dung của việc đánh giá cán bộ tập trung ở 2 mặt đức và tài của người cán bộ Về đức, đó là đánh giá về lập trường chính trị, xã hội của cá nhân (xu hướng của cá nhân ấy đối với những vấn đề chính trị, xã hội), về động cơ cá nhân (cái lôi cuốn, thúc đẩy hoạt động của cá nhân bao gồm động cơ về nhu cầu hàng ngày và định hướng giá trị chiếm ưu thế của cá nhân), về tích cách (hệ thống thái độ và phản ứng cá

nhân) Về tài, đó là đánh giá về khả năng thực hiện nhiệm vụ, về năng lực của người cán bộ đó có thể

hoàn thành công việc gì ? loại công việc nào, mức độ hoàn thành công việc … Đánh giá về mặt tài đức của cán bộ chính là đánh giá đặc điểm nhân cách của cán bộ có thể làm được những gì và làm như thế nào ?

* Thực trạng : Hiện nay trong công tác nhận xét đánh giá cán bộ đã có tiêu chí rõ ràng hơn trong việc

đánh giá cán bộ, có tính dân chủ (cán bộ tự đánh giá, bỏ phiếu tính nhiệm ) Đã có sự phân công phân cách trong việc nhân xét đánh giá cán bộ (cấp trên nhận xét đánh giá cấp dưới).

Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng khâu yếu nhất hiện nay trong công tác cán bộ là khâu đánh giá cán bộ.

Đã có nhiều cán bộ, kể cả cán bộ đảng viên do Trung ương quản lý vẫn dính líu đến các vụ án tham ô, tham nhũng (vụ cấp quota, dầu khí, băng nhóm Năm Cam ) và sa đọa về mặt đạo đức điều này cho thấy rằng việc đánh giá cán bộ của ta hiện nay vẫn còn yếu kém Công tác phê bình và tự phê bình, đánh giá cán bộ hàng năm tuy có cố gắng, song vẫn còn chậm, phương pháp và cách làm chưa thống nhất Kết quả đánh giá cán bộ còn chung chung, thiếu cụ thể, chưa phản ánh đúng kết quả công tác của cán bộ, cán

bộ lãnh đạo ít được nhận xét khách quan, nhất là các khuyết điểm, tình trạng thiên vị, nể nang trong nhận xét đánh giá còn khá phổ biến Công tác nhận xét đánh giá cán bộ một số nơi chưa sâu, nhiều trường hợp thiếu chính xác, thiếu căn cứ khách quan, có nơi vì tình trạng phe cánh, cục bộ, nể nang, né trách, mà

cố tình đánh giá sai lệnh cán bộ Không ít cấp uỷ, người đứng đầu cấp uỷ, cơ quan chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ về trách nhiệm và tầm quan trọng của việc đáng giá cán bộ hoặc chưa thực sự công tâm trong việc đánh giá cán bộ Cũng có nguyên nhân là các tiêu chí đánh giá cán bộ chưa cụ thể hoá nên khi đánh giá thiếu căn cứ thống nhất; chưa tuân thủ nghiêm túc quy chế quy trình công tác cán bộ, trong đó có việc

Trang 2

đánh giá cán bộ Chưa quy định rõ ràng, hợp lý chế độ trách nhiệm và quyền hạn của ngườyi đứng đầu cơ quan, đơn vị công tác cán bộ

Để khắc phục tình trạng trên, phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định, quy trình đánh giá cán bộ, lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ của họ theo chức trách được giao và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước

đo chủ yếu để đánh giá, thực hiện đúng các nguyên tắc tập thể quyết định công tác cán bộ Tiêu chuẩn đáng giá cán bộ phải được cụ thể hóa trong mỗi giai đoạn cách mạng, đối với mỗi chức vụ và cương vị công tác Phải thực hiện nhiều giải pháp đánh giá mang tính chất tổng hợp và phải công tâm - khách quan Người lãnh đạo khi nhận xét đánh giá cán bộ phải có 2 phẩm chất cực kỳ quan trọng: công tâm và sâu sát Ngoài ra, cần cụ thể hoá các vấn đề: dân chủ hoá, công khai hoá công tác cán bộ, tổ chức lấy ý kiến nhân dân và cán bộ cấp dưới, xây dựng cơ chế phát huy trách nhiệm của người đứng đầu và cơ quan sử dụng cán bộ Muốn đánh giá cán bộ đúng còn phải định ra rõ trách nhiệm cá nhân, trước hết là trách nhiệm người đứng đầu Người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm về những yếu kém tron g công tác, về tệ nạn tham nhũng, quan liêu, lãnh phí của địa phương cơ quan đơn vị đó Khắc phục tình trạng khi kiểm điểm tập thể thì chỉ ra được khuyết điểm nhưng khi kiểm điểm cá nhân thì không quy được trách nhiệm cho ai Việc đánh giá cán bộ không chỉ làm một lần mà phải làm thường xuyên để đưa vào hồ sơ cán bộ và giúp cho bản thân của người cán bộ hiểu đúng mình hơn, sửa chữa khuyết điểm để ngày càng hoàn thiện hơn

2 Công tác tuyển chọn cán bộ :

Quá trình lựa chọn cán bộ (cả tuyển chọn cán bộ mới) là một công việc cần thiết, thường xuyên để đảm bảo tính kế thừa và phát triển của các tổ chức Việc lựa chọn cán bộ được tiến hành theo các yêu cầu như: yêu cầu có tính chất tổ chức - hành chính, yêu cầu về mặt tiêu chuẩn của từng vị trí trong cơ cấu tổ chức, yêu cầu có tính chất nguyên tắc (như nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc tính đảng, nguyên tắc thống nhất, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử cụ thể), yêu cầu lựa chọn cán bộ theo cơ cấu dân số - xã hội Việc lựa chọn cán bộ chịu sự chi phối bởi những khía cạnh tâm lý nhất định, bao gồm: số lượng các đối tượng được đưa vào lựa chọn (ít quá thì cơ hội lựa chọn sẽ nhỏ, nhiều quá thì dễ bị lầm lẫn nhiễu loạn); cơ sở để lựa chọn (vấn để tuổi tác ), bản thân chủ thể lựa chọn (xu hướng, trình độ, lợi ích, thói quen ), tình huống tiến hành lựa chọn (chu đáo, đầy đủ thông tin hay ngược lại) Vì vậy, việc lựa chọn cán bộ còn cần phải chú ý cân nhắc đặc biệt là những yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng đến việc lựa chọn cán bộ.

* Thực trạng: Công tác tuyển chọn cán bộ hiện nay đã có chủ trương chính sách và tiêu chuẩn cụ

thể, năng lực chuyên môn đã được chú trọng nhiều hơn Tuy nhiên, vấn đề lựa chọn cán bộ trong thời gian qua của chúng ta còn cục bộ, chưa thật sự dân chủ, còn nể nang, ám thị Cơ chế xin việc mà không qua thi tuyển còn phổ biến nên vẫn còn nạn nhận của đúc lót, tình cảm cá nhân, giao giá khi tuyển chọn tiếp nhận,

bố trí, tiến cử, giới thiệu cán bộ vào các cương vị công tác khác, tính cạnh tranh trong tuyển chọn cán bộ chưa cao nên chưa thật sự tuyển lựa được người tài đức trong bộ máy nhà nước đồng thời cũng dẫn đến việc chọn cán bộ không đúng tiêu chuẩn yêu cầu cho một công việc cụ thể nào đó dẫn đến tình trạng vừa thiếu vừa thừa Đối với việc tuyển chọn cán bộ thông qua bầu cử cho thấy rằng việc lấy phiếu tín nhiệm giúp phòng ngừa, ngăn chận những biểu hiện độc đoán mất dân chủ của thủ trưởng, nhưng có mặt hạn chế là đôi khi chúng ta không chọn được những người tốt nhất, có triển vọng nhất mà chỉ chọn được những người được lòng đa số của cấp dưới, đối với những nơi mất đoàn kết nghiêm trọng, bè phái thì đa

số không phải bao giờ cũng đúng Bên cạnh đó, do vấn đề bằng cấp chuyên môn được chú trọng nhiều hơn nên tình trạng bằng giả xảy ra khá phổ biến

Để khắc phục nhược điểm trên, cần đảm bảo nguyên tắc công bằng, khách quan, dân chủ và xây dựng những tiêu chuẩn cụ thể, rõ ràng trong công tác tuyển chọn cán bộ, trong đó nội dung tuyển chọn cán

bộ phải xuất phát từ yêu cầu công việc Ngoài ra, người tuyển chọn cán bộ còn phải đảm bảo tính công tâm, khi xem xét đánh giá cán bộ cần phải nghe nhiều người từ nhiều nguồn Trường hợp các ý kiến đánh giá nhận xét khác nhau, thậm chí trái ngược nhau thì phải tìm hiểu làm rõ để không dẫn đến việc đánh giá,

bố trí cán bộ nhầm lẫn oan sai.

3 Công tác quy hoạch cán bộ:

Quy hoạch cán bộ là tạo điều kiện để kiện toàn tổ chức và đổi mới cán bộ một cách thường xuyên, điều quan trọng trong công tác quy hoạch cán bộ là xác định đúng đội tượng cán bộ phải quy hoạch và thời gian quy hoạch, từ đó xác định rõ mục tiêu trong một thời gian nhất định những cán bộ cần phải đạt được những yêu cầu cụ thể gì Khi xác định mục tiêu quy hoạch cán bộ phải đảm bảo những yêu cầu như: Đáp ứng yêu cầu về số lượng cán bộ đang thiếu hoặc phải bổ sung, khăc phục việc thiếu cán bộ trong cơ cấu lãnh đạo, thiếu cán bộ hiểu biết về lĩnh v ực khoa học kỹ thuật, về kinh tế, khắc phục tình trạng thiếu tính kế thừa.

* Thực trạng : Hiện nay, công tác quy hoạch cán bộ được triển khai rộng rãi với cách làm dân chủ

hơn, đổi mới nội dung và cách làm theo phương châm “động” và “mở, khắc phục những biểu hiện thiếu tin, ngại khó, làm quy hoạch một cách hình thức, đối phó Tuy nhiên vẫn còn một số nơi thực hiện khá lúng túng, hình thức, hiệu quả thấp Nhiều nơi quy hoạch xong để đấy, quy hoạch một đường làm một nẻo Vì vậy việc bố trí sắp xếp cán bộ còn chấp vá, bị động, tình trạng hụt hẫng cán bộ kế thừa ở các cấp các ngành, địa phương còn khá phổ biến Một vấn đề khác cần lưu ý là công tác hậu quy hoạch, tránh tình trạng đối tượng được quy hoạch ỷ lại, thiếu rèn luyện dẫn đến sa sút phẩm chất; ngược lại những cán bộ

Trang 3

năng nổ nhiệt tình nhưng không được quy hoạch do thiếu một vài tiêu chuẩn thì lại mất hết nhiệt tình công tác.

Để khắc phục tình trạng trên, cần kiên trì và tích cực triển khai chiến lược cán bộ, coi trọng công tác quy hoạch cán bộ, chuẩn bị lớp cán bộ kế cận Thực hiện nghiêm tiêu chuẩn hóa về chất lượng đạo đức và chuyên môn đối với cán bộ, công chức ở mỗi cương vị, công tác và căn cứ vào những biểu hiện trong thực tế của cán bộ trên cả ba mặt: lý tưởng, đạo đức lối sống, trình độ năng lực để xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo và quản lý, nhất là quy hoạch người đứng đầu Phải tuân thủ đúng hướng dẫn của TW về công tác quy hoạch cán bộ, coi trọng khả năng đoàn kết tập thể, đồng chí, đồng nghiệp Đồng thời phải định kỳ xem xét, đánh giá cán bộ trong diện quy hoạch để có sự bổ sung điều chỉnh cần thiết.

4 Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Được thực hiện căn cứ vào quy hoạch cán bộ Để thực hiện tốt công tác này cần phải có kế hoạch được lập ra trên cơ sở tiêu chuẩn về mặt kiến thức cần phải bồi dưỡng đào tạo cho từng loại chức danh cán bộ, từ đó xác định được yêu cầu đối với từng cán bộ cho phù hợp trong từng giai đoạn nhất định Cụ thể như: mục tiêu đào tạo cán bộ là gì ? vào những chức danh cụ thể nào ? những nội dung nào cần phải bồi dưỡng ? Đồng thời cần phải xem xét phương pháp đào tạo, hình thức đào tạo cho phù hợp với các đối tượng, nhằm phát huy tính tích cực chủ động của người học.

Thời gian qua, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ đã được quan tâm chỉ đạo chặt chẽ hơn, hướng dẫn thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo theo từng loại đối tượng chúng ta đã khắc phục được một bước tình trạng đào tạo tràn lan, không theo quy hoạch Tuy nhiên, nôi dung chương trình và phương pháp đào tạo chậm được đổi mới, còn chung chung Để thực hiện tốt công tác đào tạo cán bộ, cần phải có kế hoạch, xác định mục tiêu đào tạo cán bộ, từ đó phải có nội dung, hình thức đào tạo cho phù hợp với từng cán bộ Việc đào tạo cán bộ phải gắn với chính sách cán bộ, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần, thời gian cho cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng

5 Công tác bố trí, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ

Bố trí, bổ nhiệm cán bộ là đặt cán bộ cụ thể vào những vị trí nhất định trong cơ cấu tổ chức Việc bố trí bổ nhiệm luân chuyển cán bộ phải quán triệt nguyên tắc xuất phát từ nhu cầu nhiệm vụ chính trị của tổ chức và phải phù hợp với khả năng, sở trường để giúp cán bộ để hoàn thành tốt nhiệm vụ cũng như tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ phát triển.

Hiện nay, chủ trương luân chuyển cán bộ đã thực hiện thành công ở một số nơi và là một trong những giải pháp đột phá về công tác cán bộ trong tình hình hiện nay Cán bộ được luân chuyển đã thể hiện bản lĩnh và năng lực lãnh đạo trưởng thành nhanh hơn Tuy nhiên trong thực tế việc bố trí bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ thường chịu sự tác động của hàng loạt các yếu tố tâm lý XH khác nhau dẫn đến kết quả xa rời nguyên tắc cơ bản là xuất phát từ yêu cầu công việc và quy hoạch cán bộ Không ít trường hợp bố trí luân chuyển cán bộ không bắt nguồn từ những động cơ trong sáng vừa làm nản lòng cán bộ, vừa không đáp ứng được mục tiêu và lợi ít của công việc Ảnh hưởng của những quan niệm phong kiến của quy luật tình cảm “yêu nên tốt, ghét nên xấu”, của sức ép tâm lý “phải chờ đến lượt”, “sống lâu lên lão làng” trong việc bổ nhiệm bố trí cán bộ tạo nên một sức ỳ rất lớn trong công tác cán bộ.

Để khắc phục nhược điểm trên, việc bố trí bổ nhiệm luân chuyển cán bộ phải thực hiện đúng nguyên tắc: mục tiêu-tổ chức-con người, phải đảm bảo bố trí bổ nhiệm luân chuyển đúng người, đúng việc, đúng lúc, đúng yêu cầu Cấp uỷ địa phương đơn vị có cán bộ được điều động luân chuyển về phải tạo điều kiện cho cán bộ là tốt nhiệm vụ, đồng thời phải ngăn ngừa việc lợi dụng luân chuyển cán bộ để đẩy những người không “ăn cách” đi nơi khác.

6 Công tác chính sách cán bộ:

Thực hiện chính sách cán bộ là chú ý thoả mãn một cách hợp lý nhu cầu lợi ích vật chất và tinh thần của cán bộ, thúc đẩy cán bộ làm việc tốt hơn Chính sách đãi ngộ cán bộ hiện nay chậm đổi mới, tiền lượng còn hạn chế, một số chính sách còn chưa thực hiện thống nhất, vẫn còn tình trạng vừa bình quân, vừa không công bằng, chưa gắn quyền lợi với trách nhiệm và hiệu quả nghĩa vụ với lợi ích Để khắc phục tình trạng này Đại hội IX của Đảng đã xác định “tăng cường đầu tư và phát triển con người thông qua phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ Đảm bảo nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của CNH-HĐH”, “đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí cthức, tôn trọng và tôn vinh nhân tài” Chúng ta đang tiến dần đến việc xây dựng một chế độ tiền lương phải là thu nhập chủ yếu của cán bộ, công chức, từ đó kích thích cán bộ, công chức sáng tạo và tận tụy phục vụ nhân dân, hạn chế và đấu tranh có hiệu quả với nạn tham nhũng và các tệ nạn khác

Kết luận Công tác cán bộ bao giờ cũng là công tác quan trọng và khó khăn, phức tạp Nó vừa mang

tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Để làm tốt công tác này, người đứng đầu cơ quan, người làm công tác tổ chức cán bộ phải nắm vững các khía cạnh tâm lý cán bộ, phải có phẩm chất chính trị đặc biệt là bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, nhất là tính nhân văn, trình độ năng lực, nhất là tầm nhìn chiến lược, sự nhạy cảm nghề nghiệp và ở óc tổ chức, phương pháp làm việc, nhất là tính dân chủ khách quan,

vô tư và trong sáng Bởi lẽ mọi quyết định của họ có ý nghĩa quyết định không chỉ đến sinh mệnh của cán bộ mà còn ảnh hưởng đến uy tín và sức mạnh của cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ Thực hiện tốt chiến lược cán bộ, nhất định chúng ta sẽ xây dựng được đội ngũ cán bộ đảng viên “vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn”./.

