1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG TỪ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN(AGRIBANK) TỚI MỨC SỐNG HỘ GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM

67 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 235,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH*************** CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT NGÔ HẢI THANH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG TỪ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN AGRIBANK TỚI MỨC SỐNG HỘ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

***************

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

NGÔ HẢI THANH

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG TỪ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (AGRIBANK) TỚI MỨC SỐNG HỘ GIA ĐÌNH Ở NÔNG

THÔN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Chính sách công

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN TRỌNG

HOÀI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II TÓM TẮT III DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT IV DANH MỤC CÁC BẢNG V

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1

1.1.Bối cảnh và vấn đề chính sách 1

1.2.Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3

1.3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4.Kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1.Vai trò của vốn và tín dụng trong phát triển nông nghiệp nông thôn 5

2.1.1.Vai trò của vốn trong phát triển nông nghiệp 5

2.1.2.Mối quan hệ giữa vốn và tín dụng 7

2.1.3.Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với việc phát triển nông nghiệp và gia tăng mức sống hộ gia đình ở nông thôn 7

2.2.Chính sách tín dụng nông thôn của Agribank 9

2.2.1.Giới thiệu về Agribank 9

2.2.2.Các chương trình tín dụng và cơ chế vận hành 10

2.3.Các nghiên cứu trước 11

Trang 3

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình 13

2.4.1.Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của chủ hộ 13

2.4.2.Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của hộ gia đình 14

2.4.3.Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của cộng đồng và vùng địa lý 16

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG 18

3.1.Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) 18

3.2.Kết hợp phương pháp khác biệt trong khác biệt và hồi quy OLS 19

3.3.Định nghĩa biến trong mô hình 21

3.4.Mô tả dữ liệu 23

3.5.Chiến lược xây dựng mô hình 25

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

4.1 độngTác của tín dụng Agribank tới thu nhập hộ gia đình ở nông thôn 26

4.2.Tác động của tín dụng Agribank tới chi tiêu của hộ gia đình ở nông thôn 30

4.3 Nguyên nhân tín dụng từ Agribank chưa có tác động tới mức sống hộ gia đình 34 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 37

5.1.Những kết luận chính 37

5.2.Gợi ý chính sách 38

5.3.Hạn chế của nghiên cứu 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

PHỤ LỤC 45

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện Các dữliệu sử dụng trong luận văn được trích dẫn nguồn đầy đủ và chính xác trong phạm vi hiểubiết của tôi Luận văn không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tếthành phố Hồ Chí Minh hay của Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright

Tác giả

Ngô Hải Thanh

Trang 5

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả bạn bè và đồng nghiệp, những người đã độngviên, chia sẻ và giúp đỡ tôi rất nhiều trong hai năm học vừa qua.

Ngô Hải Thanh

Trang 6

TÓM TẮT

Sử dụng phương pháp hồi quy OLS kết hợp DID (khác biệt trong khác biệt) và dựa trên bộ

số liệu điều tra mức sống hộ gia đình VHLSS các năm 2006 và 2008, đề tài tiến hành đánhgiá tác động của tín dụng từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam(Agribank) tới mức sống các hộ gia đình ở khu vực nông thôn

Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy ảnh hưởng tích cực của tín dụng Agribank tới thu nhập cũng như chi tiêu của các hộ gia đình trong giai đoạn 2006-2008 Điều này được giải thích bởi đặc điểm rủi ro cao và khả năng thu hồi chậm của đồng vốn sử dụng trong sảnxuất nông nghiệp Mặt khác, đa số các khoản vay đều có giá trị thấp và thời hạn vay ngắn nên mức sống của hộ chưa thể cải thiện ngay được Tuy nhiên, bên cạnh đó, nghiên cứu đã chứng minh được một số nhân tố có tác động mạnh tới mức sống hộ gia đình như: tình trạng nghèo, quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc trong hộ, trình độ giáo dục chủ hộ, số lao động phi nông nghiệp…

Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số đề xuất như: thực hiện có hiệu quả các chương trình trợ cấp cho người nghèo ở nông thôn; tổ chức các lớp học bổ túc, truyền đạt kỹ năng làm nông nghiệp cho người lao động; khuyến khích và thực hiện các biện pháp cưỡng chếnếu cần thiết để trẻ em được đến trường học tập; tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức cho người dân về vấn đề kế hoạch hóa gia đình; phát triển thị trường lao động, đa dạng hóa việc làm nhằm nâng cao mức sống hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam Về phía các ngân hàng, cần có những chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh đi kèm khi cho hộ gia đình vay vốn để bảo đảm khoản vay được đầu tư có hiệu quả Đối với riêng Agribank, cầntăng cường hỗ trợ và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn để không những đưa dịch vụ ngân hàng đến với người dân vùng quê nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn, mà qua

đó còn gián tiếp góp phần nâng cao mức sống cho họ

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Agribank : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát t riển nông thôn Việt NamDID (Difference In Difference) : Khác biệt trong khác biệt

GDP (Gross Domestic Product) : Tổng sản phẩm quốc nội

ICOR (Incremental Capital

Living Standards Surveys)

: Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam

VLSS (Vietnam Living

Standards Surveys)

: Khảo sát mức sống dân cƣ Việt Nam

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Các biến độc lập dự kiến đưa vào mô hình hồi quy 21Bảng 3.2: Thống kê mô tả các biến sử dụng và kiểm định sự khác biệt giữa nhóm tham gia

và nhóm đối chứng năm 2006 24Bảng 4.1: Tổng hợp kết quả ước lượng tác động của tín dụng Agribank tới thu nhập bình quân đầu người hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam 29Bảng 4.2: Tổng hợp kết quả ước lượng tác động của tín dụng Agribank tới chi tiêu đời sống bình quân đầu người hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam 31Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả ước lượng tác động của tín dụng Agribank tới chi tiêu lương thực bình quân đầu người hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam 32Bảng 4.4: Thống kê giá trị khoản vay và số hộ gia đình ở nông thôn vay vốn Agribanktrong năm 2006 35Bảng 4.5: Thống kê lý do vay vốn với các giá trị vay khác nhau từ Agribank của các hộ giađình ở nông thôn Việt Nam trong năm 2006 36

Trang 9

Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng nhất ở nước ta Hơnnữa, vai trò của nông nghiệp lại càng đặc biệt quan trọng, bởi đây là nơi sản xuất ra nhữngsản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho đời sống con người mà không có mộtngành nào khác có thể thay thế được Bên cạnh đó, nông nghiệp cung cấp nguyên liệu chocác ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân như các ngành công nghiệp dệt, dagiày, chế biến… và phục vụ cho xuất khẩu.

Nông nghiệp và nông thôn là nơi cung cấp nguồn nhân lực dồi dào cho đất nước và là thị trường rộng lớn để tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của các ngành kinh tế khác Với gần 60 triệu dân sống ở khu vực nông thôn, tuy mức thu nhập của nông dân còn thấp, song đây vẫn là một thị trường đầy hấp dẫn để các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ tiếp cận bán sản phẩm của mình và thu mua nguyên liệu từ khu vực nông nghiệp sản xuất, từ

đó thúc đẩy nhau cùng phát triển Bên cạnh đó, nông thôn là địa bàn có nhiều tài nguyên đất đai khoáng sản nên có ảnh hưởng to lớn đến môi trường sinh thái và việc sử dụng hiệuquả các tiềm năng Nơi đây còn tập trung khoảng 60 dân tộc khác nhau sinh sống, gồmnhiều tầng lớp, thành phần khác nhau Mỗi sự biến động tích cực hay tiêu cực đều có tác động mạnh đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước

Vì vậy, việc ổn định và phát triển nông nghiệp, nâng cao thu nhập và mức sống người dân vùng nông thôn sẽ góp phần ổn định tình hình kinh tế, chính trị của đất nước Để làm đượcđiều này, vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất là một nhân tố vô cùng quan trọng Chính vì vậy, nhiều cơ chế, chính sách đã được Chính phủ ban hành; trong đó đặc biệt là các chính sách tín dụng ngân hàng như: Quyết định 67/1999/QĐ-TTg ban hành ngày 30/03/1999; Quyết định 148/QĐ-TTg ban hành ngày 07/07/1999; Nghị định

41/2010/NĐ-CP

Trang 10

ban hành ngày 12/04/2010 có vai trò hết sức quan trọng nhằm tăng cường đầu tư vốn pháttriển nông nghiệp, nông thôn.