Trang 4

Câu 1: A/c hãy pt vai trò của hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cơ sở hiện nay? (6đ)

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng phong cách, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ Theo Người, phong cách, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ có vai trò to lớn để nghị quyết, đường lối, chính sách

của Đảng, Nhà nước thấm sâu vào "tâm lý quốc dân"và đi vào cuộc sống.Biến

nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước thành hành động của quần chúng, tạo ra đột phá trong các lĩnh vực cách mạng Phong cách lãnh đạo, quản lý là tổng hợp những phương pháp, cách thức, biện pháp, tác phong, lề lối làm việc

để vận dụng các kiến thức, tri thức khoa học vào thực tiễn đem lại hiệu quả Đây

là yếu tố đặc biệt quan trọng cấu thành phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.

Thực tế cho thấy, đối với người cán bộ cơ sở, khi thực hiện chức trách, nhiệm vụ có những lúc, những công việc chưa hoàn thành tốt không phải do thiếu kiến thức và sự nhiệt tình, trách nhiệm hay phương tiện, vật chất bảo đảm

mà còn do phong cách lãnh đạo, quản lý chưa phù hợp Trong phạm vi bài làm, tôi xin đi sâu vào phân tích vai trò của hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cơ sở hiện nay.

Để hiểu rõ vai trò của lãnh đạo trong công tác quản lý, trước hết ta tìm hiểu hai khái niệm "hoạt động quản lý" và “hoạt động lãnh đạo".

Hoạt động lãnh đạo là hoạt động của người lãnh đạo mang tính định hướng, gây ảnh hưởng tạo dựng niềm tin, thuyết phục người khác để họ đồng thuận lợi với người lãnh đạo thực hiện đường lối chủ trương hướng tới mục tiêu nào đó Lãnh đạo tạo hiệu ứng điều khiển, dẫn dắt người khác dựa trên cơ chế nhận thức, niềm tin, tiêu chuẩn đạo đức, lý tưởng mà không mang tính cưỡng bức đối với người khác.

Hoạt động quản lý mang tính kỷ thuật, quy trình được quy định rõ trong khuôn khổ cácthể chế xác định như PL, quy chế, quy định Nhà quản lý sử dụng quyền lực để điều hànhngười khác

Hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cấp cơ sở có các vai trò:

- Hoạt động LĐ, QL tạo nên s.mạnh tập thể trên cơ sở thống nhất ý chí và hành động.Cộng đồng dân cư trên địa bàn xã dù khác biệt nhau nhiều phương diện nhưng mỗi cộng đồngcũng có những lơị ích chung như bảo vệ môi trường sống chung có lợi cho sức khỏe, giữ gìntrật tự trị an, giữ gìn vệ sinh chung, xd cơ sở hạ tầng giao thông, y tế, trường học Nếu không

có cấp quản lý cơ sở sẽ không thể thống nhất ý chí và hành động của người dân để tất cả đều

có cuộc sống tốt hơn Hơn nữa, cấp cơ sở còn là nơi hỗ trợ trực tiếp cho dân cư khi họ gặpkhó khăn, cũng như tạo đk cho dân cư tham gia vào hệ thống chính trị chung của quốc gia

- Hoạt động LĐ, QL tạo ra m.trường vừa cho phép mỗi người dân được sáng tạo, vừađịnh hướng hoạt động của mọi người theo mục tiêu chung Các xã thị trấn đều nằm trong 1huyện, 1 tỉnh nào đó và nằm trong nước ta do đó vừa được hưởng lợi ích chung của sự quản

lý của huyện, của tỉnh, của quốc gia, vừa phải tập thể thực thi nghĩa vụ của mình với tập thểlớn hơn Cơ quan quản lý cấp cơ sở là đầu mối để triển khai chính sách chung 1 cách hiệu quảtrên địa bán csở, vừa phản ánh nguyện vọng, nhu cầu của csở cho cấp trên để dược hỗ trợ giảiquyết kịp thời, hiệu quả

Trang 5

- Hoạt động lđ, QL ở cơ sở tạo nên sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận khác nhaucủa đơn vị thành một hệ thống nhất Giữa các bộ phận dân cư nghành nghề trên địa bàn xã,phường, thị trấn đôi khi cũng xảy ra xung đột cấp csở là nơi trực tiếp đúng ra hòa giaỉ hoặcphân xử nhằm tạo ra bâud không khí đoàn kết thông cảm, tương trợ lẫn nhau Chuacs năngxét xử có thể chia phân quyền ở phạm vi hẹp cho cấp csở, nhưng chức nang hòa giải của hệthống chính trị chủ yếu do cấp csở đảm nhiệm.

- Hoạt động lđ, QL ở cơ sở góp phần tạo dựng sức mạnh bền vững của hệ thống chínhtrị Nhờ có sự quản lý ở cấp csở mà hoạt động của dân cư và các tổ chức trên địa bàn đi vàonền nếp, kỹ cương, giảm nhẹ vtrò quản lý, giám sát của cấp trên Hơn nũa, sự chuyen nghiệplinh hoạt và tận tâm của cbộ quản lý cấp csở làm tăng uy tín của hệ thống ctrị Ngược lại, sựyếu kém của cấp csở nhất là việc xử lý quan liêu, thiếu chuyên nghiệp của đội ngũ cbộ csởkhông những làm cho hệ thống ctrị thiếu bền vững, mà còn làm phai nhạt niềm tin của quầnchúng vào hệ thống ctrị

hệ thực tế: Ở địa phương tôi, cấp ủy, chính quyền địa phương luôn làm tốt vai trò lãnh

đạo quản lý thông qua việc xây dựng các Nghị quyết, kế hoạch, chương trình hành động,…

phát triển kinh tế xã hội Liên hằng năm Từ sự chỉ đạo thực hiện đó đã thống nhất trong ý chí

và hành động của các ban ngành đoàn thể, sự đồng thuận của người dân Các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội hàng năm đều được thảo luận, lựa chọn phù hợp với đk của địa phương,

………

Tóm lại, cán bộ cấp cơ sở cần phải coi việc rèn luyện, xây dựng phong cách lãnh đạo, quản lý theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ thường xuyên, tự giác và bền bỉ suốt đời Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do học tập, đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển hoàn thiện, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong Rèn luyện đạo đức cũng như phong cách của mỗi người không thể trong ngày một ngày hai, mà cần phải rèn luyện thường xuyên Thực tiễn luôn thay đổi, đặt ra những yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng và trước những tác động của nền kinh tế thị trường, nếu không tự tu dưỡng, rèn luyện phong cách của bản thân, người cán bộ cấp cơ sở sẽ không thể đáp ứng yêu cầu của thời cuộc Hồ

Chí Minh đã dạy: "Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ

đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân"16 Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải học tập, rèn luyện không ngừng, học không chỉ là nghĩa vụ để chuẩn hóa cán bộ theo yêu cầu của Đảng

mà còn phải là nhu cầu tự thân, học tập thường xuyên, học tập suốt đời để có phẩm chất tốt, đồng thời có nền tảng học vấn cần thiết Chỉ khi nào học vấn trở thành công cụ nhận thức, công cụ hoạt động làm tăng lên giá trị của chính mình, tăng thêm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, khi đó học vấn mới trở thành văn hóa, trở thành thành tố quan trọng trong phong cách lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, góp phần xây dựng Đảng ta thật sự "là đạo đức, là văn minh".

Trang 6

Câu 2: A/c hãy pt lãnh đạo, qlý trong ctác của các tổ chức chính trị – xã hội? (4đ)

Tổ chức chính trị - xã hội là các tổ chức quần chúng của Đảng, là công cụ để tổ chứcthực hiện đường lối, chủ trương của Đảng trong các tầng lớp nhân dân, luôn giữ vị trí, vai trò

quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Có thể nói rằng lãnh đạo, quản lí trong công tác của các tổ chức chính trị - xã hội cóthể được nhìn nhận dưới hai góc độ khác nhau: lãnh đạo, quản lý của tổ chức chính trị - xã hội

và lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ của các tổ chức chính trị - xã hội

- Dưới góc độ lãnh đạo, quản lý của tổ chức chính trị - xã hội:

+ Lãnh đạo trong công tác của tổ chức chính trị xã hội là việc các tổ chức chính trị

-xã hội xây dựng và đề ra các chủ trương, nghị quyết về công tác của tổ chức mình trên cơ sởđường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệ, nghị quyết của tổ chức chínhtrị - xã hội và nhu cầu nguyện vọng của hội viên và xã hội

+ Quản lý trong công tác của các tổ chức chính trị - xã hội là công việc tổ chức, giámsát, điều hành các hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội nhằm đảm bảo định hướng chocác hoạt động của tổ chức mình đạt kết quả cao đáp ứng với nhiệm vụ mà Đảng và đất nướcgiao phó

Các tổ chức chính trị-xã hội làm tham mưu và nòng cốt trong việc nắm bắt dư luận xã hội, phát huy dân chủ, năng lực, trí tuệ, ý thức trách nhiệm công dân trong thực hiện giám sát xây dựng chính quyền,xây dựng Đảng; xây dựng, củng cố và hoàn thiện các thiết chế dân chủ

ở cơ sở như: Quy chế về hoạt động hoà giải, Quy chế giám sát đầu tư cộng đồng và Quy chế hoạt động thanh tra nhân dân; coi trọng và sử dụng rộng rãi hoạt động tư vấn trong công tác của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền và các tổ chức trong hệ thống chính trị về nhiệm vụ lãnh đạo, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị-xã hội vững mạnh Các cấp uỷ đảng tiến hành kiểm điểm sâu sắc việc tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã ban hành về công tác Dân vận, công tác Mặt trận và các Đoàn thể Đưa nội dung lãnh đạo xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể vững mạnh thành một trong những tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng các cấp

- Dưới góc độ lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ của các tổ chức chính trị - xã hội:+ Có thể nói rằng, cán bộ các tổ chức chính trị - xã hội những “nhà lãnh đạo” đối vớicác thành viên của tổ chức, với nghĩa này muốn khẳng định rằng người cán bộ của tổ chức

chính trị - xã hội là những người trực tiếp "gây ảnh hưởng đến các hoạt động của tổ chức

chính trị - xã hội nhằm đạt được mục đích hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội" hay

"Cán bộ tổ chức chính trị - xã hội là những người có sức thuyết phục, thu phục, gây ảnh hưởng, uy tín của mình với các hội viên của tổ chức chính trị - xã hội"

+ Người cán bộ tổ chức chính trị - xã hội cũng là những “nhà quản lý” Điều đó có

nghĩa là bên cạnh tư cách là người lãnh đạo, người cán bộ tổ chức chính trị - xã hội còn cónhiệm vụ tổ chức giáo dục, định hướng, kiểm tra, giám sát, chăm sóc, bảo vệ quyền lợi trựctiếp của hội viên

Trang 7

Các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân

Đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân và tập trung hướng mạnh các hoạt động

về cơ sở; phát huy tính năng động sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị- xã hội các cấp trong công tác vận động quần chúng, phù hợp với đặc điểm từng địa phương, cơ sở

Tóm lai, lãnh đạo, quản lý trong công tác của tổ chưc chính trị- xã hội có vai trò rấtquan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủcủa nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế-xã hội, tổ chức cuộc sống của cộngđồng dân cư

Câu 3: A/c hãy trình bày và pt những biểu hiện đặc trưng trong phong cách lãnh đạo của người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở? (6đ)

Phong cách được coi như là một nhân tố quan trọng của người cán bộ lãnh đạo, quản lýtrong đó thể hiện không chỉ mặt khoa học và tổ chức quản lý mà còn thể hiện tài năng và chíhướng của con người, nghệ thuật chỉ huy của lãnh đạo đối với đơn vị mình quản lý, tác động

và ảnh hưởng của người lãnh đạo đến với người khác trong hệ thống quản lý

Phong cách lãnh đạo của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở là mẫu hành vi mà ngườilãnh đạo, quản lý lựa chọn nhằm tác động và ảnh hưởng có hiệu quả đến cấp dưới và quầnchúng nhân dân tại cơ sở Nó được biểu hiện qua các tác phong làm việc dân chủ, khoa học,

Trang 8

hiệu quả và thiết thực, đi sâu sát quần chúng, tôn trọng và lắng nghe quần chúng, khiêm tốnhọc hỏi và thực sự cầu thị, năng động và sáng tạo, gương mẫu và tiên phong.

Sau đây ta đi tìm hiểu cụ thể từng tác phong:

- Tác phong làm việc dân chủ là đặc trưng cơ bản của phong cách lãnh đạo ở cấp xã, nó

sẽ khơi dậy được mọi sự tham gia nhiệt tình và những đóng góp sáng tạo của quần chúngtrong việc tạo ra các QĐ, chỉ thị trong việc tổ chức thực hiện những chủ trương chính sách,

PL của đảng và NN ở cơ sở có hiệu quả Chú trọng dân chủ ko có nghĩa là buông lỏng tráchnhiệm, người lđạo, quản lý cấp cơ sở phải luôn thực hiện nguyên tắc tập thể lđạo cá nhân phụtrách Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung A dua theo quần chúng, quádựa dẫm vào quần chúng, thiếu trách nhiệm không phải là biểu hiện của tác phong làm việcdân chủ (Vd cụ thể)

- Tác phong làm việc khoa học thể hiện đặc điểm nghiệp vụ tổ chức của phong cách

lãnh đạo cấp cơ sở Lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở hiện nay khác hẳn thời kỳ bao cấp Ngườilđạo quản lý ko chỉ có nhiệt tình cách mạng, có đạo dức mà cần thiết phải có tình độ chuyênmôn trí tuệ Người lãnh đạo, quản lý cơ sở không thể lãnh đạo theo kinh nghiệm chủ quan,không thể sử dụng phương pháp thử và sai mà đòi hỏi phải có tầm nhìn đúng, trong công tácphải thông thạo và có tính chuyên nghiệp, có phương pháp khoa học, sáng tạo trong vận dụng

lý luận vào thực tiễn, nhạy cảm với cái mới Cấp cơ sở là cấp tổ chức thực hiện nên đòi hỏingười lđạo quản lý phải có năng lực tổ chức kỹ năng giao tiếp, am hiểu con người và sd conngười đúng việc, đúng chỗ

Sự phát triển KT-XH, VH-GD, công tác xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, chuyểnđổi vật nuôi cây trồng… dòi hỏi tính hiệu quả, thiết thực, tránh phô trương, hình thức, qua loa,đại khái Nhu cầu, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân dòi hỏi tính thiết thực hiệu quả trongquá trình giải quyết Chính vì vậy, tác phong làm việc hiệu quả thiết thực cũng là một đặctrưng cơ bản của phong cách lãnh đạo cấp xã (Vd cụ thể)

- Tác phong đi sâu đi sát quần chúng.

Cấp cơ sở là cấp gần dân nên lđạo muốn thành công đòi hỏi người lđạo quản lý cấp cơ

sở phải có phong cách đi sâu đi sát quần chúng Lãnh đạo phải hiểu quần chúng, đặt mình vào

vị trí của quần chúng Công tác lãnh đạo phải xuất phát từ quan điểm: dân là gốc, nếu xa dân,tách dời dân chúng sẽ dẫn đến phong cách quan liêu Lãnh đạo là phục vụ

Tác phong đi sâu đi sát quần chúng là đặc trưng riêng biệt của phong cách lãnh đạo cấp

cơ sở Có đi sâu đi sát quần chúng mới có đc tác phong khoa học dân chủ, tác phong hiệu quả

và thiết thực (Vd cụ thể)

- Tác phong tôn trọng lắng nghe ý kiến quần chúng.

Dân là gốc, dân là chủ, là mọi nguồn sức mạnh, trí tuệ sáng tạo đều từ nhân dân mà ra.Chính vì thế tác phong tôn trọng và lắng nghe quần chúng không chỉ là đặc trưng cơ bản củaphong cách lãnh đạo cấp cơ sở mà còn là nguyên tắc làm việc, nguyên tắc ứng xử của ngườilđạo

Để rèn luyện tác phong làm việc trên người lãnh đạo quản lý cấp cơ sở phải luôn luônghi nhớ lời dạy của Bác Hồ “Dễ mười lận không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũngxong”

- Tác phong khiêm tốn học hỏi và thực sự cầu thị.

Trái ngược với tác phong khiêm tốn học hỏi là sự giấu dốt ko dám thừa nhận sự hạn chếthiếu sót của mình trước đ/c, trước nhân dân; có thái độ tự kiêu, tự đại, luôn nghĩ mình là giỏi,

Trang 9

là nhất Khiêm tốn học hỏi sẽ giúp cho cán bộ lđạo quản lý cấp cơ sở tiến bộ có thêm kinhnghiệm tri thức, kỹ năng để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Thái độ cầu thị vừa thể hiện sự chân thực, khiêm tốn lại vừa thể hiện mong muốn hoànthiện, tiến bộ của bản thân người lđạo; nó trái ngược với tính tự cao, tự đại Người lãnh đạo,quản lý cấp cơ sở có phong cách khiêm tốn, học hỏi và thật sự cầu thị sẽ dễ gần được dânchúng, chiếm được sự cảm tình, tôn trọng của dân chúng

- Tác phong làm việc năng động và sáng tạo.

Sự CNH-HĐH đòi hỏi cán bộ lđạo quản lý ko chỉ thụ động chờ hướng dẫn chỉ đạo củacấp trên mà phải chủ động năng động sáng tạo tìm ra hướng đi hướng chuyển dịch cơ cấu KTphù hợp cho quê hương, làng xã mình

Người lãnh đạo năng động, sáng tạo phải là người nhạy bén trong việc phát hiện cáimới, ủng hộ cái mới tích cực, nhân nó lên thành diện rộng, thành phong trào để đời sống vậtchất, tinh thần của nhân dân trong xã ngày càng được cải thiện, đổi mới, văn minh hơn

- Tác phong làm việc gương mẫu và tiên phong.

Tính gương mẫu tiên phong của cán bộ đảng viên là yếu tố đảm bảo vai trò lđạo củaĐảng đối với XH, tạo đc sự tín nhiệm, niềm tin của nhân dân Từ lâu nhân dân đã có câu

“đảng viên đi trước, làng nước theo sau”

CB lãnh đạo, quản lý phải rèn luyện phong cách sinh hoạt mẫu mực, phù hợp với nhữngchuẩn mực giá trị xã hội, làng xã, thôn xóm mình

Để tạo ra bước chuyển biến mới trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá… rất cần đếnphong cách tác phong gương mẫu, tiên phong của những người lãnh đạo, quản lý để qua đóngười dân mến phục, noi theo và tin tưởng

Tóm lại: phong cách lãnh đạo của CB lãnh đạo, quản lý có vị trí ,vai trò quan trọng đốivới việc lãnh đạo đơn vị góp phần hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ Người CB có phongcách lãnh đạo - quản lý dân chủ, sâu sát, tỉ mỉ, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm và coi trọngnội dung thực chất sẽ đem lại hiệu quả cao trong đơn vị, là tấm gương tốt để mọi người họctập Vì vậy cần nắm vững các yêu cầu, biện pháp hình thành, phát triển phong cách lãnh đạo-quản lý; kiên quyết đấu tranh với những phong cách lãnh đạo-quản lý quan liêu, mất dân chủ,phô trương hình thức

Trang 10

Câu 4: Phân biệt các phong cách lãnh đạo độc đoán – dân chủ – tự do? Theo a/c phong cách lãnh đạo nào là phù hợp trong giai đoạn hiện nay, vì sao? (4đ)

Phong cách lãnh đạo, quản lý có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến uy tín của cán bộ lãnh đạo, quản lý và tác động đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức, phong cách của cán bộ cấp dưới, lợi ích của nhân dân Bởi vậy, việc xây dựng phong cách lãnh đạo, quản lý chuẩn mực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là vấn đề vừa cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài.

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về phong cách lãnh đạo, quản lý Theo chúng tôi, Phong cách đạo của cán bộ lãnh đạo, quản lý là mẫu hành vi mà người lãnh đạo, quản lý lựa chọn nhằm tác động một cách có hiệu quả đến đối tượng lãnh đạo, quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý đã đề ra.

Có nhiều cách phân loại phong cách lãnh đạo, mỗi cách phân loại dựa trên một số cơ sởnhất định Sau đây ta sẽ tìm hiểu phân biệt các phong cách lãnh đạo độc đoán – dân chủ – tựdo

* Phân biệt các phong cách lãnh đạo:

đưa ra chỉ dưa trên cơ sở

kiến thức, khả năng, kinh

nghiệm của người lãnh đạo,

không quan tân ý kiến người

dưới quyền, buộc cấp dưới

Không quyết theo chủquan của mình mà luôn mởrộng dân chủ, tranh thủ,động viên mọi người thamgia vào các quyết địnhquản lý và giải quyết cácnhiệm vụ của đơn vị

Biết phân quyền phù hợp,không ôm đồm, mọi việc

Tham gia ít nhất vàocông việc của tập thể,hầu như giao hết quyềnhạn, trách nhiệm chomọi người

Thông tin trong tổ chứađược cung cấp cho mọingười và cho phép mọingười tự do hành động

Trang 11

thực hiện một các tập trung,

chính xác, nghiêm ngặt

Bản thân người lãnh đạo trực

tiếp kiểm tra việc thi hành

Theo chiều ngang

Ưu điểm Giải quyết nhanh chóng các

Phát huy tối đa khả năngcủa cấp dưới

Hạn chế Thiếu dân chủ, không tranh

thủ được trí tuệ, kinh nghiệm

của cấp dưới dễ tạo nên trạng

thái bất bình, căng thẳng

Dễ mất nhiều thời gian vànếu người lãnh đạo khôngnhanh chóng lựa chọnphương án tốt nhất sẽ dẫnđến bàn bạc kéo dài

Dễ dẫn đến tình trạngngười lãnh đạo thiếutrách nhiệm, tình trạnghỗn loạn, vô chính phủ

* Mỗi phong cách có điểm mạnh và điểm yếu riêng Không có phong cách nào là tốtnhất tuyệt đối Trong một môi trường cụ thể, có thể có một số phong cách thích hợp hơnnhững phong cách khác Người lãnh đạo giỏi biết tôn trọng và sử dụng người giỏi, phongcách lãnh đạo không có phương án tuyệt đối mà tùy vào đối tượng quản lý, vào môi trườngquản lý, ví dụ như đối tượng là những nhà trí thức, những nghệ sĩ thì lãnh đạo bằng phongcách tự do là phù hợp

Chọn phong cách quản lý phải chú ý các đặc điểm sau:

- Không có phong cách quản lý tối ưu

- Không có phong cách quản lý chung cho mọi đối tượng như người mới vào nghề phảihướng dẫn chỉ việc, người lâu năm thì phong cách dân chủ tự do để phát huy chất xám

- Không có phong cách quản lý chung cho mọi loại tập thể : tập thể mới thì là phongcách tập trung để rèn nề nếp, tập thể lâu năm thì phong cách bớt mệnh lệnh

- Không có phong cách quản lý chung cho mọi loại tình huống: Trường hợp cấp báchthiên tai cần tập trung

- Không có phong cách quản lý chung cho mọi lĩnh vực hoạt động : như trong quân độibắt buộc phải quản lý bằng mệnh lệnh

- Không có phong cách quản lý chung cho mọi nhà quản lý : người lãnh đạo bản lĩnh làphong cách tự do, người lãnh đạo thiếu bản lĩnh dùng phong cách dân chủ, độc đoán

Hiện nay trình độ quản lý ở VN chưa đạt mức cao, do đó phong cách lãnh đạo dân chủđược xem là phong cách có nhiều ưu thế nhất Là đặc trưng cơ bản của phong cách lãnh đạo ở

cơ sở, nó sẽ khơi dậy được mọi sự tham gia nhiệt tình và mọi những đóng góp sáng tạo của

Trang 12

quần chúng trong việc tạo ra những quyết định, chỉ đạo, chỉ thi trong việc tổ chức thực hiệnđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ở cơ sở có hiệu quả.Tuy nhiên nhà lãnh đạo cũng không nên tuyệt đối thực hiện theo phong cách này nênlựa chọn một phong cách phù hợp, dù lựa chọn phong cách nào cũng cần tuân thủ những tácphong quản lý như:

- Tác phong làm việc dân chủ;

- Tác phong khoa học;

- Tác phong làm việc hiệu quả thiết thực;

- Tác phong sâu sát quần chúng, tiên phong gương mẫu;

- Tác phong làm việc năng động, sáng tạo

* Liên hệ thực tiễn: UBKT đảng uỷ phường 2

UBKT Đảng uỷ là một bộ phận tham

mưu làm công tác kiểm tra của Đảng

uỷ; thực hiện các nhiệm vụ, quyền

hạn qui định trong Điều lệ Đảng,

tham mưu, giúp Đảng uỷ thực hiện

nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật

Đảng

Thực hiện chỉ đạo từ Đảng uỷ phường và UBKTQuận uỷ => áp dụng p/c lãnh đạo độc đoán

Tuy nhiên, UBKT Đảng uỷ còn phối hợp với các

bộ phận khác trong thực hiện tham mưu xây dựng

kế hoạch, nghị quyết đảng bộ phường => p/c lãnhđạo dân chủ

Tính chất phát triển:

- UBKT Đảng uỷ thường xuyên thay

đổi nhân sự (chuyển công tác, tuổi

- Các nhân sự đã có sự gắn kết, quan hệ tốt trong

xử lý công việc, ý thức thực hiện nhiệm vụ -> cóthể áp dụng p/c dân chủ

Trình độ: cao đẳng, đại học Tập thể có trình độ, chuyên môn nên áp dụng p/c

lãnh đạo dân chủTính chất công việc Hoạt động kỹ thuật nghiệp vụ cần p/c lãnh đạo độc

đoán; Hoạt động tiếp xúc đảng viên và chi bộ cầnp/c lãnh đạo tự do

Tình huống công việc Xử lý sự cố áp dụng p/c lãnh đạo độc đoán

Áp dụng biện pháp, hình thức mới: áp dụng p/clãnh đạo dân chủ

Tóm lại, phong cách lãnh đạo của CB lãnh đạo, quản lý có vị trí ,vai trò quan trọng đốivới việc lãnh đạo đơn vị góp phần hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ Người CB có phongcách lãnh đạo - quản lý dân chủ, sâu sát, tỉ mỉ, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm và coi trọngnội dung thực chất sẽ đem lại hiệu quả cao trong đơn vị, là tấm gương tốt để mọi người họctập Vì vậy cần nắm vững các yêu cầu, biện pháp hình thành, phát triển phong cách lãnh đạo-

Trang 13

quản lý; kiên quyết đấu tranh với những phong cách lãnh đạo-quản lý quan liêu, mất dân chủ,phô trương hình thức.

Câu 5: A/c hãy nêu và phân tích các kỹ năng ra quyết định của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở? (6đ)

Một trong những chức năng của quản lý là ra quyết định quản lý Quyết định quản lýliên quan đến thành bại, đến hiệu quả cao thấp của toàn bộ quá trình quản lý Quyết định quản

lý được coi là sản phẩm của người lãnh đạo quản lý, người lãnh đạo thể hiện tài năng củamình là ở khâu ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định quản lý Vì vậy, để có quyếtđịnh chính xác, đúng đắn, khả thi và hiệu quả, người quản lý phải nắm vững các đặc điểm, vàitrò và yêu cầu của quyết định quản lý, phương pháp xây dựng và tổ chức thực hiện quyếtđịnh một cách khoa học Bằng những kiến thức về khoa học quản lý, trong phạm vi bài làmtôi xin đi sâu phân tích các kỹ năng ra quyết định của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở

TRước tiên ta tìm hiệu khái niệm quyết định lãnh đạo, quản lý? Quyết định LĐ,QL là sựthể hiện ý chí của các chủ thể trong hoạt động LĐ,QL xã hội, tiến hành theo một trình tự, thủtục, được thể hiện dưới những hình thức nhất định như: nghị quyết, quyết định, chỉ thị…;nhằm tổ chức và điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo địnhhướng nhất định

Ví dụ thực tiễn: …

Để ra được quyết định lđ, quản lý đúng đắn, có tính khả thi cần chú ý một số kỹ năngsau:

1 Kỹ năng thu thập thông tin, phân tích và sử dụng thông tin

Thông tin có vai trò quan trọng trong công tác lãnh đạo, điều hành và giải quyết công việccủa người lãnh đạo Có đầy đủ thông tin, công việc được giải quyết hợp tình hợp lý Cung cấpthông tin kịp thời công việc được giải quyết nhanh chóng Ngược lại, thiếu thông tin, thôngtin sai lệch sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết công việc Đôi khi công việc giải quyếtmột cách phiến diện không đáp ứng được nhu cầu công tác

Để ra được 1 quyết định LĐ, quản lý phù hợp, cán bộ, công chức LĐ cấp cơ sở cần phải

xđ thông tin được thu thập từ nguồn nao? Và khi có thông tin cần phải kiểm tra thông tin bằngcách đặt ra và trả lời 1 loạt câu hỏi: Thông tin có hoàn toàn mới ko? Thông tin dùng trongviệc ra quyết định như thế nào? Độ tin cậy và chính xác của thông tin là bao nhiêu phần trăm?

Có cần lưu trữ thông tin này ko?

Thông tin đến với lđ cấp cơ sở qua nhiều “kênh” đó là: các nghị quyết, chỉ thị, thông tư,văn bản của cấp trên trực tiếp có liên quan; số liệu điều tra, tình hình thực tiễn tại cơ sở; mạnginternet; tham mưu của các chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau; trình độ, năng lực, phẩmchất của người cán bộ lđ, qlý,

Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gần dân và giải quyết những vấn đề thực tế đặt ra ở địaphương vì vậy việc lãnh đạo cấp cơ sở trực tiếp tìm hiểu thông tin về tình hình thực tế cơ sở làhết sức cần thiết, tránh tình trạng nắm bắt thông tin ko kịp thời dẫn đến việc ra những quyếtđịnh lđ, quản lý xa rời thực tế, hiệu quả ko cao

Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển, người lãnh đạo cấp cơ sở cũng phải chú ýtới việc cập nhật và khai thác thông tin từ mạng internet ở những địa phương có điều kiện đápứng về CNTT

Trang 14

Ở cấp cơ sở có thể khai thác tốt sự tham mưu, góp ý của cán bộ, công chưc đã nghĩ hưu

vì đây là những “chuyên gia” trong nhiều lĩnh vực mà cấp cơ sở có thể khai thác tại chổ Vaitrò của già làng, trưởng ấp, tổ trưởng tổ dân phố cũng hết sức quan trọng vì đây là đầu mốinắm bắt thông tin ở các cụm dân cư trên địa bàn cấp xã

Việc xử lý thông tin để ra quyết định lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở dược thực hiện trướchết là chính cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở và bản thân cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sởvẫn là người lựa chọn thông tin cuối cùng Chính vì vậy, nâng cao năng lực, trình độ, phẩmchất của người lãnh đạo là một trong những yêu cầu luôn phải được đặc ra và thường xuyêntrao dồi

2 Kỹ năng soạn thảo, ra quyết định:

Trong quá trình soạn thảo và ra quyết định LĐ, qlý cần chú ý tới việc thực hiện đúngquy trình ra quyết định, tránh việc làm tắt tùy tiện dẫn tới những sai sót trong quá trình raquyết định

Trong quá trình dự thảo QĐ chú ý tới những ý kiến phản biện đã được thu nhận Ngườilãnh đạo cần phải có thái độ cầu thị đối với những ý kiến phản biện để lựa chọn nhữngphương án, giải pháp thích hợp nhất trong quá trình xây dựng dự thảo quyết định quản lý

Các sai lầm cần tránh trong việc soạn thảo và ra QĐ lãnh đạo, quản lý.