Hiện nay, việc cung cấp vốn, tín dụng ở nông thôn do các ngân hàng Nhà nước, ngân hàngthương mại, quỹ tín dụng nhân dân thực hiện Tính trên toàn quốc, dư nợ tín dụng ngân hàng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn liên tục tăng; từ 34.000 tỷ đồng (năm 1998) tăng hơn 7 lần, đạt gần 250.000 tỷ đồng (năm 2008); với tốc độ tăng dư nợ cho vay bình quân 20%/năm1 Là một trong những ngân hàng thương mại Nhà nước, được ra đời để phục vụ nông nghiệp, nông thôn và cũng trưởng thành đi lên từ đây, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) luôn duy trì nguồn vốn gần 70%/tổng

dư nợ đầu tư cho lĩnh vưực này Chỉ riêng năm 2010, Agribank bổ sung trên 42.000 tỷ đồng cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn 2 Điều đó càng khẳng định rằng Agribank là tổ chức tín dụng hàng đầu ở khu vực tam nông trong việc cho các hộ nông vay vốn phát triển sản xuất Cụ thể, hiện nay, Agribank thực hiện cho vay đối với các

cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn nhằm phát triển cácngành nghề ở nông thôn Ngoài ra, Agribank còn cho vay tiêu dùng nhằm nâng cao đời sống nhân dân ở vùng nông thôn

Đã có khá nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của tín dụng hay tài chính vi mô tới mức sống hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo ở nông thôn, được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, ở nhiều thời điểm khác nhau Bangladesh là quốc gia có nhiều nghiên cứu được thực hiện như: Pitt và Khandker (1998), Morduch (1998), Khandker (2005), Mahjabeen (2008) Các nghiên cứu tương tự cũng được tiến hành ở các quốc gia khác như: Kondo và đ.t.g (2007) với nghiên cứu ở Philippin, Arun và đ.t.g (2006) với nghiên cứuở ẤnĐộ, nghiên cứuởAmhara phía bắc Ethiopia của Gobezie và Garber (2007).Ở Việt Nam, một số nghiên cứu đánh giá tác động của tín dụng cũng được thực hiện như:

“Đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam” của Phan Thị Nữ (2010); “Tác động của tín dụng chính thức đối với hộ gia đình ở đồng bằng sông

1 Agribank (2010), “Chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: Bơm vốn

mạnh và rộng hơn vào khu vực tam nông”, Agribank Bình Định, truy cập ngày 1/5/2011 tại địa chỉ:

http://www.agribankbinhdinh.com.vn/chitiet.asp?ID=262&loai=TT

2 Viết Chung (2011), “Agribank lớn mạnh cùng ngành Ngân hàng Việt Nam”, Agribank, truy cập ngày

25/5/2011 tại địa chỉ: http://www.vbard.com/31/820/tin-tuc/hoat-dong-agribank/2011/05/3350/agribank- lo%CC%81n-ma%CC%A3nh-cu%CC%80ng-nga%CC%80nh-ngan-ha%CC%80ng-vie%CC%A3t- nam.aspx

Trang 11

Cửu Long” của Nguyễn Thanh Bình (2010) Kết quả của các nghiên cứu này chưa có sựđồng nhất trong việc xác định tác động của tín dụng tới mức sống các hộ gia đình, nó tùythuộc vào đặc điểm dữ liệu mỗi quốc gia, mỗi thời điểm khác nhau.

Agribank là ngân hàng thương mại Nhà nước lớn nhất Việt Nam cả về nguồn vốn, tài sản, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng Tính đến 31/12/2010, Agribank có tổng tài sản trên 524.000 tỷ đồng ; tổng nguồn vốn đạt 474.941 tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 414.755 tỷ đồng; trên 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch p hủ rộng khắp toàn quốc3 Hơn nữa, đây là ngân hàng chủ lực trong việc cung cấp tín dụng cho các hộ gia đình

ở nông thôn Việt Nam để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống và qua đó góp phần xây dựng kinh tế địa phương Vì vậy, việc đánh giá tác động tín dụng từ ngân hàng này tới mức sống của người dân vùng nông thôn là vô cùng cần thiết Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một nghiên cứu đánh giá tác động tín dụng từ Agribank đối với mức sống của các

hộ gia đình ở nông thôn đã vay vốn để xem thực sự đời sống của họ có được cải thiện hơn trước hay không? Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá tác động của tín dụng từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tới mức sống các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá tác động của các khoản tín dụng từ Agribank tớimức sống các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam Trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị đểcải thiện chính sách tín dụng nông thôn nói chung và của Agribank nói riêng nhằm nângcao đời sống các hộ gia đình ở khu vực nông thôn

Với mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung trả lời hai câu hỏi:

- Việc vay tín dụng từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam(Agribank) có giúp các hộ gia đình cải thiện mức sống hay không?

- Những kiến nghị nào được đưa ra nhằm nâng cao mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam?

3 Viết Chung (2011), “Agribank lớn mạnh cùng ngành Ngân hàng Việt Nam”, Agribank, truy cập ngày

25/5/2011 tại địa chỉ: http://www.vbard.com/31/820/tin-tuc/hoat-dong-agribank/2011/05/3350/agribank- lo%CC%81n-ma%CC%A3nh-cu%CC%80ng-nga%CC%80nh-ngan-ha%CC%80ng-vie%CC%A3t- nam.aspx

Trang 12

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động tín dụng từ Agribank tới mức sống của các hộ gia đình vay vốn ngân hàng này để nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống

Phạm vi nghiên cứu: đề tài chọn vùng nông thôn Việt Nam để nghiên cứu với số liệu sử dụng từ hai cuộc điều tra mức sống hộ gia đình VHLSS các năm 2006 và 2008

1.4 Kết cấu đề tài

Đề tài được chia làm 5 chương Chương 1: Giới thiệu chung; trình bày bối cảnh, vấn đề nghiên cứu và đưa ra câu hỏi chính sách cần phải trả lời Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết; tập trung làm rõ các lý thuyết về vai trò của vốn, tín dụng đối với phát triển nông nghiệp, nâng cao mức sống người dân nông thôn; tóm lược những kết quả chính của các nghiên cứu trước để xác định các nhân tố có ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình, đặc biệt

là các gia đình ở sống ở khu vực nông thôn Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình ước lượng; trình bày phương pháp cụ thể mà đề tài sử dụng để tiến hành đánh giá tácđộng của tín dụng từ Agribank tới mức sống hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam, chiến lược mà tác giả sẽ sử dụng để tìm ra mô hình ước lượng tốt nhất Chương 4: Kết quả nghiên cứu Dựa trên khung phân tích đã trình bày ở hai chương trước, chương này tác giả tiến hành phân tích, làm rõ những kết quả của nghiên cứu Chương 5: Kết luận và gợi

ý chính sách Phần này tóm lược những kết quả chính của luận văn và đưa ra những gợi ý chính sách từ thực tế vấn đề nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Vai trò của vốn và tín dụng trong phát triển nông nghiệp nông thôn

2.1.1 Vai trò của vốn trong phát triển nông nghiệp

Todaro và Smith (2009) đã đề cập đến vai trò của vốn trong việc phát triển nông nghiệp Các tác giả đã chia sự phát triển của nông nghiệp ra làm ba giai đoạn lớn Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn có sản lượng và năng suất thấp, chủ yếu là hình thức tự cung tự cấp với nhân tố chính là đất đai và lao động, vốn được đầu tư ít Do đó, người nông dân có thu nhập thấp và không ổn định Giai đoạn thứ hai được gọi là giai đoạn đa dạng và hỗn hợp nông nghiệp, sản lượng và năng suất lao động được nâng cao, một phần nhỏ sản phẩm được sử dụng cho tiêu dùng, còn một phần đáng kể được bán cho các khu vực thương mại Trong giai đoạn này, vốn được đầu tư nhiều hơn, đồng thời nguồn lao động dư thừa ởvùng nông thôn được sử dụng tốt và hiệu quả hơn, thu nhập của người lao động gia tăng ở mức trung bình nhưng có độ ổn định cao Giai đoạn thứ ba là chuyên môn hóa, đại diện bởicác trang trại hiện đại có năng suất cao Việc tạo vốn, áp dụng tiến bộ công nghệ, nghiên cứu khoa học và triển khai đóng vai trò vô cùng quan trọng Nhờ đó, đời sống người dân được cải thiện với mức thu nhập cao nhưng độ ổn định ở mức trung bình do sự biến động giá cả hàng hóa

Khi nghiên cứu đầu vào của quá trình sản xuất, các nhà kinh tế học hiện đại đã khẳng địnhvốn là “chìa khóa” của tăng trưởng và phát triển kinh tế Theo Perkins (2006), vai trò củavốn đối với tăng trưởng kinh tế của một đơn vị kinh tế bất kỳ (công ty, ngành công nghiệp,nông nghiệp, hay toàn bộ nền kinh tế) được lượng hóa thông qua mô hình Harrod –Domar với một hàm sản xuất đơn giản: g = s/k