Một là, ra QĐ lãnh đạo, quản ý mà không nắm vững yêu cầu thực tế, giải quyết các vấn

đề một cách chung chung, ko đủ cụ thể và hiện thực, ko đủ chính xác rõ ràng, có thể hiểu vàlàm khác nhau

Hai là, quá tin vào tham mưu, người dự thảo, ko xem xét nghiên cứu kỹ lưỡng, ko lắng

nghe ý kiến người tham gia, người phản biện, hay quá tin vào những hiểu biết chủ quan ofmình đi đến ra QĐ lãnh đạo, quản lý một cách phiến diện, chủ quan

Ba là, thể hiện ở chổ ra QĐ lãnh đạo, quản lý mang tính thỏa hiệp, nể nang, dựa dẫm

cấp trên một cách thụ động, không có tính sáng tạo, k tự chịu trách nhiệm

Bốn là, ra QĐ lãnh đạo, qlý ko đúng thẩm quyền, ko đủ căn cứ pháp lý, QĐ có nội dung

trùng lặp, chồng chéo ngay trong bản thân QĐ or với các QĐ đã ra trước đó

3 Kỹ năng lập kế hoạch thực hiện quyết định lãnh đạo quản lý

Lập kế hoạch là 1 khâu trong chu trình lãnh đạo, quản lý Trong quy trình tổ chức thựchiện quyết định lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở, lập kế hoạch là bước dầu tiên trong quy trình tổchức thực hiện qd và có ý nghĩa hết sức quan trọng đảm bảo hiệu quả thực hiện qd trên thực

tế Tuy nhiên, lập kế hoạch tổ chức thực hiện qd lãnh đạo, quản lý phải được đặt trong mốiquan hệ gắn bó chặt chẽ với các khâu của chu trình thực hiện quyết định

Người lãnh đạo có kỹ năng lập kế hoạch thể hiện: việc tiên liệu được các tình huốngtrong hoạt động lãnh đạo, quản lý; phối hợp mọi nguồn lực của tổ chức 1 cách hữu hiệu; tậptrung vào các mục tiêu và chính sách của tổ chức; …

Trình tự lập KH thực hiện QĐ lãnh đạo, quản lý như sau: xác định mục tiêu; nội dung;địa nàn, đối tượng, thời gian; phương pháp thực hiện; phương pháp theo dõi, kiểm tra….việcthực hiện quyết định

4 Kỹ năng chỉ đạo, điều hành thực hiện QĐ lãnh đạo, quản lý: Khi kế hoạch thực hiện

QĐ lãnh đạo, quản lý đã được đặt ra bất cứ đối tượng chịu sự lãnh đạo, quản lý đều phải thựchiện nghiêm chỉnh trên thực tế dưới sự chỉ đạo điều hành của người lãnh đạo Để điều hànhđược việc thực hiện quyết định trên thực tế một cách có hiệu quả người lãnh đạo có khả năngnắm bắt các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hienj QĐ, bên cạnh đó chú ý tới 1 số vấn đề

Trang 15

mang tính nguyên tắc như: thường xuyên giám sát tình hình, tinh thần làm việc của CB, CCdưới quyền; đưa ra các chỉ đạo hợp lý; có phương án hỗ trợ khi cần thiết;…

5 Kỹ năng xử lý tình huống trong lãnh đạo, quản lý: người lãnh đạo cầ chú ý các vấn đềsau: chỉ đạo triển khai giải quyết 1 cách chủ động theo KH đã xây dựng trước; có phương ánkịp thời giản quyết nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời những sai phạm phát sinh;…

6 Kỹ năng giải quyết khieus nại, tố cáo để thực hiện tốt công tác này người lãnh đạothực hiện hiện đúng yêu cầu sau: nắm được các quy định pháp luật nhà nước, quy định củaĐảng về giải quyết khiếu nại, tố cáo kể cả thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại tốcáo và các quy định pháp luật về giải quyết KN-TC gắn với đặc thù địa phương

Những kỹ năng cần trau dồi đó là: kỹ năng tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo; gia tiếpcủa CBCC trong khi thực thi công vụ; phân loại, xử lý đơn thư; xác minh, xem xét và giảiquyết;… đơn thư khiếu nại tố cáo

Ví dụ tại đơn vị: Quyết định thành lập BCĐ thực hiện QCDC tại đơn vị

Công ty tôi công tác là Công ty TNHH MTV, trực thuộc Sổ Giao Thông Vận Tải TPHCM Căn cứ công văn số 26-CV/ĐU ngày 15 tháng 7 năm 2011 của Đảng Ủy Sở GiaoThông Vận Tải TP HCM về việc tổ chức học Nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quấc lần thứ XI,Đại Hội Đảng Bộ thành phố lần thứ IX, Đại Hội Đảng Bộ Sở lần thứ V

Ban Thường Vụ Đảng Ủy Công ty tôi công tác ra quyết định số 13 thành lập Ban TổChức gồm 05 đồng chí thực hiện tổ chức đợt học tập này ( gồm 1 trưởng ban, 1 phó ban và 3thành viên )

Sa khi ra quyết định, Ban Thường Vụ Đảng Ủy đưa quyết định này lên trên mạng nội bộcủa Công ty để thông báo đến những đồng chí có tên trên trong quyết định biết để thực hiệncác nội dung trong quyết định

Căn cứ vào chức danh trong quyết định, tôi là trưởng ban tổ chức đã họp các đồng chítrong Ban Tổ Chức và đề ra kế hoạch thực hiện như sau: Mời báo cáo viên là các báo cáo viênthuộc Đảng Ủy Sở Giao Thông Vận Tải, thời gian học tập Nghị quyết vào 29, 30 tháng 07năm 2011, địa điểm: Hội trường Công ty, các đối tượng tham gia học là cán bộ chủ chốt, toànthể đảng viên, toàn thể đoàn viên, các cán bộ đoàn và cán bộ công đoàn cơ sở, đồng chítrưởng Ban Tổ Chức sau khi soạn thảo kế hoạch đã trình đồng chí Bí Thư phê duyệt

Sau khi kế hoạch được phê duyệt, tôi và các đồng chí trong Ban Tổ Chức phối hợp vớiBan Chấp Hành 2 Đoàn thể cử người chuẩn bị âm thanh, ánh sáng, nhạc Quốc Ca, cắt dánphông chữ và khẩu hiệu, chuẩn bị xắp bàn ghế đúng với số lượng trong kế hoạch, chuẩn bịnước uống Tất cả những công việc trên đều được chuẩn bị hoàn chỉnh trước ngày học 01ngày

Ban tổ chức làm thư mời báo cáo viên và ghi rõ thời gian , địa điểm học gửi lên Đảng

Ủy Sở để báo cáo viên biết ngày và xắp xếp lịch giảng ( thư mời báo cáo viên được gửi trước

30 ngày )

Ban tổ chức học tập Nghị Quyết ra thông báo ngày học là ngày 29 và ngày 30 tháng 07năm 2011 thời gian; sáng từ 8 giờ đến 11 giờ; chiều từ 1 giờ 30 đến 4 giờ 30 và gửi thông báolên mạng nội bộ của công ty trước ngày học là 07 ngày để các đối tượng tham dự học biết vàxắp xếp công việc và thời gian để đii học

Trong quá trình thực hiện quyết định, Đồng chii1 Bí Thư Đảng Bộ Công ty thườngxuyên mời tôi là trưởng ban tổ chức đến để báo cáo công tác chuẩn bị đến đâu và gần ngày đihọc Đồng chí trực tiếp xuống Hội trường Công ty để kiểm tra các công tác chuẩn bị đã được

Trang 16

đầy đủ chưa nếu có gì bị thiếu kịp thời chấn chỉnh và bổ sung ngay để cho buổi học Nghịquyết đạt kết quả tốt.

Sau khi tổ chức học tập Nghị quyết XI xong, Ban Thường Vụ Đảng Ủy đã họp Ban TổChức và đánh giá việc thực hiện đạt kết quả tốt và thành công tốt đẹp

Tóm lại: Kỹ năng ra quyết định là khả năng của cán bộ lãnh đạo, quản lí biết quyết địnhlựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong công tác quản

lí, lãnh một cách kịp thời Ra quyết định là khâu mấu chốt trong quản lí, lãnh đạo Kỹ năng raquyết định là thành phần quan trọng của nhân cách quản lí Đây là sự thể hiện năng lực, trình

độ, phẩm chất của nhà quản lí Để có kỹ năng ra quyết định, người cán bộ phải học tập lâudài, hiểu biết sâu sắc lí luận, phải trải nghiệm và đúc rút kinh nghiệm liên tục

Câu 6: Theo anh, chị để ra được 01 quyết định đúng, có tính khả thi, được quần chúng nhân dân ủng hộ, quyết định lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải đáp ứng được các yêu cầu nào?

Một trong những chức năng của quản lý là ra quyết định quản lý Quyết định quản lýliên quan đến thành bại, đến hiệu quả cao thấp của toàn bộ quá trình quản lý Quyết định quản

lý được coi là sản phẩm của người lãnh đạo quản lý, người lãnh đạo thể hiện tài năng củamình là ở khâu ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định quản lý Vì vậy, để có quyếtđịnh chính xác, đúng đắn, khả thi và hiệu quả, người quản lý phải nắm vững các đặc điểm, vàitrò và yêu cầu của quyết định quản lý, phương pháp xây dựng và tổ chức thực hiện quyếtđịnh một cách khoa học Bằng những kiến thức về khoa học quản lý, trong phạm vi bài làmtôi xin đi sâu phân tích các yêu cầu cơ bản của quyết định của lãnh đạo, quản lý ở cơ sở

Trang 17

TRước tiên ta tìm hiệu khái niệm quyết định lãnh đạo, quản lý? Quyết định LĐ,QL là sựthể hiện ý chí của các chủ thể trong hoạt động LĐ,QL xã hội, tiến hành theo một trình tự, thủtục, được thể hiện dưới những hình thức nhất định như: nghị quyết, quyết định, chỉ thị…;nhằm tổ chức và điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo địnhhướng nhất định.

Để ra được một quyết định đúng, có tính khả thi, được quần chúng nhân dân ủng hộ,quyết định lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải đáp ứng được các yêu cầu sau:+

Thứ nhất, bảo đảm tính chất chính trị: qd lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở là sự cụ thể hóaNghị quyết của Đảng vào thực tiễn của địa phương cơ sở, là sự cụ thể hóa các quyết địnhquản lý của cơ quan nhà nước cấp trên, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của chính quyền cơ sởtheo quy định của pháp luật ở địa phương ơ sở Vì vậy, NQ của Đảng bộ cơ sở và Quyết địnhquản lý của chính quyền cơ sở không được trái với đường lối, chủ trương của Đảng, chínhsách, pháp luật của NN

Thứ 2, bảo đảm tính hợp pháp Hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, chính quyền cấp cơ

sở được đặt trong khuôn khổ pháp luật vì vậy các quyết định lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phảiphù hợp với các quy định của pháp luật

Thứ 3 là ban hành quyết định lãnh đạo, quản lý đúng hình thưc và thủ tục quy định Vềhình thức: các quyết định lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải đúng tên gọi, thể thức như: tiêu đề,

số, ký hiệu, ngày, tháng, năm ban hành và hiệu lực, chữ ký, con dấu,…hình thức thể hiện chủyếu bằng văn bản Vi phạm các quy định về hình thức, thể thức có thể dẫn dắt đến hậu quả làlàm cho quyết định lãnh đạo, quản lý trở thành bất hợp pháp

Thứ 4 là cần bảo đảm tính hợp lý Tính hợp lý của quyết định lãnh đạo, quản lý thểhiện:

- Quyết định lãnh dạo, quản lý phải đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà nước, tập thẻ và cánhân

- Quyết định lãnh đạo, quản lý phải cụ thể và đáp ứng được các yêu cầu của đời sống xãhội đặt ra và với các đối tượng thực hiện Một quyết định lãnh đạo, quản lý có tính khả thi caokhi được ban hành đúng lúc, phù hợp với yêu cầu lãnh đạo, quản lý ở địa phương cơ sở

- Quyết định lãnh đạo, quản lý phải mang tính hệ thống toàn diện

Thứ 5, bảo đảm kỹ thuật ban hành quyết định lãnh đạo, quản lý Yeu cầu này thể hiện:ngôn ngữ, văn phong, cách trình bày một quyết định lãnh đạo, quản lý phải rõ ràng, dễ hiểu,ngắn gọn, chính xác không đa nghĩa

* Liên hệ thực tế: Trong thực tiễn cho thấy có những quyết định quản lý khi ban hành được triển khai rộng rãi và trong quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, quá trình này cũng là quá trình đổi mới, quá trình hoàn thiện pháp luật để thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội Sự phát triển của pháp luật với sự phát triển của thực tế trong giai đoạn này không phải lúc nào cũng đạt được sự đồng bộ nhất nhất mà có lúc, có nơi còn có những khoảng cách mà Nhà nước đã và đang cố gắng khắc phục tình trạng này.

Lấy ví dụ như việc ban hành Nghị định 60/NĐ-CP của Chính phủ ngày 5/7/1994 về việc Quyền sử dụng nhà ở và Quyền sử dụng đất ở tại đô thị Nội dung chính của Nghị định này là nhà nước quy định đối với nhà và đất ở thuộc khu vực đô thị thì chủ sở hữu nhà và chủ sử dụng đất sẽ được cấp 1 giấy chứng nhận trên đó có cả 2 quyền : quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở Đây là một quyết định hợp pháp do được ban được rất nhiều người đồng tình ủng hộ, tham gia thực hiện nhưng cũng có những quyết định quản lý rất khó tổ

Trang 18

chức triển khai thực hiện Đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai, vốn là những vấn đề rất nhạy cảm trong quần chúng nhân dân Pháp luật nói chung và pháp luật đất đai nói riêng đang hành đúng thẩm quyền, đúng thể thức Tuy nhiên, về tính khoa học, tính linh hoạt, tính hiệu quả, tính toàn diện và tính khả thi của quyết định có rất nhiều vấn đề cần phải xem xét

Về tính khoa học và tính thống nhất, quyết định này có nhiều yếu tố phù hợp với mục tiêu mà chính phủ và cả người dân mong muốn : đó là nhằm quản lý chặt chẽ hơn tình hình đất đai - nhà ở tại đô thị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách đền bù, giải toả, quy hoạch, chỉnh trang đô thị cũng như các quan hệ giao dịch khác của người dân (thế chấp, chuyển nhượng ) Rõ ràng việc gắn cả 2 quyền này vào cùng một giấy chứng nhận sẽ thuận tiện hơn cho người dân khi thực hiện các quyền (chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn ) và cũng phù hợp xu thế hình thành một thị trường bất động sản ở nước ta Tuy nhiên bản thân của 2 quyền này có những điểm khác nhau rất cơ bản : đó là đối với quyền sở hữu nhà thì người chủ sở hữu có thể toàn quyền định đoạt tài sản của mình, họ

có thể thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế phần tài sản này cho bất cứ đối tượng nào mà pháp luật không cấm, tuy nhiên về quyền sử dụng đất đai thì khác, quyền của người sử dụng đất sẽ

có những giới hạn nhất định, do đó có những trường hợp có thể pháp luật về nhà ở, dân sự không cấm nhưng đối với pháp luật đất đai thì không được phép chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp Mặt khác, nội dung của Nghị định còn giao cho cả 2 ngành Xây dựng và Địa chính trong phạm vi chức năng của mình tổ chức thực hiện, mỗi ngành với nhân lực và nội dung quản lý riêng nên ban hành hướng dẫn lại chưa thống nhất Do đó, Nghị định này còn hạn chế về tính khoa học và tính thống nhất

Về tính khả thi, tính toàn diện và tính linh hoạt thì thực tế cho thấy rằng phương án tổ chức thực hiện mà Nghị định đưa ra là phải có sự phối hợp của cả hai cơ quan xây dựng và địa chính cùng thực hiện, quản lý hồ sơ lưu và bản lưu giấy chứng nhận cũng ở cả hai đơn vị, điều này trên thực tế gây rất nhiều phiền hà cho người dân vì khi có thay đổi nội dung trên giấy chứng nhận thì phải đến cả 2 cơ quan để xác nhận Mặt khác, do mỗi cơ quan chức năng quản lý khác nhau nên cơ quan nào cũng muốn giấy chứng nhận phải thể hiện đầy đủ những thông tin mình cần quản lý, điều đó càng làm cho quy trình thực hiện khó khăn hơn nhiều Lực lượng thực hiện của 2 bên cũng không đồng nhất nên cùng một nhà và đất ấy phải đo vẽ nhà đất 2 lần Ngoài ra, có rất nhiều hồ sơ nhà đất chưa đủ điều kiện cấp giấy nên để được hợp thức hóa cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì người dân phải cùng một lúc phải nộp một khoản tiền khá lớn vừa nhà, vừa đất Bên cạnh đó, trong quá trình sử dụng có khi chủ nhà hợp pháp về đất nhưng do nhà xây dựng lấn chiếm không gian hoặc xây dựng trái phép và không phù hợp với quy hoạch nên không được cấp quyền sở hữu nhà, do đó người chủ nhà này cũng không được cấp GCN Từ những vướng mắc trên cho thấy rằng tính khả thi và tính toàn diện của Nghị định là rất thấp và sau 10 năm ban hành cả nước cũng chỉ mới cấp được không quá 50% số trường hợp phải cấp, không thỏa mãn những mục tiêu đã đề ra cũng như không đáp ứng được những vấn đề mà thực tế diễn ra

* Ví dụ cụ thể 2: kiểm tra nề nếp sinh hoạt của 01 đảng viên chuyển về sinh hoạt tạm

tại chi bộ 02 được 05 tháng và đã vắng 02 kỳ họp (có thông báo)

1) Triển khai quyết định: truyền thông nội dung của buổi tiếp xúc đến các đối tượng

có liên quan: UBKT đảng uỷ, cấp uỷ chi bộ 02 và đảng viên được tiếp xúc.

2) Tổ chức thực hiện quyết định:

+ Phân công nhiệm vụ cho từng đối tượng, đơn vị: UBKT chuẩn bị các nội dung cho buổi tiếp xúc, cấp uỷ chi bộ liên hệ và đôn đốc nhắc nhở đảng viên tham gia đúng thời gian.

+ Chuẩn bị các điều kiện thuận lợi để tiến hành.

3) Kiểm tra thực hiện quyết định:

+ Trong buổi tiêm, nắm bắt tình hình, tâm tư của đảng viên.

Trang 19

Giám sát quy trình tiếp xúc theo đúng quy định: phong cách tiếp xúc, lời nói, cử chỉ… 4) Tổng kết, đánh giá việc thực hiện quyết định:

+ Sau buổi tiếp xúc đề xuất phương án thực hiện: vận động đảng viên làm đơn xin tạm miễn sinh hoạt trong 6 tháng.

+ Đánh giá hiệu quả thu được qua buổi tiếp xúc.

Câu 7: Phân tích những kỹ năng cần thiết của người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở khi tiến hành diễn thuyết trước công chúng

Chuẩn bị diễn thuyết

* Nghiên cứu đối tượng

- Sự cần thiết phải nghiên cứu đối tượng:

Trong diễn thuyết trước công chúng, đối tượng quy định việc xác định nội dung, lựa chọn phương pháp diễn thuyết Đối với những đối tượng khác nhau, nội dung phương pháp phát biểu, trình bày phải khác nhau Vì vậy, nghiên cứu

về đối tượng là công việc đầu tiên mà người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tiến hành trước khi diễn thuyết Sinh thời Bác Hồ thường xuyên căn dặn cán bộ

tuyên truyền, nhà văn, nhà báo phải tự đặt câu hỏi: “Viết cho ai xem? Nói cho ai

nghe?” trước khi nói, viết một vấn đề nào đó.

- Nội dung nghiên cứu đối tượng:

+ Nghiên cứu đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu: các đặc điểm về thành

phần xã hội - giai cấp, nghề nghiệp, học vấn, giới tính, tuổi tác của đối tượng.

+ Nghiên cứu các đặc điểm về tư tưởng và tâm lý - xã hội: hệ thống các

quan điểm, chính kiến, động cơ, khuôn mẫu tư duy, tâm trạng và trạng thái thể chất của họ.

+ Nghiên cứu về nhu cầu, thị hiếu thông tin; thái độ của người nghe đối với nguồn thông tin và nội dung thông tin; con đường, cách thức thỏa mãn nhu cầu thông tin của đối tượng.

Trang 20

Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm này và xuất phát từ các đặc điểm này, người cán bộ lãnh đạo, quản lý xác định mục đích, nội dung, phương pháp diễn thuyết phù hợp.

* Chọn chủ đề cho bài diễn thuyết phri đạt các yêu cầu sau:

Một là, bài diễn thuyết phải mang đến cho đối tượng công chúng những

thông tin mới, hấp dẫn.

Hai là, nội dung chủ đề diễn thuyết phải mang tính thiết thực, đáp ứng

nhu cầu thông tin, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân.

Ba là, chủ đề bài diễn thuyết mang tính thời sự, tính cấp thiết tức là nói

phải đề cập đến những vấn đề đang tác động lớn đến dư luận xã hội, những vấn

đề mà công chúng đang quan tâm.

Bốn là, nội dung chủ đề bài diễn thuyết phải mang tính giáo dục tư tưởng,

tức là nói phải góp phần giáo dục tư tưởng cho người nghe, góp phần giúp người nghe hiểu đúng đường lối, chính sách, pháp luật và quyết tâm thực hiện chúng.

* Xây dựng đề cương bài diễn thuyết

- Đề cương bài diễn thuyết cần đạt tới các yêu cầu sau:

+ Phải thể hiện mục đích tuyên truyền, thuyết phục Đề cương là sự cụ thể hóa mục đích tuyên truyền bằng các phần, các mục, các luận điểm, luận cứ, luận chứng.

+ Phải chứa đựng, bao hàm nội dung tuyên truyền một cách lôgíc

- Cần xây dựng nhiều phương án của đề cương, từ đó chọn phương án tối

ưu Phương án tôi ưu là phương án phù hợp với một đối tượng công chúng cụ thể, xác định Quá trình xây dựng đề cương có thể thay đổi, bổ sung hoàn thiện dần từ thấp đến cao, từ đề cương sơ bộ đến đề cương chi tiết.

- Kết cấu đề cương:

Phần mở đầu:

+ Chức năng của phần mở đầu: là phần nhập đề cho chủ đề bài diễn thuyết; là phương tiện giao tiếp ban đầu với người nghe, kích thích sự hứng thú của người nghe đối với nội dung bài diễn thuyết.

+ Yêu cầu đối với phần mở đầu: phải tự nhiên và gắn với các phần khác trong bố cục toàn bài cả về nội dung và phong cách ngôn ngữ; ngắn gọn, độc đáo và tạo hấp dẫn đối với người nghe.

Phần chính của bài diễn thuyết:

+ Đây là phần dài nhất, quan trọng nhất, quy định chất lượng của bài diễn thuyết, là phần bao hàm, phát triển nội dung diễn thuyết một cách toàn diện, sâu sắc.

Trang 21

+ Nếu như chức năng đặc trưng của phần mở đầu là thu hút sự chú ý của người nghe ngày từ đầu thì chức năng đặc trưng của phần chính là lôi cuốn ý nghĩ, kích thích tư duy của họ bằng sức thuyết phục của lôgíc trình bày.

Việc chuẩn bị phần chính của bài diễn thuyết cần đạt được các yêu cầu sau:

+ Bố cục chặt chẽ, được trình bày lập luận theo những quy tắc, phương pháp nhất định.

Phần kết luận có chức năng đặc trưng sau:

+Tổng kết những vấn đề đã nói

+ Củng cố và làm tăng ấn tượng về nội dung bài nói

+Đặt ra trước người nghe những nhiệm vụ nhất định và kêu gọi họ đi đến hành động.

+ Kết luận phải đạt tới yêu cầu ngắn gọn, giàu cảm xúc nhưng tự nhiên, không giả tạo và được sử dụng để kết thúc bài diễn thuyết.

b Tiến hành diễn thuyết trước công chúng

Trong quá trình diễn thuyết, người nói tác động đến người ngheo chủ yếu

thông qua hai kênh: kênh ngôn ngữ và kênh phi ngôn ngữ (mối quan hệ người

người nghe – người nói cũng được thực hiện bằng kênh này).

- Kênh ngôn ngữ (Có tài liệu gọi là cận ngôn ngữ, tức là những yếu tố đi

liền với ngôn ngữ) Khi dùng kênh ngôn ngữ có thể sử dụng các yếu tố như ngữ

điệu, cường độ, âm lượng, nhịp độ lời và sự ngừng giọng để tạo ra sự hấp dẫn cho bài nói.

+ Ngữ điệu của lời nói phải phong phú, biến hóa, có sự vận động của âm

thanh, tránh cách nói đều đều, đơn điệu, buồn tẻ.

+ Cường độ lời nói (nói to hay nói nhỏ) cần phù hợp với khuôn khổ kích

thước của hội trường, số lượng và đặc điểm người nghe Cần điều chỉnh cường

độ lời nói đủ để người ngồi xa nhất có thể nghe được.

+ Nhịp độ lời nói (nói nhanh hay nói chậm) do nội dung bài nói, tình

huống và không gian giao tiếp, khả năng hoạt động của tư duy và sự chú ý của người nghe quy định.

Trang 22

+ Ngừng giọng cũng là yếu tố của kỹ năng sử dụng kênh ngôn ngữ trong

diễn thuyết Việc sử dụng kỹ năng ngừng giọng là để nhấn mạnh tầm quan trọng, tạo ra sự tập trung chú ý của người nghe đối với một vấn đề nào đó.

- Kênh phi ngôn ngữ (có tài liệu gọi là kênh tiếp xúc cơ học hay các yếu

tố về hành vi) Kênh này bao gồm các yếu tố như tư thế, vận động và cử chỉ, nét

mặt, nụ cười chúng là những yếu tố được quy định bởi phong cách và thói quen

cá nhân.

+ Tư thế đứng trước công chúng: phải tự nhiên, linh hoạt Trong suốt

buổi nói chuyện diễn thuyết phải có vài lần thay đổi tư thế để người nghe không cảm thấy mệt mỏi, nhưng cũng không nên thay đổi tư thế nhiều.

+ Cử chỉ và diện mạo: phải phù hợp với ngữ điệu của lời nói và cảm xúc,

với sự vận động của tư duy và tình cảm Nét mặt, nụ cười, ánh mắt có thể truyền đạt hàng loạt các cảm xúc: niềm vui hay nỗi buồn, sự kiên quyết hay nhân nhượng, sự khẳng định hay nghi vấn mà nhờ nó người nói gieo được lòng tin,

sự hào hứng vào tâm hồn, trí tuệ người nghe.

Các yếu tố trên đây tác động lên thị giác của người nghe và đồng thời có tác dụng nâng cao hiệu quả tri giác thông tin của họ Chúng còn được kết hợp phù hợp với tính chất nội dung thông tin và với các yếu tố ngôn ngữ để nâng cao chất lượng bài phát biểu.

- Một số cách nói thu hút sự chú ý và gây ấn tượng đối với người nghe

khi diễn thuyết:

+ Tăng hàm lượng thông tin bằng cách xử lý tốt lượng dư thừa của ngôn ngữ diễn đạt.

+ Tăng sức hấp dẫn của thông tin bằng cách sử dụng yếu tố bất ngờ, cách trình bày độc đáo.

+ Sử dụng một số biện pháp ngôn ngữ như: dùng từ láy, ẩn dụ, câu đảo đổi, câu đối chọi và các biện pháp tu từ ngữ âm như: biện pháp hòa bình đối thanh điệu, biện pháp lặp số lượng âm tiết, lặp vần, biện pháp tạo nhịp điệu

+ Trình bày cái cụ thể xen kẽ cái trừu tượng, trình bày sự kiện xen kẽ các khái niệm, phạm trù quy luật.

+ Nắm vững nghệ thuật sử dụng các con số Có thể sử dụng kỹ năng để làm cho một số nhỏ thành số lớn hoặc ngược lại làm cho một số lớn thành số nhỏ; hoặc so sánh số đó với số khác để làm bật ý nghĩa của con số đang sử dụng.

+ Phát biểu theo kiểu ngẫu hứng, thoát ly đề cương.

- Thủ thuật tái lập sự chú ý

Trong quá trình trình bày, do tác động của một nguyên nhân khách quan,

sự chú ý của người ngheo có thể bị suy giảm Trong trường hợp này, người nói phải phát hiện những dấu hiệu đó thông qua việc quan sát thái độ, hành vi của

Trang 23

người nghe và chủ động tìm cách khắc phục.Dựa trên những quy luật tâm - sinh

lý, người ra đưa một số kỹ xảo, thủ thuật sau mà người diễn thuyết có thể sử dụng để tái lập và tăng cường sự chú ý:

+ Cử chỉ, vận động và sự kết hợp chúng với các thủ thuật khác Chẳng

hạn, có thể rời bục giảng tiến gần về phía người nghe hoặc đi vào giữa hội trường tiếp tục nói.

+ Thủ thuật âm thanh: nói to lên hoặc nói nhỏ đi (gần như nói thầm)

+ Sử dụng các phương tiện trực quan như sơ đồ, bản đồ, biểu bảng, băng ghi hình và kết hợp các phương tiện đó với phương tiện ngôn ngữ.

+ Thay đổi trạng thái giao tiếp từ độc thoại sang đối thoại bằng cách đặt các câu hỏi và đề nghị người nghe trả lời.

+ Hài hước: Chuyển sang nói bằng giọng hài hước, sử dụng biện pháp

gây cười như: chơi chữ, nói lái, nói thiếu, nói tước bỏ ngữ cảnh, kỹ thuật tương phản hoặc kể một câu chuyện cười phù hợp để giảm bớt sự căng thẳng, khôi phục lại sự chú ý.

- Kỹ năng trả lời câu hỏi khi thực hiện đối thoại.

+ Việc trả lời các câu hỏi của người nghe là công việc bình thường của cán bộ lãnh đạo, quản lý nhất là trong điều kiện dân chủ hóa và tăng cường các phương pháp đối thoại với quần chúng.

+Cán bộ lãnh đạo, quản lý cần thiết phải trả lời câu hỏi của quần chúng

và tạo điều kiện, giành thời gian trong mỗi lần nói chuyện để họ được hỏi về những vấn đề mà họ quan tâm nhưng chưa được giải thích hoặc giải thích chưa rõ.

Các kỹ năng cần thiết khi trả lời câu hỏi:

+ Trả lời rõ ràng, đúng, trúng yêu cầu của câu hỏi.

+ Lập luận có cơ sở khoa học, có căn cứ xác đáng, trên cơ sở các quy luật lôgíc và phương pháp chứng minh, lời nói nhã nhặn, khiêm tốn, phù hợp với quan hệ và giao tiếp.

+ Có thể đặt tiếp những câu hỏi gợi ý để người nghe tự trả lời câu hỏi của mình thông qua việc trả lời câu hỏi gợi ý của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

+ Có thể trả lời ngay hoặc hẹn vào một thời điểm khác (cuối giờ, cuối

buổi, hoặc sang ngày khác nếu còn tiếp tục nói chuyện) để có thêm thời gian

chuẩn bị trả lời Nếu xét thấy khó trả lời thì tìm cách nói để người hỏi thoải mái, thông cảm Không nên trả lời những vấn đề mà mình chưa nắm vững.

+ Nếu người nghe đưa ra nhiều câu hỏi quá thì có thể tìm cách hạn chế bớt phạm vi vấn đề của các câu hỏi.

Trang 24

+ Từ chối những câu hỏi liên quan đến lợi ích quốc gia hoặc hướng dẫn

họ gặp những người có trách nhiệm.

* Liên hệ thự tế:

Ưu điêm

- Nắm chắc các quan điểm của đảng, nói đúng trọng tâm, trọng điểm

- Tự tin, bình tĩnh trước đám đông

- Có chuẩn bị đề cương, đề cương có tính giáo dục về TT, đạo đức

- Xử lý tình huống nhanh gọn, giải quyết được vần đề

- Kết hợp giửa cử chỉ và lời nói

- Trang phục gọn gàng, lịch sự

- Giọng nói nói to, nói rõ, dễ nghe

- Ứng dụng công nghệ TT trong diễn thuyết

Hạn chế

- Bài nói chưa sinh động nên không thu hút người nghe

- Trình bày dài dòng, dẫn chứng thực tế ít

- Lập từ trong bài diễn thuyết

- Dùng từ khó hiểu, chưa sát với thực tế đại phương

- Còn chú ý nhiều vào tài liệu

- Chưa kiểm soát được thời gian

- Có 1 vài động tác thừa

- Bố cục trình bày chưa chặt chẽ

Giải pháp

- Không ngừng học tập nâng cao trình độ CM, bản lĩnh chính trị

- Áp dụng rộng rãi CNTT trong bài giảng

- Đề xuất cấp trên mở các lớp tập huấn cho lãnh đạo quản lý ở cơ sở để trang bị kỷnăng tuyên truyền thuyết phục trước công chúng

- Mời các báo cáo viên cấp trên về tác nghiệp tại cơ sở

Phải liên hệ thực tế nội dung diễn thuyết

Tóm lại: Để trả lời những câu hỏi khó, phức tạp, đỏi hỏi người cán bộ

lãnh đạo, quản lý phải có phản ứng nhanh về cách trả lời và phải thường xuyên tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng, có sự hiểu biết rộng, sâu sắc về văn hóa chung và có kinh nghiệm tốt về văn hóa đối thoại.

Câu 8: Trình bày các quy tắc vận động hành lang

Vận động hành lang xuất hiện đầu tiên ở nước Anh, nó gắn liền với sự ra đời của nền dân chủ đại diện Vận động hành lang được lấy theo tên địa điểm

mà hoạt động này diễn ra đầu tiên trong lịch sử, đó là hành lang của Nghị viện Anh, nơi mà trong thời gian nghỉ giải lao, các nghị sỹ thường trao đổi với đồng nghiệp, hoặc các cử tri tập trung để trình bày ý kiến, kiến nghị với các đại diện của mình Tại các hành lang lớn này đã diễn ra các cuộc vận động, thuyết phục giữa các cử tri và các nghị sỹ nhằm mục đích gây ảnh hưởng đến những vấn đề

Trang 25

sẽ được tranh luận và thông qua ở Nghị viện Trong phạm vi bài viết ta đi sâu nghiên cứu về các nguyên tắc vận động hành lang?

TRước tiên ta tìm hiểu khái niệm về vận động hành lang? Vận động hành lang là nghệthuật khai thác các khả năng các cơ may để thuyết phục các nhà hoạch định chính sách, cáccán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trên, các đại biểu HĐND, đại biểu Quốc hội ủng hộ các chươngtrình công tác của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở đồng thời vận động họ có sự tác độnglàm thay đổi chính sách theo hướng có lợi cho công tác lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở

Mục đích của vận động hành lang ko phải là nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành

vi của đối tượng thực hiện đường lối, chính sach, pháp luật mà là tác động nhằm thay đổi cácchính sách, các chương trình phát triển

Đối tượng của vận động hành lang là những ng tham gia vào quá trình chuẩn bị vàthông qua các quyết định, các chính sách phát triển Đó là những cán bộ lãnh đạo, quản lý cấptrên cấp ủy, UBND, đại biểu HĐND, đại biểu QH,

* Các quy tắc của vận động hành lang

- Xác định rõ ngay từ đầu mục đích vận động

- Nắm vững đối tượng vận động hành lang: họ là ai? Giữ chức vụ gì? Trong cơ quannào? Đồng thời cần nắm vững những thông tin về quan điểm, phong cách công tác về vai tròcủa họ trong tổ chức mà họ tham gia và vai trò cua họ trong việc tham gia soạn thảo, ban hànhcác quyết định, các vấn dề cần vận động

- Nắm vững thông tin về các tổ chức, các ủy ban và cv của tổ chức mà các nhà lãnhđạo, quản lý tham gia Như các thông tin: cv, time, lịch trình công tác, các cuộc hội thảo, quan

- Chủ động tạo time và thời cơ cho các cuộc tiếp xúc Thông thường các nhà hoạchđịnh chính sách, cb lãnh đạo, quản lý cấp trên có rất ít time rỗi và ko thích thú các cuộc gặp

gỡ này Cho nên, khi vận động hành lang phải nắm đc thời gian biểu hoạt động của họ để lập

KH về time gặp gỡ Giờ giải lao, trước và sau làm viejc, bữa ăn trưa là những cơ may đặc biệt

Tóm lại, lý hoạt động này nhằm khắc phục, hạn chế sự lợi dụng, làm biến dạng Vậnđộng hành lang là một hoạt động chính trị cần thiết trong xã hội dân chủ đại diện Bản chấtcủa hoạt động này không xấu, nó chỉ xấu khi bị người ta lợi dụng trong những môi trường,điều kiện cụ thể nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân hoặc nhóm nhỏ cục bộ Vì vậy cần phải cókhung pháp lý để điều chỉnh và quản hoạt động này trong xã hội của những người, nhómngười mưu lợi ích cá nhân

Trang 26

Câu 9: Trình bày nguyên tắc và quy trình bổ nhiệm CB hiện nay?