Trong đó: g là tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng đầu

ra s là tỷ lệ tiết kiệm so với sản lượng đầu

ra

k là hệ số gia tăng vốn – sản lượng đầu ra (hệ số ICOR) Hệ số k cho biết để

có thêm một đồng sản phẩm đầu ra (giá trị tăng thêm) cần phải đầu tư k đồng vốn

Mô hình Harrod – Domar khẳng định: tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiếtkiệm (đầu tư) và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR Do đó, để tăng trưởng, nền kinh tế cần phảitiết kiệm để đầu tư một tỷ lệ nhất định so với GDP Hay nói rõ hơn, nền kinh tế có khả

Trang 14

năng tiết kiệm, đầu tư càng lớn càng đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là hiệu suất của đầu tư (mức sản lượng tăng thêm thu được từ một đơn vị đầu tư tăng thêm), được tính bằng 1/k, tức

là bằng nghịch đảo của tỷ lệ gia tăng vốn – đầu ra Trên thực tế, k không phải không đổi

mà luôn có xu hướng tăng lên, nghĩa là đầu tư có xu hướng ngày càng tốn vốn hơn trong điều kiện khoa học và công nghệ bùng nổ và phát triển mạnh mẽ như hiện nay Vì vậy, để giữ cho tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cần phải đảm bảo sao cho hệ số ICOR tăng chậm, trong khi vẫn tiếp tục gia tăng tiết kiệm để đầu tư Trong trường hợp tiết kiệm không đủ

bù đắp đầu tư, có thể bổ sung sự thiếu hụt vốn bằng việc thu hút vốn từ bên ngoài

Cũng giống như bất kỳ ngành sản xuất vật chất nào, sự gia tăng nhanh tiết kiệm để đầu tưphát triển nông nghiệp sẽ làm tăng năng lực sản xuất, thúc đẩy gia tăng năng suất, sảnlượng và nâng cao chất lượng nông phẩm hàng hóa Đồng thời, sản xuất nông nghiệp cóhiệu quả càng tạo ra khả năng thu hút các nguồn lực khác (tài nguyên thiên nhiên, laođộng, khoa học – công nghệ…) tham gia vào phát triển nông nghiệp, gắn với thị trường.Nhờ đó, đời sống người nông dân sẽ ngày càng khấm khá hơn, mức sống của họ cũngngày càng được cải thiện nhanh chóng

Tác động của vốn đối với tăng trưởng sản lượng trong nền kinh tế nói chung và trong nôngnghiệp nông thôn nói riêng còn được thể hiện thông qua hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas:Y=ALαKβ (Mankiw, 2002) Trong đó: Y là sản lượng đầu ra; L là lao động; K là lượng vốn; A là tổng các nhân tố sản xuất; α và β là các hệ số co giãn theo sản lượng của lao động và vốn

o Nếu α + β = 1 thì hàm sản xuất có lợi tức không đổi theo quy mô, nghĩa là nếu vốn

và lao động tăng theo một tỷ lệ bao nhiêu thì sản lượng của ngành hay nền kinh tế cũng tăng theo cùng tỷ lệ bấy nhiêu

o Nếu α + β < 1 thì hàm sản xuất có lợi tức giảm dần theo quy mô, tức là mức sảnlượng gia tăng với tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ tăng vốn và lao động

o Nếu α + β > 1 thì hàm sản xuất có lợi tức tăng dần theo quy mô, nghĩa là tỷ lệ gia tăng sản lượng đầu ra cao hơn tỷ lệ gia tăng vốn và lao động đầu vào

Như vậy, vốn là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới mức độ gia tăng sản lượng đầu ra trong nền kinh tế nói chung và trong khu vực nông nghiệp nói riêng

Trang 15

Để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển nông nghiệp, đồng thời nâng cao mức sốngcho người dân vùng nông thôn, cần phải tăng cường đầu tư vốn cho khu vực này.

2.1.2 Mối quan hệ giữa vốn và tín dụng

Đinh Phi Hổ (2008) trong cuốn “Kinh tế học nông nghiệp bền vững” đã xác định vốn trongnông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:

Thứ nhất là vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp Đây là vốn tự có, do nông dântiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng Mức độ tích lũy vốn thườngđược đánh giá bởi tỷ lệ tiết kiệm so với thu nhập hoặc tỷ lệ tiết kiệm so với GDP

Thứ hai là vốn đầu tư của ngân sách - vốn đầu tư cho nông nghiệp từ nguồn ngân sách củaNhà nước Vốn này được dùng vào khai hoang và xây dựng vùng kinh tế mới, nôngtrường quốc doanh, trạm, trại kỹ thuật nông nghiệp, thủy lợi, nghiên cứu khoa học,chương trình giải quyết việc làm ở nông thôn

Thứ ba là vốn từ tín dụng nông thôn, vốn đầu tư cho nông nghiệp của nông hộ, trang trại

và các doanh nghiệp nông nghiệp vay từ hệ thống định chế tài chính nông thôn thuộc khuvực chính thức và phi chính thức

Thứ tư là vốn nước ngoài, bao gồm hai nguồn chủ yếu là vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

và đầu tư trực tiếp nước ngoài

Như vậy, vốn tín dụng là một trong bốn cấu thành nguồn vốn quan trọng để phát triển nông nghiệp Qua đó, có tác động tới mức sống của các hộ gia đình ở vùng nông thôn.Tuy nhiên, vốn tín dụng nông thôn gồm có hai loại là tín dụng chính thức (tín dụng ngân hàng) và tín dụng phi chính thức, trong đó tín dụng ngân hàng là nguồn tín dụng chính được sử dụng ở nông thôn hiện nay

2.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với việc phát triển nông nghiệp và gia tăng mức sống hộ gia đình ở nông thôn

Xét dưới hình thức chủ yếu của tín dụng là loại hình cho vay thì tín dụng ngân hàng có vaitrò hết sức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp và kinh tế hộ ở nông thôn Theo Nguyễn Bích Đào (2008), tín dụng ngân hàng có những vai trò sau:

Thứ nhất, tín dụng góp phần hình thành và phát triển thị trường tài chính nông thôn Hoạtđộng tín dụng là “cầu nối” trung gian giữa những người cần vốn và những người cung ứng

Trang 16

vốn, để phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Xét trong phạm vi cả nướcthì có những vùng, khu vực này cần vốn, nhưng khu vực khác, vùng khác lại có nguồn vốn

dư thừa chưa cần dùng đến Vì thế tín dụng ngân hàng còn là công cụ điều hòa nguồn vốngiữa nơi thừa và nơi thiếu vốn Thị trường tài chính ở nông thôn là nơi giải quyết mốiquan hệ cung cầu về vốn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn Với hệ thống cơ sởrộng khắp xuống từng huyện, xã, hoạt động tín dụng đã đẩy nhanh sự hình thành và pháttriển thị trường tài chính ở nông thôn

Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần tận dụng mọi tiềm năng to lớn ở nông thôn Tiềmnăng về phát triển ở nông thôn nước ta là rất lớn, đây là khu vực tập trung đại đa số tàinguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai cũng như nguồn lực lao động dồi dào của đất nước.Nếu được đầu tư vốn một cách hiệu quả, người dân nơi đây sẽ có điều kiện khai thác tiềmnăng tại chỗ, giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo ra nhiều của cảivật chất cho xã hội, ngày càng mở rộng và phát triển thị trường ở nông thôn

Thứ ba, tín dụng góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho người nông dântiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh Vốn tín dụng của ngân hàng tham gia vàoquá trình sản xuất thông qua hình thức đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp vànông thôn như: đường sá, cầu cống, công trình thủy lợi, mạng lưới điện, thông tin, nướcsạch, bệnh viện, trường học, chợ… Đây là những cơ sở hạ tầng phục vụ trực tiếp hoặcgián tiếp cho quá trình sản xuất, góp phần nâng cao đời sống của người dân vùng quê vàgiảm sự chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn

Thứ tư, tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, gópphần giải quyết việc làm cho người lao động trong nông thôn Thông qua hoạt động đầu

tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ sản xuất, một lượng lớn lao động dư thừa ở nông thôn

đã được giải quyết việc làm Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, sự cạnhtranh diễn ra ngày càng gay gắt, sẽ có những doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân làm ănkém hiệu quả, rời khỏi nông nghiệp và chuyển sang nghề khác như: tiểu thủ công nghiệp,các nghề truyền thống Do đó, các ngành nghề này sẽ được phát triển và lại tiếp tục thuhút lao động Qua đó, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân

Thứ năm, tín dụng góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thầncho người nông dân Hoạt động tín dụng phát triển góp phần hạn chế đáng kể tình trạng

Trang 17

cho vay nặng lãi đã tồn tại khá lâu đời ở nông thôn Vì vậy, người dân sẽ thực sự được hưởng thụ thành quả của mình sau một thời gian dài lao động sản xuất Mặt khác, vốn tín dụng của ngân hàng còn được cung ứng cho mọi đối tượng thiếu vốn, không phân biệt giàu nghèo Do đó, đời sống mọi tầng lớp dân cư được nâng cao và thúc đẩy nông thôn ngày càng phát triển.