Sử dụng CB là nội udng quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định trong công tác CB nóichung, trong quản lý cán bộ nói riêng Sử dụng CB bao gồm một số khâu trong quản lý cBnhư: ựa chọn, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động và thực hiện các chính sách đối với cán bộ.Trong phạm vi bài làm tôi xin đi sâu nghiên cứ và phân tích các nguyên tắc và quy trình bổnhiệm cán bộ hiện nay

Trước tiên ta tìm hiểu khái niệm bổ nhiệm cán bộ là gì? Bổ nhiệm cán bộ, theo quyđịnh của Đảng hiện nay, là quyết định cử cán bộ giữ 1 chức vụ lãnh đạo, trong bộ máy tổchức, thực chất là giao trách nhiệm, quyền hạn cho cán bộ lãnh đạo một ban, một bộ, mộtngành, một cơ quan đơn vị,… Đây là khâu quyết định trong công tác cán bộ

Vậy bổ nhiệm cán bộ gồm những nguyên tắc nào?

Bao gồm những nguyên tắc sau:

Một là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ Đảng làngười đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, tiêu chuẩn, quy chế, quy định về công tác CBcho cả hệ thống chính trị Đảng trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạochủ chốt các ngành, các cấp

Hai là, cấp ủy, tổ chức Đảng và tập thể lãnh đạo các cơ quan có thẩm quyền xem xét,quyết định một cách dân chủ trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm và quyền hạn của từngthành viên, nhất là của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

Trang 27

Ba là, phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan đơn vị; phải căn cứ vào phẩmchát, đạo đức, năng lực và sở trường của cán bộ.

Bốn là, đảm bảo sự ổn định, kế thừa và phát triển của đội ngũ cán bộ, nâng cao chấtlượng và hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ quan, đơn vị

Trong quy chế bổ nhiệm cán bộ, Bộ Chính trị quy định giao cho các bộ ngành địaphương xây dựng trình tự, thủ tục bổ nhiệm cán bộ của địa phương mình (được phân cấp).Trong quá trình nghiên cứu thực tế ở các bộ ngành, địa phương, nhận thấy các bước chungnhất có thể áp dụng cho cán bộ cấp cơ sở như sau:

Một là, người đứng đầu và các thành viên trong ban lãnh đạo tổ chức đảng (cấp ủyđảng, chi bộ) và người đứng đầu cơ quan, đơn vị đề xuất nhân sự dự kiến bổ nhiệm Nhữngngười có trách nhiệm đề xuất nhân sự tiến hành đánh giá, nhận xét đầy đủ về cán bộ được dựkiến bổ nhiệm, làm căn cứ cho tập thể lãnh đạo xem xét quyết định (cần đánh giá bằng vănbản để lưu trong hồ sơ cán bộ)

Hai là, tổ chức lấy ý kiến cán bộ, công chức trong cơ quan đơn vị công tác Cấp cóthẩm quyền quản lý cán bộ tiến hành các bước lấy ý kiến cán bộ, công chức trong cơ quanđơn vị về cán bộ dự kiến bổ nhiệm như sau: tổ chức lấy phiếu tín nhiệm và hỏi ý kiến Nêumục đích, yêu cầu đánh giá tín nhiệm của quần chúng về nhân sự dự kiến bổ nhiệm Công bốtiêu chuẩn CB cần bổ nhiệm Lập danh sách và bỏ phiếu kín Phiếu tín nhiệm ko có giá trị nhưphiếu bầu cử, song có giá trị tham khảo quan trọng Phiếu thăm dò tín nhiệm hoặc phiếu đánhgiá cán bộ trước khi bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý cần được chuẩn bị công phu, thể hiệnđầy đủ các nội dung quan trọng nhất cần đánh giá về người cán bộ

Ba là, tập thể lãnh đạo xem xét, quyết định bổ nhiệm hoặc trình lên cấp trên bổ nhiệmtheo quy định phân cấp quản lý cán bộ Tập thể lãnh đạo (cấp ủy Đảng, BTV cấp ủy có thẩmquyền) cơ quan, đơn vị, địa phương căn cứ vào ý kiến đề xuất của các cá nhân có trách nhiệmquản lý cán bộ, căn cứ vào sự tín nhiệm cuả tập thể cán bộ, công chức viên chức trong cơquan đơn vị về nhân sự dự kiến bổ nhiệm, tiến hành xem xét đánh giá 1 cách toàn diện nhữngnhân sự dự kiến bổ nhiệm, sau đó quyết định theo ý kiến của đa số các thành viên trong banlãnh đạo Trường hợp có những ý kiến trái ngược nhau về nhân sự dự kiến bổ nhiệm giữangười đứng đầu tổ chức đảng và người đứng đầu cơ quan, đơn vị, thì báo cáo lên cấp có thẩmquyền quản lý cán bộ cấp trên xem xét quyết định

Quy trình bổ nhiệm cán bộ nói trên được áp dụng chung cho các đối tượng cán bộ, tuynhiên đối với những CB thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Chính trị, Ban Bí thư được quyđịnh riêng

Thực trạng : Hiện nay, công tác quy hoạch cán bộ được triển khai rộng rãi với cách

làm dân chủ hơn, đổi mới nội dung và cách làm theo phương châm “động” và “mở, khắc phụcnhững biểu hiện thiếu tin, ngại khó, làm quy hoạch một cách hình thức, đối phó Tuy nhiênvẫn còn một số nơi thực hiện khá lúng túng, hình thức, hiệu quả thấp Nhiều nơi quy hoạchxong để đấy, quy hoạch một đường làm một nẻo Vì vậy việc bố trí sắp xếp cán bộ còn chấp

vá, bị động, tình trạng hụt hẫng cán bộ kế thừa ở các cấp các ngành, địa phương còn khá phổbiến Một vấn đề khác cần lưu ý là công tác hậu quy hoạch, tránh tình trạng đối tượng đượcquy hoạch ỷ lại, thiếu rèn luyện dẫn đến sa sút phẩm chất; ngược lại những cán bộ năng nổnhiệt tình nhưng không được quy hoạch do thiếu một vài tiêu chuẩn thì lại mất hết nhiệt tìnhcông tác

Hiện nay, chủ trương luân chuyển cán bộ đã thực hiện thành công ở một số nơi và là một trong những giải pháp đột phá về công tác cán bộ trong tình hình hiện nay Cán bộ được luân chuyển đã thể hiện bản lĩnh và năng lực lãnh đạo trưởng thành nhanh hơn Tuy nhiên trong thực tế việc bố trí bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ thường chịu sự tác động của hàng

Trang 28

loạt các yếu tố tâm lý XH khác nhau dẫn đến kết quả xa rời nguyên tắc cơ bản là xuất phát từ yêu cầu công việc và quy hoạch cán bộ Không ít trường hợp bố trí luân chuyển cán bộ không bắt nguồn từ những động cơ trong sáng vừa làm nản lòng cán bộ, vừa không đáp ứng được mục tiêu và lợi ít của công việc Ảnh hưởng của những quan niệm phong kiến của quy luật tình cảm “yêu nên tốt, ghét nên xấu”, của sức ép tâm lý “phải chờ đến lượt”, “sống lâu lên lão làng” trong việc bổ nhiệm bố trí cán bộ tạo nên một sức ỳ rất lớn trong công tác cán bộ.

Để khắc phục nhược điểm trên, việc bố trí bổ nhiệm luân chuyển cán bộ phải thực hiện đúng nguyên tắc: mục tiêu-tổ chức-con người, phải đảm bảo bố trí bổ nhiệm luân chuyển đúng người, đúng việc, đúng lúc, đúng yêu cầu Cấp uỷ địa phương đơn vị có cán bộ được điều động luân chuyển về phải tạo điều kiện cho cán bộ là tốt nhiệm vụ, đồng thời phải ngăn ngừa việc lợi dụng luân chuyển cán bộ để đẩy những người không “ăn cách” đi nơi khác.

Để khắc phục tình trạng trên, cần kiên trì và tích cực triển khai chiến lược cán bộ, coitrọng công tác quy hoạch cán bộ, chuẩn bị lớp cán bộ kế cận Thực hiện nghiêm tiêu chuẩnhóa về chất lượng đạo đức và chuyên môn đối với cán bộ, công chức ở mỗi cương vị, công tác

và căn cứ vào những biểu hiện trong thực tế của cán bộ trên cả ba mặt: lý tưởng, đạo đức lốisống, trình độ năng lực để xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo và quản lý, nhất là quy hoạchngười đứng đầu Phải tuân thủ đúng hướng dẫn của TW về công tác quy hoạch cán bộ, coitrọng khả năng đoàn kết tập thể, đồng chí, đồng nghiệp Đồng thời phải định kỳ xem xét, đánhgiá cán bộ trong diện quy hoạch để có sự bổ sung điều chỉnh cần thiết

Kết luận Công tác cán bộ bao giờ cũng là công tác quan trọng và khó khăn, phức tạp.

Nó vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Để làm tốt công tác này, người đứngđầu cơ quan, người làm công tác tổ chức cán bộ phải nắm vững các khía cạnh tâm lý cán bộ,phải có phẩm chất chính trị đặc biệt là bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, nhất là tínhnhân văn, trình độ năng lực, nhất là tầm nhìn chiến lược, sự nhạy cảm nghề nghiệp và ở óc tổchức, phương pháp làm việc, nhất là tính dân chủ khách quan, vô tư và trong sáng Bởi lẽmọi quyết định của họ có ý nghĩa quyết định không chỉ đến sinh mệnh của cán bộ mà còn ảnhhưởng đến uy tín và sức mạnh của cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ Thực hiện tốt chiếnlược cán bộ, nhất định chúng ta sẽ xây dựng được đội ngũ cán bộ đảng viên “vững vàng vềchính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ kiến thức và năng lực hoạtđộng thực tiễn”./

Trang 29

Câu 10: Trình bày các nguyên tắc đánh giá cán bộ ở cơ sở?

Sự nghiệp phát triển đất nước luôn đi đầu bằng việc phát triển nguồn nhân lực có chấtlượng Nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị đóng vai trò to lớn trong toàn bộ nguồn nhânlực quốc gia, điều này đã được chứng minh trong hệ thống các công trình nghiên cứu và trongthực tiễn của thế giới và Việt Nam Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đãđược Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam xác định là nền tảng tư tưởng và kim chỉ namcho hành động của mình trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Người viết: “Kinhnghiệm cho biết: mỗi lần xem xét lại nhân tài, một mặt thì tìm thấy những nhân tài mới, mộtmặt khác thì những người hủ hóa cũng lòi ra”

Đánh giá cán bộ là khâu đầu tiên trong công tác cán bộ, là căn cứ để tuyển chọn, quyhoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dựng, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện cácchế độ, chính sách đối với cán bộ Đánh giá cán bộ là việc làm khó, rất nhạy cảm vì có ảnhhưởng đến tất cả các khâu khác của công tác cán bộ, có ý nghĩa quyết định trong việc pháthiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật và thựchiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ cũng như giúp cán bộ phát huy ưu điểm, khắc phụcnhược điểm, tiến bộ không ngừng trong việc nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cáchmạng, năng lực và hiệu quả công tác của cán bộ

Để đánh giá đúng cán bộ, công tác đánh giá cán bộ trước hết phải nắm vững nhữngnguyên tắc sau đây:

+ Các cấp ủy đảng mà thường xuyên và trực tiếp là Ban Thường vụ huyện ủy, BanThường vụ đảng ủy cấp cơ sở thống nhất quản lý công tác đánh giá trong phạm vi trách nhiệmđược phân công

+ Đánh giá cán bộ phải lấy tiêu chuẩn và hiệu quả công tác làm thước đo, bảo đảmnguyên tắc tập trung dân chủ và đúng quy trình

+ Đánh giá cán bộ phải khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển

Trong công tác cán bộ, việc đánh giá cán bộ là quan trọng nhất Thực tế cho thấy, đánhgiá vẫn là khâu yếu nhất trong công tác cán bộ hiện nay Do đó, đổi mới công tác đánh giá cán

bộ đang là một đòi hỏi cấp bách Nghị quyết số 12-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hànhTrung ương Đảng (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay đã chỉ rõ:

“Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không vì yêu cầucông việc, bố trí không đúng sở trường, năng lực, ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, sựphát triển của ngành, địa phương và cả nước.”; “Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang,cục bộ, chưa chú trọng phát hiện và có cơ chế thật sự để trọng dụng người có đức, có tài;không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực yếu kém.” Có thể nóirằng, thực trạng của công tác đánh giá cán bộ hiện nay nổi lên nhiều vấn đề như: cảm tính,cào bằng, không dân chủ, phiến diện, qua loa…

Trang 30

Do đó, để xây dựng được nguồn nhân sự đủ về lượng và đúng về chất, người lãnh đạoquản lý ở cơ sở cần đảm bảo thực hiện cả ba nguyên tắc trên mà không được coi nhẹ nguyêntắc nào.

Trong giai đoạn hiện nay, công tác cán bộ nói chung và việc đánh giá, sử dụng cán bộ nói riêng phải luôn luôn nắm vững những quan điểm cơ bản, chung nhất của Đảng ta về côngtác cán bộ mà NQTW 9 khóa X đã đề ra Đó là: Phải thường xuyên chăm lo xây dựng độingũ cán bộ, đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Phảixuất phát từ chiến lược phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ Tổ quốc, từ yêu cầu nhiệm vụ củathời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quántriệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, truyền thốngyêu nước, đại đoàn kết gắn bó mật thiết với nhân dân Phải gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộvới xây dựng tổ chức và đổi mới cơ chế, chính sách, với việc học tập và làm theo tấm gươngđạo đức Hồ Chí Minh Phải thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhândân, nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để tuyển chọn, giáodục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ Phải dựa vào dân để phát hiện, kiểm tra và giám sát cán bộ.Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tậptrung dân chủ đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chứctrong hệ thống chính trị… Trên cơ sở các quan điểm chung đó, điều cần thiết là phải xácđịnh cho thật rõ những yêu cầu cụ thể sau đây đối với việc đánh giá cán bộ:

- Để đánh giá và sử dụng đúng cán bộ, phải đặt cán bộ trong các mối quan hệ cụ thể của

nó Đó là những mối quan hệ với đường lối, chủ trương, tổ chức,cơ chế, chính sách, nhiệm

vụ, hoàn cảnh, điều kiện sống và làm việc của cán bộ Thực tiễn tác động rất lớn đến cán bộ,khiến cho những mặt tốt và mặt xấu ở từng cán bộ được bộc lộ

- Đánh giá cán bộ phải theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin về sự phát triển của

cá nhân Sự phát triển đó diễn ra hàng ngày,hàng giờ do hoạt động rèn luyện tự thân của từngcán bộ cộng với sự giúp đỡ của bạn bè Sự phát triển đó có thể diễn ra theo chiều hướng tốt,cũng có thể diễn ra theo chiều hướng xấu Vì vậy, không nên đặt người cán bộ ở trạng tháitĩnh để đánh giá Nếu chỉ nhìn cán bộ với con mắt, với thước đo anh ta là con người hôm qua,chứ không phải là con người hôm nay thì không thể nào đánh giá chính xác cán bộ được

- Đánh giá cán bộ phải thật sự khoa học, khách quan, công tâm và phải tuân theonguyên tắc tập thể, dân chủ, công khai Khoa học đòi hỏi phải căn cứ vào tiêu chuẩn, mặtkhác phải nắm vững và hiểu biết một cách toàn diện: từ tâm lý lứa tuổi, tâm lý giai cấp đếnquá trình phấn đấu rèn luyện của họ

Tiêu chuẩn cán bộ là sự cụ thể hóa những yêu cầu khách quan của đường lối, nhiệm vụchính trị của Đảng thành những tiêu chí đòi hỏi đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước phảivươn lên đáp ứng Tiêu chuẩn cán bộ vì vậy, là yếu tố khách quan, là thước đo tin cậy để đánhgiá đúng phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước Đánh giá cán bộ cầnphải kết hợp tiêu chuẩn và hiệu quả hoạt động thực tiễn làm thước đó phẩm chất năng lực cán

bộ Hiệu quả hoạt động thực tiễn được thể hiện ở hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị - xãhội Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Đánh giá cán bộ phải côngkhai, minh bạch, khách quan, toàn diện và công tâm, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chínhtrị làm thước đo phẩm chất và năng lực cán bộ”

Khách quan là phải tôn trọng sự thật, tôn trọng nhân cách, cá tính riêng của mỗi người.Công tâm là không bao giờ được phép “yêu nên tốt, ghét nên xấu” Tập thể là những quyếtđịnh về cán bộ và công tác cán bộ phải do tập thể có thẩm quyền quyết định Công khai làkhông giấu giếm, không bí mật; đối tượng được đánh giá phải được biết những ý kiến nhậnxét của cấp có thẩm quyền đối với bản thân mình; nếu cần có thể được đối thoại, chất vấn

Trang 31

Đánh giá cán bộ phải theo từng bước Cán bộ tự đánh giá, tự xác định nhiệm vụ nàomình sẽ làm được, làm tốt Cấp ủy phải tìm hiểu kỹ cán bộ, xem xét tất cả các mối quan hệ,quá trình phấn đấu của cán bộ, tập hợp các thông tin khác nhau về cán bộ, trên cơ sở đó traođổi trong tập thể lãnh đạo, trao đổi với người được đánh giá một cách công khai, khách quan,dân chủ Mỗi khi nhận xét, đánh giá cán bộ, cần ghi chép bằng văn bản và lưu giữ vào hồ sơcán bộ, làm căn cứ cho quá trình phấn đấu của cán bộ.

Thực trạng : Hiện nay trong công tác nhận xét đánh giá cán bộ đã có tiêu chí rõ ràng

hơn trong việc đánh giá cán bộ, có tính dân chủ (cán bộ tự đánh giá, bỏ phiếu tính nhiệm )

Đã có sự phân công phân cách trong việc nhân xét đánh giá cán bộ (cấp trên nhận xét đánhgiá cấp dưới)

Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng khâu yếu nhất hiện nay trong công tác cán bộ là khâuđánh giá cán bộ Đã có nhiều cán bộ, kể cả cán bộ đảng viên do Trung ương quản lý vẫn dínhlíu đến các vụ án tham ô, tham nhũng (vụ cấp quota, dầu khí, băng nhóm Năm Cam ) và sađọa về mặt đạo đức điều này cho thấy rằng việc đánh giá cán bộ của ta hiện nay vẫn cònyếu kém Công tác phê bình và tự phê bình, đánh giá cán bộ hàng năm tuy có cố gắng, songvẫn còn chậm, phương pháp và cách làm chưa thống nhất Kết quả đánh giá cán bộ còn chungchung, thiếu cụ thể, chưa phản ánh đúng kết quả công tác của cán bộ, cán bộ lãnh đạo ít đượcnhận xét khách quan, nhất là các khuyết điểm, tình trạng thiên vị, nể nang trong nhận xét đánhgiá còn khá phổ biến Công tác nhận xét đánh giá cán bộ một số nơi chưa sâu, nhiều trườnghợp thiếu chính xác, thiếu căn cứ khách quan, có nơi vì tình trạng phe cánh, cục bộ, nể nang,

né trách, mà cố tình đánh giá sai lệnh cán bộ Không ít cấp uỷ, người đứng đầu cấp uỷ, cơquan chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ về trách nhiệm và tầm quan trọng của việc đáng giá cán

bộ hoặc chưa thực sự công tâm trong việc đánh giá cán bộ Cũng có nguyên nhân là các tiêuchí đánh giá cán bộ chưa cụ thể hoá nên khi đánh giá thiếu căn cứ thống nhất; chưa tuân thủnghiêm túc quy chế quy trình công tác cán bộ, trong đó có việc đánh giá cán bộ Chưa quyđịnh rõ ràng, hợp lý chế độ trách nhiệm và quyền hạn của ngườyi đứng đầu cơ quan, đơn vịcông tác cán bộ

Để khắc phục tình trạng trên, phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định, quy trình đánhgiá cán bộ, lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ của họ theo chức trách được giao và sự tín nhiệmcủa nhân dân làm thước đo chủ yếu để đánh giá, thực hiện đúng các nguyên tắc tập thể quyếtđịnh công tác cán bộ Tiêu chuẩn đáng giá cán bộ phải được cụ thể hóa trong mỗi giai đoạncách mạng, đối với mỗi chức vụ và cương vị công tác Phải thực hiện nhiều giải pháp đánhgiá mang tính chất tổng hợp và phải công tâm - khách quan Người lãnh đạo khi nhận xétđánh giá cán bộ phải có 2 phẩm chất cực kỳ quan trọng: công tâm và sâu sát Ngoài ra, cần cụthể hoá các vấn đề: dân chủ hoá, công khai hoá công tác cán bộ, tổ chức lấy ý kiến nhân dân

và cán bộ cấp dưới, xây dựng cơ chế phát huy trách nhiệm của người đứng đầu và cơ quan sửdụng cán bộ Muốn đánh giá cán bộ đúng còn phải định ra rõ trách nhiệm cá nhân, trước hết làtrách nhiệm người đứng đầu Người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị phải chịu tráchnhiệm về những yếu kém tron g công tác, về tệ nạn tham nhũng, quan liêu, lãnh phí của địaphương cơ quan đơn vị đó Khắc phục tình trạng khi kiểm điểm tập thể thì chỉ ra được khuyếtđiểm nhưng khi kiểm điểm cá nhân thì không quy được trách nhiệm cho ai Việc đánh giá cán

bộ không chỉ làm một lần mà phải làm thường xuyên để đưa vào hồ sơ cán bộ và giúp cho bảnthân của người cán bộ hiểu đúng mình hơn, sửa chữa khuyết điểm để ngày càng hoàn thiệnhơn

Kết luận: Các quan điểm, phương pháp đánh giá và sử dụng cán bộ nêu trên được vận

dụng đến mức độ nào, hoàn toàn phụ thuộc vào sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng và bộ máy tổchức cán bộ Bởi vậy các cơ sở đảng cần lựa chọn một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt vữngvàng về quan điểm, bên cạnh đó phải xây dựng hoàn thiện bộ máy tổ chức cán bộ, mà điều cốt

Trang 32

lõi là những người chịu trách nhiệm về công việc đó trước tiên phải thật sự là người có đức,

có tài, công tâm, khách quan, vì sự nghiệp của giai cấp và của dân tộc

1 Hãy phân tích chức năng, nhiệm vụ của TCCCĐ và giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo TCCSĐ Thực trạng của TCCSĐ nơi đồng chí đang sinh hoạt Trong thời gian tới phải làm gì để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ.

MB: Lý luận và thực tiễn đã chứng minh, dù ở giai đoạn nào của cách mạng Việt Nam doĐảng lãnh đạo, các TCCSĐ luôn là gốc rễ, là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị lãnhđạo ở cơ sở, bảo đảm cho đường lối của Đảng đi vào cuộc sống, đồng thời là cấp trực tiếp tiếnhành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng Do vậy, có thể khẳng định TCCSĐ là nền tảng cóvai trò quan trọng quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Vậy những vai trò

đó, cụ thể là gì?

Trước tiên ta tìm hiểu khái niệm tổ chức cơ sở đảng? Tổ chức cơ sở đảng là tổ chức đảngđược lập thành tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnhđạo của cấp úy……

TCCSĐ là cấp trực tiếp gắn bó với QCND; là nền tảng của đảng, là hạt nhân CT ở cơ sở.Chính vì thế cần phải nâng cao năng lực LĐ và sức chiến đấu của TCCSĐ, đây là nhiệm vụthường xuyên và quan trọng hàng đầu của công tác Xd Đảng

Tổ chức cơ sở đảng là tổ chức đảng được lập tại đơn vị cơ sở

Điều 21 của Điều lệ Đảng xác định: “TCCSĐ (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảngcủa Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở” TCCSĐ là cấp tổ chức cuối cùng trong hệ thống tổchức bốn cấp của Đảng

TCCSĐ là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, cũng lànơi trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng, còn là tổ chức cầu nối đảng vớiquần chúng nhân dân Đồng thời TCCCĐ là trung tâm lãnh đạo, trung tâm đoàn kết, địnhhướng nhận thức và hành động

Do những tác dụng quan trọng của TCCCĐ như vậy, nên HCM đã khẳng định: “ Chi bộ

là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”

Về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của TCCSĐ, HCM nhấn mạnh: “đối với đảng ta, xâydựng chi bộ tốt, cho vững mạnh là một việc vô cùng quan trọng”

* Chức năng:

TCCSĐ có nhiều loại hình nhưng đều có hai chức năng cơ bản:

- Là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở: TCCSĐ lãnh đạo chính trị đối với tất cả các mặtcông tác kinh tế, văn hóa, XH, AN,QP ở cơ sở; lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị

cơ sở, đảm bảo mọi tổ chức và hoạt động ở cơ sở hoạt động đúng đường lối chính trị củaĐảng Mỗi TCCSĐ có trách nhiệm là trung tâm lãnh đạo chính trị, tổ chức và quy tụ sứcmạnh của toàn đơn vị để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao

- Tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng, TCCSĐ trực tiếp tiến hành các mặtcông tác xây dựng nội bộ Đảng như công tác đảng viên, công tác cán bộ, công tác tư tưởng…

Trang 33

* Nhiệm vụ:

Từ những chức năng cơ bản nêu trên, Điều lệ Đảng do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI thông qua quy định TCCSĐ có năm nhiệm vụ:

Một là, chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, PL của NN; đề ra chủ trương, nhiệm

vụ chính trị của Đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả

Hai là, xd Đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thực

hiện đúng nguyên tắc TTDC; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình vàphê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáodục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tínhchiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên

Ba là, Lãnh đạo xd chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng,

an ninh và các đoàn thể chính trị-XH trong sạch, vững mạnh; chấp hành đúng PL và phát huyquyền làm chủ của nhân dân

Bốn là, liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi

ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối,chính sách của Đảng và Pl của NN

Năm là, kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và

PL của NN đươc chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám sát TCCSĐ và đảng viên chấp hànhĐiều lệ Đảng

*Những giải pháp chủ yếu:

Một là, Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng

viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổchức kỷ luật, thực sự tiền phong gương mẫu, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.Các cấp ủy phải quan tâm làm tốt công tác chính trị tư tưởng, chủ động dự báo tình hình

để kịp thời trang bị những thông tin có định hướng của Đảng cho CB, Dvien

XD sự đoàn kết thống nhất trong cấp ủy, chi bộ, đảng bộ trên cơ sở Cương lĩnh chính trị,điều lệ Đảng, đường lối, CS của Đảng và tình đồng chí Cấp ủy phải nắm chắc tình hình tưtưởng của CB, DV

Hai là, Hoàn thiện mô hình tổ chức của các loại hình TCCSĐ theo hướng gắn TCCSĐ

với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và lãnh đạo các tổ chức chính trị-XH; chăm lo kếtnạp đảng viên, nhất là ở những địa bàn, đơn vị chưa có tổ chức Đảng, chưa có đảng viên.Tiếp tục kiện toàn, sắp xếp tổ chức của các TCCSĐ cho dồng bọ, thống nhất với các tổchức của hệ thống chính trị ở cơ sở Đồng thời, XD mô hình tổ chức phù hợp với nhữngTCCSĐ có tính đặc thù, vừa tạo sựu thống nhất chung, vừa phù hợp với đặc điểm cụ thể củatừng địa phương, đơn vị

Ba là, Thực hiện mạnh mẽ chủ trương trẻ hóa, tiêu chuẩn hóa, thể chế hóa và từng bước

nhất thể hóa chức danh cán bộ; tạo bước chuyển có tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ,công chức ở cơ sở

Để trẻ hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ CB, CC ở cơ sở, cần sớm ban hành CS thu hút

để thực hiện chủ trương đưa sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng về công tác tại xã, phường,thị trấn, doanh nghiệp; có cơ chế, CS để giải quyết đối với những cán bộ chưa được chuẩn hóanhưng chưa đủ tuổi, đủ năm công tác để nghỉ hưu theo chế độ

XD hệ thống CS phù hợp và đồng bộ đối với CB, CC cơ sở xã, phường, thị trấn

Trang 34

Đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ CB, CC cơ sở xã,phường, thị trấn theo chức danh CB; chú ý bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và kinhnghiệm giải quyết những tình huống cụ thể ở cơ sở.

Bốn là, Nâng cao chất lượng, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của các

loại hình TCCSĐ theo hướng vừa mở rộng dân chủ, vừa tăng cường kỷ cương, kỷ luật; khắcphục tính hình thức, đơn điệu trong sinh hoạt, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiếnđấu của TCCSĐ

Tập trung củng cố, XD TCCSĐ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức Thực hiệnđúng nguyên tắc tập trung dân chủ, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình

và phê bình, giữ nghiêm kỷ luật, tăng cường đoàn kết trong đảng Thường xuyên giáo dục, rènluyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức CM, trình độ, kiến thức và năng lực công táccho đội ngũ CB, DV

Năm là, Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên; dựa vào

dân để xây dựng Đảng

Các cấp ủy cấp trên phải nắm chắc tình hình cơ sở, phân công cấp ủy viên trực tiếp phụtrách cơ sở, kịp thời tháo gỡ khó khăn, giải quyết những vấn đề xảy ra ở cơ sở Các văn bảnchỉ đạo, hướng dẫn của cấp ủy cấp trên phải có nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thựchiện, dễ kiểm tra, dễ quy trách nhiệm CB lãnh đạo, quản lý và các cấp ủy viên cấp trên củaTCCSĐ phải bố trí thời gian để gặp gỡ đảng viên và nhân dân tại cơ sở, giải quyết kịp thờinhững kiến nghị chính đáng của dảng viên và quần chúng; bảo vệ những CB tốt, những ngườitrung thực, thẳng thắn đấu tranh chống tiêu cực

Tóm lại, nâng cao tính chiến đấu của TCCSĐ là một trong những nhiệm vụ quan trọng,

nhằm giáo dục, rèn luyện Đảng ta ngang tầm yêu cầu cách mạng mới, xây dựng Đảng ta làđạo đức, là văn minh, góp phần thực hiện hiệu quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng

và học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Liên hệ thực tế: Thực trạng của TCCSD nơi đ/c đang sinh hoạt Trong thời gian tới

phải làm gì để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng?

Trên nền tảng chủ nghĩa Mac – Lê nin, Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạophát triển thêm tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng thành công một đảng kiểu mới ởViệt Nam đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trong thời gian quaviệc vận dụng những nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mac – lê nin, tưtưởng Hồ Chí Minh tại Chi bộ nơi tôi đang sinh hoạt đã đạt được một số kết quả, cụ thể nhưsau:

Thực tế Chi bộ tại nơi tôi công tác là 01 chi bộ ghép gồm 03 cơ quan Trung tâm Dân sô,Trung tâm Y tế, Phòng Y tế huyện với tổng số Đảng viên là 23, Chi ủy gồm 05 Đ/c Trongthời gian qua Chi bộ đã không ngừng phát huy tính tự chủ, sáng tạo, khắc phục khó khăn đểlãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao

- Về công tác tư tưởng: Chi bộ luôn xác định và lấy Chủ nghĩa Mac-Lê nin và tư tưởng

Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động Kịp thời tổ chức triển khai học tập, quán triệt

và xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể hóa và tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện.Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, luôn quán triệt đầy đủ các nghị quyết của Đảng cấp trên,chính sách pháp luật của Nhà nước có vận dụng, phù hợp với tình hình thực tế của Chi bộ;thường xuyên phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo các cơ quan cụ thể hóa chủ trương, Nghị quyếtcủa cấp trên vào nghị quyết của Chi bộ để tổ chức thực hiện; quán triệt và thực hiện tốt NQhội nghị TW IV về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay; Chỉ thị03-CT/TW của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ

Trang 35

Chí Minh Ngay từ đầu năm Chi bộ đã xây dựng kế hoạch thực hiện “Học tập và làm theotấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hiện quy tắc ứng xử, nâng cao Y đức” gắn với việcthực hiện 3 xây (Xây dựng tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân; Xây dựng tinhthần tự giác học tập; Xây dựng mỗi đoàn kết nội bộ) 3 chống (Chống quan liêu, hách dịch;Chống tham ô, lãng phí; Chống bè phái, cục bộ) và triển khai trong toàn chi bộ Trên cơ sở