Tóm lại, tín dụng ngân hàng góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển thị

trường tài chính ở nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn phục vụ sản xuất, tạo công

ăn việc làm, tận dụng và phát huy hiệu quả mọi tiềm năng to lớn nơi đây Qua đó, góp phầncải thiện và nâng cao đời sống không chỉ vật chất mà cả tinh thầncho người dân vùng nôngthôn Trong bốn ngân hàng thương mại lớn ở Việt Nam thì Agribank là một ngân hànghoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đóng vai trò quan trọng đốivới sự phát triển nông nghiệp và đời sống người dân khu vực nông thôn ở nước ta

2.2 Chính sách tín dụng nông thôn của Agribank

2.2.1 Giới thiệu về Agribank

Agribank có tiền thân là Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 400/CT ngày 14/11/1990 của chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Đây là một ngân hàng thương mại Nhà nước, hoạt động trong lĩnh vực Nông – Lâm – Diêm nghiệp Từ năm

1994, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam hoạt động theo mô hình tổng công ty Đến năm

1996, được sự ủy quyền của Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra quyết định 280/QĐ-NHNN thành lập lại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribbank)

Thị trường kinh doanh chủ yếu của Agribank gắn với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nông thôn và nông dân Do đó, hộ sản xuất nông nghiệp đã trở thành đối tượng cho vay chính của ngân hàng này Đồng thời, Agribank làm nhiệm vụ tiếp nhận vốn tài trợ ủy thác đầu tưcủa các tổ chức trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn.Hiện nay, Agribank là ngân hàng thương mại Nhà nước lớn nhất cả nước về quy mônguồn vốn, tài sản cũng như mạng lưới hoạt động rộng khắp; giữ vai trò chủ lực trên thịtrường tài chính ở khu vực nông thôn Với những thành tựu đã đạt được trong quá trìnhphát triển,

Trang 18

Agribank đang phấn đấu để trở thành tập đoàn tài chính hiện đại và uy tín nhất Việt Nam4.

2.2.2 Các chương trình tín dụng và cơ chế vận hành

Căn cứ vào Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nôngnghiệp, nông thôn; các chương trình tín dụng mà Agribank cung cấp ở khu vực nông thônhiện nay đó là: (1) cho vay các chi phí sản xuất trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêmnghiệp; (2) cho vay phát triển ngành nghề tại nông thôn; (3) cho vay đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng ở nông thôn; (4) cho vay chế biến, tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm, thủy sản vàmuối; (5) cho vay để kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nông, lâm, diêm nghiệp vàthủy sản; (6) cho vay phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại và cung ứng các dịch vụphi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn; (7) cho vay tiêu dùng nhằm nâng cao đời sốngnhân dân ở nông thôn; (8) cho vay theo các chương trình kinh tế của Chính phủ

Agribank sẽ xem xét cho các đối tượng khách hàng là các cá nhân hoặc hộ gia đình vaytrên cơ sở có đảm bảo hoặc không đảm bảo Với cơ chế vay có đảm bảo, tài sản đảm bảo

có thể là động sản hoặc bất động sản như: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài sảngắn liền với đất; sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, các loại giấy tờ có giá khác; vàng, bạc,

đá quý; và các tài sản khác theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, Agribank có thể cho vay không có bảo đảm với mức vốn một hộ gia đình có thểvay tối đa là 20 triệu Tuy nhiên, sau khi Nghị định 41 ra đời (năm 2010), mức vốn chovay đã tăng lên tối đa 50 triệu đối với đối tượng là cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư,diêm nghiệp; tối đa 200 triệu đối với hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụphục vụ nông nghiệp, nông thôn Các đối tượng trên phải nộp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất; hoặc được UBND cấp xã xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất và đất không có tranh chấp

Dựa trên nhu cầu, các cá nhân và hộ gia đình đi vay sẽ lựa chọn phương thức cũng nhưthời hạn vay; với mức lãi suất do Chính phủ quy định, theo cơ chế tín dụng thương mạihiện hành hay theo thỏa thuận tùy từng đối tượng cụ thể

4 Nguyễn Hoàng, “Agribank – Những cột mốc và chặng đường lịch sử”, Agribank, truy cập ngày 1/5/2011 tại

địa chỉ: http://www.agribank.com.vn/101/784/gioi-thieu/lich- su.aspx

Trang 19

2.3 Các nghiên cứu trước

Đánh giá tác động của tín dụng là một đề tài rất được quan tâm trong những nghiên cứugần đây Nhiều nghiên cứu về đánh giá tác động của tín dụng, đặc biệt là tín dụng vi mô tớimức sống của các hộ gia đình, với phần lớn là những hộ nghèo đã được thực hiện ở nhiềuquốc gia trên thế giới

Mahjabeen (2008) tiến hành xem xét các tác động của tài chính vi mô ở Bangladesh đến chi tiêu và phúc lợi của các hộ gia đình bằng cách so sánh hai mô hình, đó là mô hình cơ bản chỉ có các ngân hàng thương mại truyền thống và mở rộng mô hình với các ngân hàngthương mại kết hợp tài chính vi mô Những phát hiện chính của nghiên cứu này là tài chính vi mô có tác dụng nâng cao thu nhập, tăng tiêu dùng tất cả các hàng hóa của tất cả các hộ gia đình, tạo ra việc làm, giảm bất bình đẳng thu nhập và tăng cường an sinh xã hội Điều này có nghĩa tài chính vi mô là một chiến lược phát triển hiệu quả và có ý nghĩa quan trọng trong chính sách xoá đói giảm nghèo, phân phối thu nhập và đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs)

Bangladesh là quốc gia có nhiều nghiên cứu về đánh giá tác động của tài chính vi mô tới mức sống các hộ gia đình và giảm nghèo được thực hiện Pitt và Khandker (1998) sử dụng

bộ dữ liệu được khảo sát ở quốc gia này năm 1991-1992 để đo lường tác động của tín dụng vi mô đến đời sống hộ gia đình Họ kết luận rằng tín dụng vi mô làm tăng chi tiêu củacác hộ gia đình, đặc biệt là các khoản vay đối với phụ nữ Bằng phương pháp nghiên cứu tương tự, Khandker (2005) với bộ dữ liệu được khảo sát lại năm 1999 đã đánh giá tác động biên của tín dụng tới chi tiêu bình quân đầu người hộ, chi tiêu lương thực bình quân đầu người hộ, chi tiêu hàng phi lương thực bình quân đầu người hộ Trong đó, các yếu tố ảnh hưởng là: giới, tuổi, trình độ giáo dục của chủ hộ, diện tích đất sở hữu, giá trị khoản vay, cơ sở hạ tầng địa phương để phản ánh sự thay đổi điều kiện kinh tế địa phương Kết quả cho thấy tiếp cận tài chính vi mô không chỉ góp phần xóa đói giảm nghèo đối với người tham gia, đặc biệt là với nữ giới mà tổng thể, nó còn góp phần xóa đói giảm nghèo cho nền kinh tế địa phương, cụ thể là ở cấp thôn Tuy nhiên, Morduch (1998) sử dụng lại bộ dữ liệu Bangladesh 1991-1992 để tiến hành ước lượng với phương pháp khác biệt trong khác biệt nhưng không tìm thấy tác động của tín dụng vi mô tới mức sống của các hộgia đình

Một nghiên cứu gần đây của Kondo và các đ.t.g (2007) đã sử dụng phương pháp hồi quy

Trang 20

OLS kết hợp phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) để đánh giá tác động của tài chính vi mô tới các hộ gia đình ở nông thôn Philippin Nghiên cứu này tiến hành xem xét tác động của tín dụng tới các nhóm vấn đề của hộ như: phúc lợi, các giao dịch tài chính quan trọng khác của hộ, kinh doanh và việc làm, tài sản của hộ, đầu tư vốn nhân lực (giáo dục và sức khỏe) và tỷ lệ giảm đói trong tiêu dùng thực phẩm với các biến giải thích được

sử dụng như: tuổi, giới tính, trình độ của chủ hộ, quy mô hộ, số năm sống tại địa phương, diện tích nhà… Trong đó, các tác giả đánh giá tác động của tín dụng tới phúc lợi (đại diện cho mức sống) của hộ gia đình thông qua các biến: thu nhập bình quân đầu người, chi tiêu dùng bình quân đầu người, tiết kiệm bình quân đầu người và chi tiêu dùng thực phẩm bìnhquân đầu người Kết quả ước lượng cho thấy tín dụng có tác động tích cực tới mức sống của các hộ gia đình ở vùng nông thôn Phillipin Cụ thể, phân tích cho thấy ở mức ý nghĩa 10%, những hộ có vay vốn có thu nhập bình quân đầu người cao hơn những hộ không vay

là 5.222P; chi tiêu dùng bình quân đầu người của hộ có vay vốn cũng cao hơn những hộ không vay là 4.136P; chi tiêu dùng thực phẩm bình quân đầu người cao hơn 1.333P nhưngtác động của tín dụng tới tiết kiệm bình quân đầu người không có ý nghĩa về mặt thống kê.Nghiên cứu của Arun và các đ.t.g (2006) ở Ấn Độ cho thấy vai trò tích cực của tài chính vi

mô đối với giảm nghèo không chỉ ở nông thôn mà còn ở cả các đô thị của quốc gia này.Các tác giả cho thấy rằng trong khi các hộ gia đình ở nông thôn cần phải vay tín dụng chomục đích sản xuất để giảm đói nghèo thì các hộ gia đình ở đô thị chỉ cần truy cập tài chính

vi mô là đủ để giảm bớt đói nghèo Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hàm logit để xácđịnh các nhân tố có tác động tới giảm nghèo hộ gia đình Bên cạnh tín dụng vi mô, kết quảước lượng đã chỉ ra tuổi, giới tính chủ hộ, quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, khu vực sinh sốngđều là những nhân tố quan trọng có ý nghĩa không thể bỏ qua Tuy nhiên, một nghiên cứukhác của Banerjee và các đ.t.g (2009) thực hiện ở Hyderabad – thành phố lớn thứ 5 của Ấn

Độ, nơi tài chính vi mô phát triển nhanh nhất lại cho thấy rằng tín dụng không tác động tớimức sống thông qua chi tiêu của các hộ gia đình

Hai tác giả Gobezie và Garber (2007), với nghiên cứu về tác động của tín dụng vi mô ở Amhara phía bắc Ethiopia cũng cho kết luận rằng tài chính vi mô có tác dụng tích cực tới đời sống, khả năng giảm nghèo của các hộ gia đình sống tại khu vực này Bằng phương pháp hồi quy OLS, nghiên cứu đã xácđịnh những nhân tố có ảnh hưởng tới mức sống các

hộ gia đình giống như nhiều nghiên cứu khác là: tuổi, giới tính, trình độ giáo dục, tình

Trang 21

trạng sức khỏe, tình trạng hôn nhân của chủ hộ, giá trị khoản vay, số lao động trên 18 tuổi, khu vực sinh sống.

Bằng phương pháp hồi quy OLS kết hợp DID và sử dụng bộ dữ liệu VHLSS 2004 và

2006, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2010) đã tiến hành đánh giá tác động của tín dụng chính thức tới mức sống các hộ gia đình ở đồng bằng sông Cửu Long với 5 biến phụ thuộc là: thu nhập bình quân, chi tiêu bình quân, chi đời sống bình quân, tiết kiệm bình quân và thu nhập trên một lao động hộ Kết quả nghiên cứu đã không tìm thấy ảnh hưởng tích cực của tín dụng tới mức sống hộgia đình tại các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả cũng tìm được một số nhân tố khác có ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình như: quy mô hộ, số trẻ em (người phụ thuộc) trong gia đình, bằng cấp của chủ hộ, diện tích đất sản xuất và nhà ở, tình trạng nghèo của hộ

Như vậy, các nghiên cứu được thực hiện ở các quốc gia khác nhau, vào những thời điểmkhác nhau, với các bộ dữ liệu khác nhau cho những kết quả khác nhau Hay nói cách khác,tác động của tín dụng vi mô tới mức sống người dân là không rõ ràng, nó tùy thuộc vàođặc điểm dữ liệu mỗi quốc gia, thời điểm tiến hành nghiên cứu Tuy nhiên, hầu hết cácnghiên cứu đều thống nhất và chỉ ra rằng các yếu tố như: tuổi tác, giới tính, trình độ củachủ hộ; tình trạng nghèo, việc làm phi nông nghiệp, diện tích đất sở hữu, yếu tố dân tộc,vùng miền sinh sống là những nhân tố có ảnh hưởng tới mức sống của các hộ gia đình

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình

Mức sống của hộ gia đình được phản ánh trên nhiều khía cạnh như: thu nhập, chi tiêu đời sống (bao gồm cả hàng lương thực và phi lương thực), những phúc lợi mà hộ đó được hưởng thông qua mức độ tiếp cận với các dịch vụ cơ bản (y tế, giáo dục, nước sạch)… Bằng chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới

đã chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến mức sống của các hộ gia đình, đặc biệt là những hộ sống ở vùng nông thôn Về cơ bản, có thể chia các nhân tố ảnh hưởng này ra làm

ba nhóm chính:

2.4.1 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của chủ hộ

Chủ hộ là người có ảnh hưởng lớn tới các quyết định được đưa ra trong hộ Điều đó sẽtác động không nhỏ tới mức sống của tất cả các thành viên trong hộ, đặc biệt là các giađình sống ở vùng nông thôn

Tuổi chủ hộ thể hiện kinh nghiệm trong lao động sản xuất Nó được kỳ vọng sẽ mang lại

Trang 22

nhiều thu nhập hơn người lao động cũng như hộ gia đình đó khi tuổi của người chủ gia đình càng cao Các nghiên cứu của Arun, Imai và Sinha (2006); Gobezie và Garber (2007) đều chỉ ra rằng tuổi của chủ hộ có mối quan hệ đồng biến với thu nhập, mức sống của hộ gia đình.

Giới tính của chủ hộ Có nhiều quan điểm khác nhau về ảnh hưởng tới mức sống hộ gia

đình khi chủ hộ là nam và khi chủ hộ là nữ Nghiên cứu tại Ethiopia của Arun và các cộng

sự cho thấy nam giới là chủ hộ thì mức sống gia đình đó cao hơn nhưng kết quả nghiêncứu tại Philippin của Kondo cùng các đ.t.g (2007) lại chỉ ra rằng thu nhập và chi tiêu bìnhquân đầu người của hộ gia đình cao hơn khi chủ hộ là nữ giới

Trình độ học vấn của chủ hộ có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng thu nhập và chi tiêu

của cả hộ Trình độ học vấn càng cao, khả năng lao động, áp dụng kỹ thuật vào sản xuất càng tốt, qua đó nâng cao thu nhập của cá nhân và hộ Thực tế các nghiên cứu tại các quốc gia có đặc điểm tương đồng với Việt Nam như Ấn Độ, Philippin đều cho thấy trình độ giáo dục của chủ hộ cũng như các lao động trong hộ đều có ảnh hưởng tích cực tới mức sống gia đình Mặt khác, theo ước lượng suất sinh lợi của việc đi học ở Việt Nam của Nguyễn Xuân Thành (2006), một năm đi học phổ thông tăng thêm sẽ góp phần tăng thu nhập cá nhân thêm 11,43% Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của trình độ giáo dục đối với việc nâng cao mức sống dân cư

2.4.2 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của hộ gia đình

Quy mô hộ (số nhân khẩu trong hộ) có tác động tiêu cực tới mức sống của hộ gia đình.

Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004 “Nghèo” đã chỉ ra rằng những hộ gia đình càng đôngngười thì thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người càng thấp Bên cạnh đó, Verner (2005)trong một nghiên cứu tại Mexico cũng cho thấy quy mô và thu nhập, mức sống của hộ cómối quan hệ tỷ lệ nghịch

Tỷ lệ người phụ thuộc là số người ăn theo trên một lao động trong hộ Trong đó, những

người ăn theo gồm có 2 nhóm, người quá tuổi lao động không có lương hưu (trên 55 tuổi đối với nữ, trên 60 tuổi đối với nam) và trẻ em dưới 15 tuổi Các chuyên gia kinh tế phát triển đều nhất trí rằng tỷ lệ phụ thuộc là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới mức sống các

hộ gia đình, đặc biệt ở vùng nông thôn – nơi có sốngười phụ thuộc cao Tỷ lệ này càng caothì phúc lợi mà bình quân mỗi người trong hộ nhận được càng thấp Điều này đã được

Trang 23

chứng minh trong nghiên cứu của Arun và các cộng sự (2006) tại Ấn Độ.