đó, từng Đảng viên trong Chi bộ xây dựng kế hoạch rèn luyện cá nhân và chọn 1 nội dung đểđăng ký “làm theo” phù hợp với nhiệm vụ được phân công Sau khi triển khai học tập cácchuyên đề toàn thể đảng viên, CBCCVC có chuyển biến rõ rệt về nhận thức, xác định sự cầnthiết phải hoc tập, rèn luyện, tư dưỡng đạo đức , lối sống, nhung nội dung cơ bản về tấmgương đạo đức Hồ Chí Minh, trách nhiệm của Đảng viên, CBCCVC từng bước được nânglên Cán bộ, đảng viên đánh giá kết quả, làm theo hàng tháng, hàng năm trước tập thể chi bộ

và trở thành một tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên Hàng tháng Chi bộ và cơ quan có tổchức kể những mẩu chuyện về Bác hồ từ đó rút ra những bài học thực tiễn, qua các đợt phátđộng phong trfo thi đua gắn với các đợt học tập đã khen thưởng thường xuyên và đột xuấtcho những cá nhân và tập thể xuất sắc trong thực hiện làm theo

Mỗi năm có từ 02 – 03 sáng kiến kỹ thuật, đề tài nghiên cứu khoa học được triển khaithực hiện có hiệu quả Cuối năm bình xét từ 01- 02 Đảng viên điển hình trong việc thực hiệngắn với hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyên môn

- Phần lớn Đảng viên trong Chi bộ đều thể hiện tính tiên phong gương mẫu, ý thức chấphành kỷ luật cao, có lối sống giản dị, trong sạch; chấp hành tốt mọi chủ trương Nghị quyếtcủa Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; có phẩm chất chính trị tốt, lối sống trong sạch,lành mạnh, giản dị, tận tụy với công việc, gần gũi với quần chúng; ý thức tổ chức kỷ luật, tinhthần trách nhiệm cao, gương mẫu, phấn đấu nâng cao năng lực công tác, tích cực học tập, làmtheo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Do đặc thù của ngành giáo tiếp với bệnh nhân nênviệc thực hiện QTUX, nâng cao Y đức luôn được đặt lên hàng đầu, trong giao tiếp với bệnhnhân luôn nhiệt tình, hòa nhã làm gương cho quần chúng noi theo Đảng viên đi đầu trongthực hiện nhieemjvuj Đảng viên nơi cư trú và Quy định số 76 ngày 15/6/2000 của Bộ Chínhtrị về việc đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở

và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú, tham gia các hoạt động xã hội, đónggóp các loại quỹ Phần lớn Đảng viên trong Chi bộ đều được quán triệt và thực hiện tốt Chỉthị 72 của Tỉnh ủy về việc không uống rượu bia trong giờ làm việc nêu cao vai trò tiên phonggương mẫu của người Đảng viên

Chi bộ thật sự là hạt nhân chính trị lãnh đạo tất cả mọi hoạt động của đơn vị, tổ chứcCông đoàn ĐCS, đoàn thanh niên, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của cán bộ, Đảngviên Chi bộ phát huy được vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, giáo dục tư tưởng cho Đảng viênthực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước, lãnh chỉ đạo các cơ quan hoàn thành tốtnhiệm vụ chuyên môn Chi bộ có nhiều chuyển biến trong việc đổi mới về nội dung phươngthức lãnh đạo, xây dựng và thực hiện tốt quy chế và chương trình làm việc toàn khóa, thựchiện tốt các nguyên tắc tập trung dân chủ terong sinh hoạt Chi bộ, công tác cán bộ và thi đuakhen thưởng xếp loại đánh giá Đảng viên hàng năm;, tự phê bình và phê bình Công tác sinhhoạt chi bộ hàng tháng được chi uỷ chuẩn bị tốt về nội dung chương trình và phân côngnhiệm vụ cho Chi uỷ viên, nội dung họp chi bộ theo đúng hướng dẫn số 11 HD/BTCTU ngày9/7/2012 của Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Long An, chất lượng sinh hoạt chi bộ từng bước đượcnâng lên, thảo luận đóng góp tự phê bình và phê bình qua sổ rèn luyện đảng viên gắn với thựchiện chương trình hành động cá nhân trong các đợt “ Học tập và làm theo tấm gương đạođức Hồ Chí Minh ” để kiểm điểm đánh giá, phân loại đảng viên hàng tháng Chi bộ làm việctheo quy chế đề ra, có phân công Chi ủy viên phụ trách, không chồng chéo trách nhiệm.Trong lãnh chỉ đạo, điều hành các hoạt động, Chi ủy luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, thựchiện nghiêm Quy chế làm việc, giữ vững các nguyên tăc scuar Đảng, nhất là nguyên tắc tập

Trang 36

trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, duy trì nề nếpsinh hoạt lệ kỳ tập trung lãnh đạo thực hiện đầy đủ các chỉ tiêu, nghị quyết hàng thàng vànhiệm vụ cấp trên giao.Việc thực hiện ghi chép sổ rèn luyện Đảng viên được duy trì thựchiện hàng tháng Sổ rèn luyện do 01 Đ/c trong Chi ủy được phân công theo dõi việc ghi chépcủa từng Đảng viên Đảng viên ghi chép đầy đủ các nội dung theo yêu cầu, có ghi rõ và tựđưa ra khuyết điểm của minh trong tháng, nguyên nhân của hạn chế và khuyết điểm và đề raphương hướng khắc phục trong tháng sau Hàng tháng Chi bộ đều xây dựng NGhị quyết phùhợp với tình hình thực tế và nhiệm vụ chuyên môn của tháng Nghị qyết ngắn gọn, có trọngtâm,truyền đạt Nghị quyết dễ nhớ, dễ thực hiện, chọn những vấn đề trọng tâm, có tính bứcxúc của ngành như dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm, việc xây dựng mô hình xã khôngsinh con 3,… để tập trung chỉ đạo Nghị quyết được đưa ra cho toàn thể Đảng viên tham giađóng góp xây dưng, thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ và biểu quyết thực hiện.Xây dựng chi bộ hằng năm đều đạt trong sạch, vững mạnh, từng Đảng viên thể hiện tốt vai

trò của mình trong việc đóng góp xây dựng nghị quyết Chi bộ hàng tháng Công tác đánh giá

hoạt động tổ chức cơ sở đảng, chi bộ và đảng viên hàng năm đúng theo hướng dẫn của Huyện

uỷ Đoàn kết thống nhất trong Chi bộ và các cơ quan với nhau, tập trung trí tuệ của tập thể;thể hiện dân chủ, công khai, châp hành nghiêm các nguyên tắc, quy chế, chương trình làmviệc, xây dựng Chi bộ đạt trong sạch vững mạnh 04 năm liền, phân loại đảng viên hàng nămđạt 100% loại A và B, không có loại C Đặc biệt trong việc thực hiện Nghị quyết TW 4 khóa

XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, nhất là việc kiểm điểm tự phê bình

và phê bình Chi ủy đã tổ chức quán triệt mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyếtđến từng cán bộ, đảng viên Tập thể và cá nhân Chi ủy thực hiện việc kiểm điểm tự phê bình

và phê bình nghiêm túc, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, đúng theo chỉ đạo của cấp trên từkhâu chuẩn bị, tiến hành kiểm điểm đến việc tập trung khắc phục những tồn tại, hạn chế Bêncạnh việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình; Chi ủy đã đề ra các giải pháp thực hiện Nghịquyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng nhằm đấu tranh, khắc phục những biểu hiệnsuy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viêntrong Chi bộ.Thực hiện đồng bộ các giải pháp để thực hiện tốt Nghị quyết 03-NQ/TU củaTỉnh ủy (khóa VIII) về đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sởđảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, gắn với việc đẩy mạnh học tập, làm theo tấm gương

đạo đức Hồ Chí Minh và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” là nội dung quan trọng mà Chi ủy tập trung lãnh đạo, chỉ

đạo xuyên suốt trong nhiệm kỳ Kết quả cho thấy công tác xây dựng Đảng đã có sự tiến bộ;lãnh đạo đảng viên và quần chúng thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước, thực hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị cơ quan; đa số cán bộ, đảngviên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụnhân dân, được quần chúng tin tưởng

Hằng năm, Chi bộ đều tiến hành xây dựng, rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ theophương châm “động”, “mở”, liên hoàn Đồng thời thực hiện tốt việc rà soát, đánh giá cán bộ,

đã đưa vào quy hoạch được nhiều cán bộ trẻ, có trình độ và triển vọng phát triển Trong quátrình tiến hành công tác quy hoạch cán bộ, Chi bộ đảm bảo đúng quy trình quy định, dân chủ,khách quan, công khai, đồng bộ từ dưới lên Nhờ vậy đã tạo được nguồn cán bộ kế cận khádồi dào, tỷ lệ quy hoạch đạt từ 2 đến 3 lần (so với cán bộ đương nhiệm), mỗi chức danh cán

bộ được quy hoạch từ 2 đến 3 người và một người quy hoạch vào 2 đến 3 chức danh 100%các khoa, phòng, Ban được bố trí Đảng viên để thực hiện công tác lãnh đạo, 100% cán bộĐảng viên được phân công công tác, 80% đảng viên giữ các chức vụ của khoa, phòng cũngnhư các đoàn thể Luân chuyển, điều động, đào tạo đảm bảo các trạm y tế xã có đủ bác sỹ vàduy trì nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi theo chỉ tiêu đề ra Trong nhiệm kỳ 2010-2015 đào tạođược 01 trung cấp chính trị, 8 sơ cấp chính trị và 03 quản lý nhà nước ngạch chuyên viên,công tác đào tạo có gắn với qui hoạch hàng năm

Trang 37

Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện cũng luôn được Chi bộ quan tâm chú trọngthông qua việc Đảng viên tự nhận xét đánh giá thông qua sổ rèn luyện Đảng viên, Chi ủyphân công các Đ/c Ủy ban kiểm tra trong Chi bộ hàng tháng theo dõi đánh giá 1-2 Đảng viêntrên tất cả các mặt hoạt động nhằm kịp thời biểu dương, uốn nắn từng Đảng viên, giúp Đảngviên hoàn thiện hơn và làm tốt vai trò của mình Tổ chức giám sát các chuyên đề về việc thựchiện y đức, chất lượng khám chữa bệnh, phấn đấu các TYT xã đạt BTC quốc gia về y tế theo

lộ trình, công tác phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm , xây dựng mô hình xãkhông có người sinh con thứ 3 trở lên…

Trong công tác kết nạp ĐV mới CB xác định rõ trách nhiệm của cấp uỷ và chi bộ trongcông tác phát triển Đảng; xây dựng kế hoạch tạo nguồn kết nạp đảng viên và đề ra chỉ tiêucông tác phát triển đảng hàng năm phù hợp với tình hình, đặc điểm của chi bộ; chỉ đạo các tổchức đoàn thể, nhấtlà Đoàn TNCS Hồ Chí Minh giáo dục, lựa chọn đoàn viên ưu tú giới thiệucho Đảng; định kỳ hàng tháng, xét cho cảm tình Đảng đi học lớp bồi dưỡng nhận thức vềĐảng, xét đề nghị kết nạp đảng viên, từng bước đưa công tác kết nạp đảng viên đi vào nềnnếp, thường xuyên; giao nhiệm vụ cho quần chúng ưu tú để thử thách tham gia học các lớpCảm tình Đảng, phân công Đảng viên chính thức theo dõi giúp đỡ

Bên cạnh đó Chi bộ luôn thực hiện tốt công tác vận động các loại quỹ phúc lợi, đóng gópcác loại quỹ do địa phương vận động như quỹ đền ơn đáp nghĩa, bảo trợ trẻ em, dóng góp cácloại quỹ giúp đỡ nhân dân các nước khi gặp khó khăn như lũ luạt ở Trung Quốc, thảm họakép ở NHật, bão ở Philippin….chỉ đạo tổ chức các đoàn khám từ thiện về các xã vùng sâu,khám từ thiện tại nước bạn CPC

Bên cạnh những kết quả đạt được, Chi bộ vẫn còn 01 số hạn chế như: một số Đảng viênxây dựng kế hoạch rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh còn rập khuôn,đối phó, chưa đúng với nhiệm vụ phan công; trong giao tiếp với bệnh nhân vẫn còn 01 sốtrường hợp chưa dúng mực, còn nóng nảy; công tác tuyên truyền các chủ trương, đường lốicủa Đảng, NN hiệu quả chưa cao, chưa thu hút sự chú ý của Đảng viên; các tổ chức đoàn thểchưa chủ động giới thiệu những đoàn viên ưu tú cho Đảng để xem xét, kết nạp, thường bịđộng, giới thiệu theo định hướng của tổ chức Đảng; Đảng viên trẻ còn nhút nhát chưa mạnhdạn trong tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Nghị quyết; số ít ĐV ngán ngại học tập, nhất làhọc tập chính trị, học tập NQ, nên chưa chú ý đến nội dung học tập,…

Nguyên nhân hạn chế nêu trên là do Chi bộ gồm 3 cơ quan, đa phần là kiêm nhiệm nêntrong khi triển khai và thực hiện nghị quyết còn hạn chế; Một số cán bộ đảng viên chưa cónhiều kinh nghiêm trong công tác chuyên môn, quản lý các chương trình, kỷ năng giao tiếp,QTƯX một vài cán bộ còn hạn chế; ĐV chưa nhận thức đầy đủ về vai trò tiên phong củangười ĐV, năng lực trình độ về mọi mặt còn hạn chế nên chưa mạnh dạn, chưa thể hiện bảnlĩnh trong sinh hoạt

Để khắc phục những hạn chế trên, chi bộ cần tiếp tục làm tốt:

- Phải thường xuyên làm tốt công giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho cán bộ y tế,song song đó cần có kế hoạch kiểm tra, giám sát thường xuyên, đảng viên phải đóng vai tròtiên phong gương mẫu trên mọi lĩnh vực;

- Tập trung đổi mới, nâng cao năng lực lãnh dạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng,đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM, Chi bộ, các cơ quan tìmnhững mô hình làm theo gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác chăm sóc sức khỏe nhândân để thường xuyên giáo dục y đức cho cán bộ y tế

- Phải giữ vững sự đoàn kết thống nhất, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ,phát huy tính chủ động sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân; làm việc theo chương trình, kế

Trang 38

hoạch, đúng quy chế, quy định đề ra Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết TW IVkhóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”

- Hàng năm cần phát động các đợt thi đua, có thang điểm đánh giá thi đua từng cá nhân vàtập thể, có sơ kết khen thưởng kịp thời, phê bình và xử lý cá nhân và tập thể chưa tốt để nângcao chất lượng hoạt động, góp phần thực hiện đạt các chỉ tiêu nghị quyết;

- Thường xuyên giữ mối quan hệ chặt chẽ với cấp uỷ cấp trên để được hứơng dẫn, giúp đởtrong hoạt động Cấp uỷ cấp trên cần thường xuyên kiểm tra chế độ sinh hoạt lệ kỳ, nhất lànội dung sinh hoạt chi bộ và có thông tin về kết quả kiểm tra, giám sát để kịp thời khắc phụcnhững sai sót, lệch lạc ở cơ sở

Tóm lại : Trong thời kỳ mới, xuất phát từ những đòi hỏi ngày càng cao của n.vụ chính trị.

Do đó đòi hỏi phải nâng cao năng lực LĐ và sức chiến đấu của TCCSĐ Đây là sự sống còncủa đảng để đảng lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thành công CNXH con đường mà đảng vànhân dân ta đã lựa chọn

Câu 2 Hãy làm rõ nội dung công tác đảng viên của TCCSĐ Thực trạng công tác quản lý đảng viên ở đảng bộ hoặc chi bộ cơ sở nơi đồng chí đang sinh hoạt như thế nào? MB: Sức mạnh của toàn Đảng là do sức mạnh của đội ngũ đảng viên tạo nên.

Do đó, việc nâng cao chất lượng quản lý, phát huy vai trò của đội ngũ đảng viên luôn là khâu then chốt, một nội dung quan trọng, là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy.

Đảng viên là người ở trong một tổ chức của một chính đảng Điều lệ ĐCS VN do Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua đã xác định: “Đảng viên ĐCSVN là chiến

sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc VN,suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của TQ, của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chínhtrị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và PL của NN; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm

vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổchức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng”

Công tác đảng viên là tổng hợp các hoạt động của tổ chức Đảng và của mỗi đảng viênnhằm xây dựng đội ngũ đảng viên không ngừng phát triển vững mạnh cả về số lượng, chấtlượng, cơ cấu, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của Đảng

*Nội dung công tác đảng viên của TCCSĐ

Công tác đảng viên của TCCSĐ bao gồm những công tác cụ thể, sau đây chỉ đi vào một

số công tác chính

Thứ nhất, Giáo dục, rèn luyện đảng viên

Ý nghĩa: giáo dục, rèn luyện đảng viên là việc làm thường xuyên của Đảng Từ ngày

thành lập Đảng đến nay, Đảng và Bác Hồ luôn coi trọng công tác giáo dục, rèn luyện đảngviên để nâng cao trình độ mọi mặt về VH, lý luận chính trị, về trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, năng lực công tác cho mỗi đảng viên, nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm chính trị

Nội dung giáo dục, rèn luyện đảng viên: Giáo dục lý luận chủ nghĩa M-L, tư tưởng

HCM, nắm vững và thực hiện tốt chủ trương, đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng, chínhsách, PL của NN Nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn cho những đảng viên cònthiếu và yếu, tăng cường đào tạo mới và đào tạo lại với những đảng viên trong diện luân

Ngày đăng: 22/03/2022, 17:01

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w