Số lao động có việc làm phi nông nghiệp Việc làm phi nông nghiệp có ảnh hưởng lớn tới

mức sống chung của hộ Nghiên cứu của Verner (2005) tại Mexico đã chỉ ra rằng những hộgia đình có người làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp hay làm việc làm hưởng lương

sẽ có mức sống cao hơn những hộ chỉ làm nông nghiệp Do đó, việc làm phi nông nghiệpcũng là một yếu tố có tác động tới mức sống của hộ gia đình

Số năm hộ sống tại địa phương Đây cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng tới

mức sống của hộ gia đình, đặc biệt là những hộ có vay tín dụng ngân hàng để phục vụ hoạt động sản xuất Theo nghiên cứu của Kondo và các cộng sự (2007) tại Philippin, hộ gia đình sinh sống tại địa phương càng lâu thì thu nhập cũng như chi tiêu bình quân đầu ngườicủa hộ càng cao bấy nhiêu Nói cách khác, giữa số năm hộ sống tại địa phương và mức sống của hộ có mối quan hệ đồng biến

Diện tích đất sở hữu Người dân sống ở nông thôn nên thu nhập chủ yếu phụ thuộc vào

sản xuất nông nghiệp Vì vậy, đất đai là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập

và chi tiêu của các hộ Việc sở hữu nhiều đất đai có thể giúp hộ gia tăng sản xuất, đa dạnghóa loại cây trồng và vật nuôi, qua đó cải thiện mức sống tốt hơn Điều này đã được khẳngđịnh trong nghiên cứu của Đinh Phi Hổ và Chiv Vann Di (2010) tại Kampong Cham,Campuchia, đó là việc sở hữu diện tích đất đai có ảnh hưởng đồng biến tới mức thu nhậpcủa các hộ gia đình ở nông thôn

Dân tộc là yếu tố có tác động tới mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn Nghiên cứu

của Hoàng Văn Kình, Bob Baulch và các tác giả (2001) đã chỉ ra rằng yếu tố dân tộc cóảnh hưởng tới mức sống của người dân, những người dân tộc Kinh và Hoa thường cómức thu nhập cũng như chi tiêu cao hơn so với những dân tộc khác, đặc biệt là các hộ dântộc Hoa Nguyên nhân là do đa số người dân tộc thiểu số ở Việt Nam sống ở vùng miềnnúi, vùng sâu, vùng xa, nơi mà cơ sở hạ tầng kém phát triển; cơ hội được học hành đến nơiđến chốn không cao nên mức sống thấp hơn

Nghèo cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình Điều này cũng đã được

khẳng định trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2010) Những gia đình được xếp vào nhóm hộ nghèo, đặc biệt là những hộ sống ở khu vực nông thôn rất dễ rơi vào vòng xoáy của đói nghèo, đó là thu nhập thấp, ít có cơ hội tiếp cận với lương thực và nước sạch,nguy cơ mắc bệnh cao, dẫn tới suy giảm khả năng lao động và bị kiệt quệ về kinh tế Khi

Trang 24

đó, nguồn tín dụng vay được sẽ là tia sáng giúp họ có thể phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và thoát nghèo.

Tiếp cận tín dụng Đây là một nhân tố vô cùng quan trọng, quyết định khả năng thu nhập

và chi tiêu của hộ gia đình, đặc biệt đối với các hộ nghèo Đa số các nghiên cứu đều nhất trí với khẳng định cho rằng tín dụng vi mô có tác động tích cực đối với việc nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, đồng thời cải thiện an sinh xã hội cho các hộ gia đình Arun

và các cộng sự (2006) trong một nghiên cứu tại Ấn Độ đã chỉ ra rằng trong khi các hộ gia đình ở thành thị chỉ cần truy cập tín dụng vi mô thì các hộ gia đình ở nông thôn cần phải vay tín dụng cho mục đích sản xuất thì mới có thể cải thiện cuộc sống, giảm đói nghèo

2.4.3 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của cộng đồng và vùng địa lý

Vùng miền sinh sống có ảnh hưởng không nhỏ tới mức sống của hộ Nghiên cứu về mức

sống của hộ gia đình thông qua chi tiêu của Vũ Triều Minh (1999) cho thấy các hộ ở miềnĐông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long có mức sống cao hơn so với các vùng khác.Bên cạnh đó, theo Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004, những hộ gia đình sống ở vùngsâu, vùng xa có mức chi tiêu đầu người thấp hơn những hộ ở đồng bằng và thành thị

Việc tiếp cận thị trường là một yếu tố vô cùng quan trọng có tác động tới mức sống của

người dân, đặc biệt là những gia đình sống ở vùng nông thôn Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Kình, Bob Baulch (2001) về các yếu tố quyết định thu nhập từ lao động, được thực hiện với hai bộ dữ liệu khảo sát mức sống dân cư Việt Nam VLSS93 và VLSS98 cho thấy

những hộ gia đình sống ở khu vực mà cơ sở hạ tầng tốt, giao thông thuận lợi, có đường ô

tô qua thôn, họp chợ thường xuyên hay có nghề thủ công thì thu nhập cao hơn những hộ

khác Bởi hệ thống giao thông tốt sẽ hỗ trợ người dân rất nhiều trong việc lưu thông và trao đổi lao động cũng như hàng hóa với các vùng khác Bên cạnh đó, việc chợ được họp thường xuyên sẽ tăng khả năng bán sản phẩm của các nông hộ Ngoài ra, nghề thủ công địa phương phát triển sẽ góp phần làm tăng khả năng tìm được việc làm phi nông nghiệp cho người dân – đây là yếu tố quan trọng giúp họ nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống của cá nhân cũng như hộ gia đình

Tóm lại, các nhân tố có ảnh hưởng tới mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn được thể

hiện ở sơ đồ sau:

Trang 25

Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của hộ gia đình

Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của chủ hộ

Sơ đồ: Các nhân tố ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình

Tuổi Giới tính

Diện tích đất

sở hữ

Tiếp cận tín dụng

Số lao động phi nông nghiệp

Vùng miền sinh sống

Có đường ô tô qua thôn

Chợ họp thường xuyên

Trang 26

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG

3.1 Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID)

DID là phương pháp được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu để đánh giá tác độngcủa một chính sách cụ thể Trong đó, các đối tượng phân tích được chia thành hai nhóm,một nhóm được áp dụng chính sách (hay còn gọi là nhóm tham gia), nhóm còn lại khôngđược áp dụng chính sách (nhóm đối chứng) Để tiến hành phân tích, ta sử dụng các biếngiả sau:

 D: phản ánh nhóm quan sát, D=0: hộ quan sát thuộc nhóm đối chứng, D=1: hộquan sát thuộc nhóm tham gia

 T: phản ánh thời điểm quan sát, T=0 là trước khi có chính sách, T=1 là sau khi cóchính sách

Để biết được tác động chính xác của một chính sách khi áp dụng, cần phải so sánh kết quảđầu ra Y (thu nhập hoặc chi tiêu…) của hai nhóm quan sát ở thời điểm trước và sau khi cóchính sách Vì vậy, ta có:

 Vào thời điểm trước khi có chính sách (T=0), kết quả đầu ra của nhóm đối chứng

(D=0) là Y00 và kết quả đầu ra của nhóm tham gia (D=1) là Y10 Do đó, chênh lệch kết quả đầu ra giữa hai nhóm này trước khi có chính sách là Y10-Y00

 Sau khi áp dụng chính sách mới (T=1), kết quả đầu ra của nhóm đối chứng (D=0)

là Y01 và kết quả đầu ra của nhóm tham gia (D=1) là Y11 Chênh lệch kết quả đầu ragiữa hai nhóm này sau khi có chính sách là Y11-Y01

Như vậy, tác động thực sự của chính sách được áp dụng là: (Y11-Y01) – (Y10-Y00), được thểhiện trên đồ thị dưới đây: Đầu ra (Y)

Nguồn: Nguyễn Xuân Thành (2006), Phân tích tác động chính sách công: Phương pháp ước

lượng khác biệt trong khác biệt, Tài liệu học tập FETP

Ước lượng DID

Trang 27

Để thực hiện đánh giá tác động của một chính sách, trước khi áp dụng, cần tiến hành thuthập thông tin về kết quả đầu ra (Y) của cả hai nhóm Sau đó, áp dụng chính sách mới lênnhóm tham gia và không áp dụng chính sách đối với nhóm đối chứng Sau một thời gian

áp dụng chính sách, tiếp tục thu thập thông tin về kết quả đầu ra của hai nhóm này và tiếnhành so sánh sự khác biệt trước và sau khi có chính sách Với mỗi nhóm quan sát sẽ có sựbiến thiên nhất định trong kết quả đầu ra, do đó nếu sự biến thiên kết quả đầu ra giữa hainhóm này có sự khác biệt thì sự khác biệt đó chính là tác động của chính sách

Tuy nhiên, một giả định quan trọng của phương pháp DID là hai nhóm tham gia và đối chứng phải có đặc điểm tương tự nhau vào thời điểm trước khi áp dụng chính sách để đảmbảo kết quả đầu ra của hai nhóm này sẽ có xu hướng biến thiên giống nhau theo thời gian nếu như không có chính sách; qua đó có được sự đánh giá chính xác tác động của chính sách áp dụng

3.2 Kết hợp phương pháp khác biệt trong khác biệt và hồi quy OLS

Để đánh giá tác động của tín dụng từ Agribank đến mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam, đề tài sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) với hai nhóm

hộ gia đình được lựa chọn phù hợp với giả định của phương pháp này Trong đó, nhóm tham gia bao gồm những hộ gia đình sống ở vùng nông thônđều được điều tra trong VHLSS 2006 và VHLSS 2008, đồng thời là những hộ trả lời có vay vốn Agribank vào năm

2006 trong VHLSS 2006 Nhóm đối chứng là những hộ gia đình sống ở vùng nông thôn nhưng không tham gia vay vốn Agribank (hay bất cứ nguồn nào) trong cả hai cuộc điều tranói trên

Tuy nhiên, mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn là hàm đa biến, phụ thuộc vào nhiều yếu tốkhác, bên cạnh yếu tốtín dụng Chính vì vậy, đánh giá tácđộng của tín dụngđối với mức sống hộ gia đình sẽ chính xác hơn khi sử dụng thêm các yếu tố này làm biến kiểm soát Do vậy, đề tài kết hợp sử dụng phương pháp hồi qui OLS và DID để đánh giá tác động của tín dụng từ Agribank tới mức sống hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam

Mô hình kinh tế lượng được áp dụng là: Yit = β +0 βD1+βT+2

Trong đó: Yit: là chỉ tiêu phản ánh mức sống của hộ i tại thời điểm t

D=1: Hộ khảo sát thuộc nhóm tham giaD=0: Hộ khảo sát thuộc nhóm đối chứng

Trang 28

T=1: Hộ khảo sát trong năm 2008 T=0: Hộ khảo sát trong năm 2006D*T: Biến tương tác của hai biến giả D và T

Zit: là các biến kiểm soát, bao gồm các nhóm biến phản ánh đặc trưng củachủ hộ, đặc trưng của hộ gia đình và đặc trưng của cộng đồng và vùng địa lý đối với hộ itại thời điểm t

Tiến hành hồi quy OLS, ta có ước lượng mức sống của các hộ gia đình như

sau: Với D=0 và T=0, mức sống của hộ thuộc nhóm đối chứng vào năm 2006

là:

E(Y00) = β+0 βZ4 itVới D=1 và T=0, mức sống của hộ thuộc nhóm tham gia vào năm 2006 là:

E(Y10) = β+0 β+1βZ 4 it

Sự khác biệt mức sống giữa hai nhóm hộ vào năm 2006 là: E(Y10) – E(Y00) = β1

Với D=0, T=1, mức sống của hộ thuộc nhóm đối chứng, năm 2008 là:

E(Y01) = β+0 β+2βZ 4 itVới D=1, T=1, mức sống của hộ thuộc nhóm tham gia vào năm 2008 là:

E(Y11) = β+0 β+1β+β2 +β3Z  4 it

Sự khác biệt mức sống giữa hai nhóm hộ vào năm 2008 là: E(Y11)–E(Y01)= β1+β3

Do đó, tác động của tín dụng từ Agribank lên mức sống của các hộ là:

DID = [E(Y11) –E(Y01 )] – [E(Y10) – E(Y00)] = β 3Như vậy, việc kết hợp phương pháp hồi quy OLS và DID sẽ cho chúng ta biết tín dụng từAgribank có tác động tích cực tới mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam haykhông và nếu có thì mức độ tác động là như thế nào Qua đó, chúng ta sẽ có những canthiệp nhất định nhằm nâng cao mức sống cho người dân vùng nông thôn

Trang 29

3.3 Định nghĩa biến trong mô hình

3.3.1 Biến phụ thuộc

Theo Vũ Triều Minh (1999), thước đo hay được sử dụng nhất để đo lường mức sống làthu nhập bình quân đầu người Tuy nhiên, mức thu nhập dựa trên các cuộc khảo sátthường được người phỏng vấn khai thấp hơn thực tế, mặt khác nó biến động khá nhiềuqua các năm nên không thể đưa ra một bức tranh tốt về điều kiện kinh tế cơ bản của hộ giađình Do đó, bên cạnh thu nhập, một thước đo khác được sử dụng là chi tiêu bình quânquân đầu người Chi tiêu ít bị khai thấp hơn thu nhập và tương đối ổn định qua các năm,

do đó phản ánh mức sống tốt hơn

Căn cứ vào cơ sở lý thuyết và dựa trên kết quả nghiên cứu của Kondo và đ.t.g (2007) tại Philippin, nghiên cứu của Khandker (2005) ở Bangladesh, đề tài sử dụng ba biến phụ thuộc là: thu nhập bình quân đầu người (INCOME), chi tiêu đời sống bình quân đầu người (EXPEND) và chi lương thực bình quân đầu người (FOOD) để đại diện cho mức sống hộ gia đình Các chỉ tiêu này đều là những chỉ tiêu thực, đã được tiến hành khử lạm phát để có sự đánh giá chính xác trong việc xem xét mức sống của người dân vùng nông thôn

3.3.2 Các biến độc lập

Dựa trên khung phân tích đã trình bày ở trên, tác giả dự kiến sẽ đưa vào mô hình hồi quy các biến độc lập sau:

Bảng 3.1: Các biến độc lập dự kiến đưa vào mô hình hồi quy

tính

Dấu kỳvọngCREDIT

Biến dummy về nhóm hộ, =1 nếu hộ thuộc nhóm thamgia (có vay vốn Agribank), =0 nếu hộ thuộc nhóm đối chứng (không vay vốn)

+

T Biến dummy về thời điểm khảo sát, =1 nếu khảo sát

T*CREDIT

Biến tương tác giữa nhóm hộ và thời điểm khảo sát, hệ

số ước lượng của biến này thể hiện tác động của tín dụng từ Agribank tới mức sống các hộ ở nông thôn

+

Trang 30

SEX Giới tính của chủ hộ, =1 nếu là nam, =0 nếu là nữ

HHSIZE Quy mô hộ (số nhân khẩu trong hộ) Người

-ETHNIC Dân tộc của chủ hộ, =1 nếu là dân tộc Kinh hoặc Hoa,

POOR Biến dummy về yếu tố nghèo, =1 nếu hộ không nghèo,

NONFARM Số lao động phi nông nghiệp trong hộ Người +

NORTH Biến dummy về vùng miền, =1 nếu hộ thuộc miền Bắc,

SOUTH Biến dummy về vùng miền, =1 nếu hộ thuộc miền Nam,

PRIMARY Biến dummy về trình độ giáo dục cao nhất của chủ hộ,

=1 nếu là tốt nghiệp tiểu học, =0 nếu là trình độ khác +

SECONDARY Biến dummy về trình độ giáo dục cao nhất của chủ hộ,

=1 nếu là tốt nghiệp THCS, =0 nếu là trình độ khác +

HIGHSCHOOL Biến dummy về trình độ giáo dục cao nhất của chủ hộ,

=1 nếu là tốt nghiệp THPT, =0 nếu là trình độ khác +COLLEGE

Biến dummy về trình độ giáo dục cao nhất của chủ hộ,

=1 nếu tốt nghiệp từ cao đẳng trở lên, =0 nếu là trình độkhác

+

MARKET Biến dummy về yếu tố họp chợ trong vùng, =1 nếu chợ

họp thường xuyên, =0 nếu chợ không họp thường xuyên +CAREER

Biến dummy về nghề thủ công, =1 nếu hộ sống ở vùng

có nghề thủ công, =0 nếu hộ sống ở vùng không cónghề thủ công

+

Trang 31

Để tiến hành đánh giá tác động của tín dụng từ Agribank tới mức sống hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam, đề tài sử dụng 249 hộ gia đình ở trên làm nhóm tham gia Dựa trên kết quảthống kê mô tả các đặc trưng của nhóm tham gia (chi tiết Phụ lục 1), trong số 1194 hộkhông vay vốn trong cả hai năm, đề tài chọn ra được 245 hộ làm nhóm đối chứng, có các đặc điểm tương tự với nhóm tham gia về thu nhập, chi tiêu, tuổi tác, giới tính, đất đai sở hữu, dân tộc, vùng miền sinh sống Điều này sẽ bảo đảm thỏa mãn giả định quan trọngcủa phương pháp DID là mức sống của hai nhóm có xu hướng vận động giống nhau nếukhông có sự tham gia vay vốn, từ đó ta sẽ đánh giá chính xác được tác động của tín dụng

từ Agribank tới mức sống của hộ

Thống kê mô tả cho thấy có sự khác biệt về các chỉ tiêu, đặc biệt thu nhập, chi tiêu đờisống và chi lương thực bình quân đầu người giữa các nhóm hộ trong năm 2006 Tuynhiên, để có thể kết luận thật sự có khác biệt giữa hai nhóm hay không, cần phải thực hiệnkiểm định với giả thuyết:

H0: không có sự khác biệt giữa 2 nhóm (Giá trị trungbìnhtg=Giá trị trung bìnhdc)

H1: có sự khác biệt giữa 2 nhóm (Giá trị trungbìnhtg≠Giá trị trungbìnhdc)

Kết quả cho thấy, ở mức ý nghĩa thống kê 5%, không thể bác bỏ giả thuyết cho rằng không

có sự khác biệt giữa nhóm tham gia và nhóm đối chứng Hay nói cách khác, ở thời điểm năm 2006, hai nhóm này có các đặc điểm khá tương đồng nhau, thể hiện chi tiết ở bảng dưới đây:

Trang 32

Bảng 3.2: Thống kê mô tả các biến sử dụng và kiểm định sự khác biệt giữa

nhóm tham gia và nhóm đối chứng năm 2006

Chỉ tiêu

Nhóm tham gia Nhóm đối chứng

T-test* Giá trị

trung bình Độ lệchchuẩn

Số quan sát

Giá trị trung bình Độ lệchchuẩn

Số quan sát INCOME 620.205 538.919 249 657.159 613.918 245 0.711 EXPEND 406.414 436.664 249 388.780 261.891 245 -0.545 FOOD 204.763 95.239 249 205.434 97.641 245 0.077

Trang 33

3.5 Chiến lược xây dựng mô hình

Để xác định được mô hình ước lượng phù hợp, đề tài tiến hành xây dựng theo chiến lược như sau:

Thứ nhất, hồi quy mô hình cơ bản (sử dụng các biến giải thích: CREDIT, T và T*CREDIT) để xác định xem khi không có tác động của các yếu tố khác, tín dụng từ Agribank có tác động tới mức sống hộ gia đình ở nông thôn theo thời gian hay không.Thứ hai, tiến hành xây dựng mô hình mở rộng (có sự tác động của các yếu tố khác ngoàitín dụng) theo phương pháp “top-down approach”, từ tổng quát đến đơn giản Cụ thể:Bước 1: Dựa trên khung lý thuyết và các nghiên cứu trước, bằng hồi quy tuyến tính với tất

cả các biến liên quan đã liệt kê ở trên, đưa ra mô hình tổng quát ban đầu

Bước 2: Đánh giá sự phù hợp của mô hình căn cứ vào tiêu chuẩn P-value, R 2 và R2 điềuchỉnh; loại bỏ các biến không có ý nghĩa thống kê ra khỏi mô hình; đồng thời sử dụngkiểm định Test trong Stata để lựa chọn mô hình “tốt nhất”

Bước 3: Kiểm tra và khắc phục sự vi phạm những giả định cần thiết trong hồi quy tuyếntính như đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi

Ngày đăng: 22/03/2022, 16:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Hoàng Văn Kình, Bob Baulch và các tác giả (2001), “Yếu tố quyết định thu nhập từ lao động”, Mức sống trong thời kỳ kinh tế bùng nổ, tr.109-135, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố quyết định thu nhậptừ lao động”, "Mức sống trong thời kỳ kinh tế bùng nổ
Tác giả: Hoàng Văn Kình, Bob Baulch và các tác giả
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
12. Vũ Triều Minh (1999), “Chi tiêu của hộ gia đình”,Hộ gia đình Việt Nam: Nhìn qua phân tích định lượng, tr.147-160, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Triều Minh (1999), “Chi tiêu của hộ gia đình”,"Hộ gia đình Việt Nam: Nhìn quaphân tích định lượng
Tác giả: Vũ Triều Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1999
13. Mankiw, N.Gregory (2002), “Chương 3 – Thu nhập quốc dân: sản xuất, phân phối và phân bổ”, Kinh tế vĩ mô, tr.51-87, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương 3 – Thu nhập quốc dân: sản xuất, phân phối và phân bổ”, "Kinh tế vĩ mô
Tác giả: Mankiw, N.Gregory
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
14. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2010), “Chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: Bơm vốn mạnh và rộng hơn vào khu vực tam nông”, Agribank Bình Định, truy cập ngày 1/5/2011 tại địa chỉ: http://www.agribankbinhdinh.com.vn/chitiet.asp?ID=262&amp;loai=TT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tíndụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: Bơm vốn mạnh vàrộng hơn vào khu vực tam nông”, "Agribank Bình Định
Tác giả: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Năm: 2010
15. Perkins, Dwight H. (2006), “Chương 4: Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế”, Kinh tế học của sự phát triển – tái bản lần thứ 6, Tài liệu học tập Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương 4: Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế”, "Kinhtế học của sự phát triển – tái bản lần thứ 6
Tác giả: Perkins, Dwight H
Năm: 2006
16. Nguyễn Xuân Thành (2006), “Phân tích tác động của chính sách công: Phương pháp ước lượng khác biệt trong khác biệt”, Tài liệu học tập Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác động của chính sách công: Phươngpháp ước lượng khác biệt trong khác biệt
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành
Năm: 2006
17. Nguyễn Xuân Thành (2006), “Ƣớc lƣợng suất sinh lợi của việc đi học ở Việt Nam:Phương pháp khác biệt trong khác biệt”, Tài liệu học tập Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ƣớc lƣợng suất sinh lợi của việc đi học ở Việt Nam:Phương pháp khác biệt trong khác biệt
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành
Năm: 2006
18. Arun, Thankom, Imai, Katsushi and Sinha, Frances (2006), Does the Microfinance Reduce Poverty in India? Propensity Score Matching based on a National-level Household Data, School of Social Sciences, The University of Manchester Oxford Road Sách, tạp chí
Tiêu đề: Does the MicrofinanceReduce Poverty in India? Propensity Score Matching based on a National-levelHousehold Data
Tác giả: Arun, Thankom, Imai, Katsushi and Sinha, Frances
Năm: 2006
19. Banerjee, Abhijit, Duflo, Esther, Glennerster, Rachel and Kinnan, Cynthia (2009), The miracle of microfinance? Evidence from a randomized evaluation, A research partnership between the Abdul Latif Jameel Poverty Action Lab at MIT and the Center for Microfinance at IFMR Sách, tạp chí
Tiêu đề: The miracle of microfinance? Evidence from a randomized evaluation
Tác giả: Banerjee, Abhijit, Duflo, Esther, Glennerster, Rachel and Kinnan, Cynthia
Năm: 2009
20. Gobezie, Getaneh and Garber, Carter (2007), Impact Assessment of Microfinance in Amhara Region of Northern Ethiopia, Hosted by the Food and Agriculture Organization of the United Nations (FAO), the Ford Foundation, and the International Fund for Agricultural Development (IFAD) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact Assessment of Microfinancein Amhara Region of Northern Ethiopia
Tác giả: Gobezie, Getaneh and Garber, Carter
Năm: 2007
21. Khandker, Shahidur R. (2005), Microfinance and Poverty: Evidence Using Panel Data from Bangladesh, The World Bank Economic Review Advance Access published September 8, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microfinance and Poverty: Evidence Using PanelData from Bangladesh
Tác giả: Khandker, Shahidur R
Năm: 2005
22. Kondo, Toshio, Orbeta, Aniceto Jr., Dingcong, Clarence and Infantado, Christine (2007), Impact of Microfinance on Rural Households in the Philippines, Philippine Institute for Development Studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of Microfinance on Rural Households in the Philippines
Tác giả: Kondo, Toshio, Orbeta, Aniceto Jr., Dingcong, Clarence and Infantado, Christine
Năm: 2007
23. Mahjabeen, Rubana (2008), Microfinancing in Bangladesh: Impact on households, consumption and welfare, Department of Economics, University of Kansas, 415 Snow Hall, Lawrence, KS 66045, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microfinancing in Bangladesh: Impact on households,consumption and welfare
Tác giả: Mahjabeen, Rubana
Năm: 2008
24. Morduch, Jonathan (1998), Does Microfinance Really Help the Poor? New Evidence from Flagship Programs in Bangladesh, Department of Economics and HIID Harvard University and Hoover Institution Stanford University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Does Microfinance Really Help the Poor? New Evidence from Flagship Programs in Bangladesh
Tác giả: Morduch, Jonathan
Năm: 1998
25. Pitt, Mark M. and Khandker, Shahidur R. (1998), Impact of Group-base Credit Program on Poor Households in Bangladesh: Does the Gender Participants Metter?, The Population Studies and Training Center (PSTC) at Brown University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of Group-base CreditProgram on Poor Households in Bangladesh: Does the Gender ParticipantsMetter
Tác giả: Pitt, Mark M. and Khandker, Shahidur R
Năm: 1998
26. Todaro, Michael P. and Smith, Stephen C. (2009), Economic Development, tenth edition, chapter 9, p.453-467, An imprint of Pearson Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Development
Tác giả: Todaro, Michael P. and Smith, Stephen C
Năm: 2009
27. Verner, Dorter (2005), Poverty in Rural and Semi-Urban Mexico during 1992- 2002, World Bank Policy Research Working Paper 3576, April 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poverty in Rural and Semi-Urban Mexico during 1992-2002
Tác giả: Verner, Dorter
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w