Xuất phát từ yêu cầu đổi mới và thực tiễn dạy học, tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài: Một số giải pháp đổi mới rèn kĩ năng làm câu nghị luận xã hội trong bài thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ v
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Ninh Bình
Chúng tôi là:
TT Họ và tên Ngày tháng
năm sinh Nơi công tác Chức vụ
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến
1 Đỗ Xuân Quyền 23/3/1973 THCS
Khánh Cường
Phó Hiệu trưởng Đại học 40%
2 Nguyễn Thị Lan Hương 07/9/1985 THCS
Khánh Cường Giáo viên Thạc sĩ 60%(PHỤ LỤC 1)
Trang 2đổi mới theo hướng phát huy năng lực học sinh, gắn kiến thức với thực tiễn,giúp học sinh dần làm quen với dạng đề thi này
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới và thực tiễn dạy học, tôi đã lựa chọn thực
hiện đề tài: Một số giải pháp đổi mới rèn kĩ năng làm câu nghị luận xã hội trong bài thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn.
2.1 Giải pháp cũ thường làm.
2.1.1 Thực trạng:
Trong kì thi vào lớp 10 THPT trước đây, đề thi thường có ba câu hỏi Câunghị luận xã hội 3,0 điểm thường được hỏi theo dạng bài sau: Viết một bài văn
ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về một vấn đề sự
việc, hiện tượng đời sống hoặc một tư tưởng đạo lý
Ví dụ:
- Viết một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của
em về tác hại của việc hút thuốc lá và rút ra bài học cho bản thân
(Trích Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2014-2015, Sở Giáodục và Đào tạo tỉnh Ninh Bình)
- Viết một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của
em về lời nhắn nhủ trong câu ca dao sau:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
(Trích Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2014-2015, Sở Giáodục và Đào tạo tỉnh Ninh Bình)
Đây là những dạng đề khá quen thuộc với giáo viên và học sinh Hơn nữa,câu nghị luận xã hội lại tách bạch nội dung với phần Đọc - hiểu và yêu cầu bànluận về một vấn đề lớn trong khuôn khổ một bài văn
Việc ôn tập kĩ năng cho học sinh tập trung vào các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý
Bước 2: Lập dàn ý
Bước 3: Viết bài
Bước 4: Đọc lại bài và sửa chữa
(PHỤ LỤC 2)Giáo viên lên lớp cũng thiên về giảng dạy lý thuyết, đọc – chép bài vănmẫu, kiểm tra học thuộc, chưa chú trọng hướng dẫn kĩ năng, chưa chủ động đổi
Trang 3mới, vận dụng linh hoạt các kĩ thuật hay phương pháp dạy học Học sinh chỉ cầnhọc thuộc lòng, chưa được rèn nhiều kĩ năng vận dụng
2.1.2 Hạn chế của giải pháp cũ và những yêu cầu đặt ra cho giải pháp mới:
- Cách ôn tập của giáo viên không có sự đổi mới đã dẫn đến tình trạng họcsinh nhàm chán, ngại học văn, ngại đưa ra những bình luận, nhận xét hoặc đánhgiá cá nhân, đặc biệt là thiếu tư duy phản biện
- Hầu hết học sinh đều mệt mỏi khi phải ngồi lắng nghe mà không đượcchủ động tham gia vào bài giảng Nhiều học sinh không thể nhớ được hết những
gì mà giáo viên trình bày và thậm chí còn nhớ rất ít Giáo viên cũng mệt mỏi khinói nhiều, từ tiết này đến tiết khác
- HS còn thụ động, ít tương tác và tham gia xây dựng bài với giáo viên
- Khả năng ghi nhớ bài cũ của HS còn yếu
- HS chưa tự tìm cho mình một phương pháp ghi nhớ hiệu quả
- Việc học bài chủ yếu là thuộc lòng, máy móc, không liên kết…
2.2 Giải pháp mới cải tiến
Để thấy được đặc điểm và yêu cầu của dạng bài viết đoạn văn nghị luận
xã hội, trước hết chúng ta quan sát lại câu nghị luận xã hội trong các đề thi chínhthức của những năm gần đây
- Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy nêu cảm nhận về lòng tốt giữa con người với con người trong cuộc sống hiện nay (Trình bày trong một đoạn văn khoảng 200 từ).
(Trích Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2019-2020, Sở Giáodục và Đào tạo tỉnh Ninh Bình)
- Anh (chị) hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về vai trò của gia đình trong cuộc sống của mỗi người
(Trích Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2020-2021, Sở Giáodục và Đào tạo tỉnh Ninh Bình)
Vài năm trở lại đây, cấu trúc đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT môn Ngữvăn đã có sự thay đổi, gồm 2 phần: Phần Đọc – hiểu (3,0 điểm); Phần Làm văn(7,0 điểm, gồm 2 câu: Câu 1 nghị luận xã hội 2,0 điểm, câu 2 nghị luận văn học5,0 điểm) Dù chỉ chiếm 2,0 điểm/10,0 điểm nhưng câu nghị luận xã hội sẽ giúphọc sinh gỡ điểm nếu làm đúng và trúng vấn đề, góp phần nâng điểm số toàn bàithi cao hơn
Trang 4Từ cấu trúc ngôn từ quen thuộc trong các đề: "Từ nội dung đoạn trích ởphần Đọc hiểu ", nội dung nghị luận có quan hệ hữu cơ với nội dung chính củangữ liệu đọc hiểu Đặc điểm này chỉ có từ kỳ thi năm 2017, khi đề bài yêu cầuviết đoạn văn nghị luận xã hội từ một nội dung nào đó trong ngữ liệu đọc hiểu,thay vì bài văn nghị luận xã hội độc lập.
Điều này mang đến thuận lợi cho học sinh trong quá trình làm bài khi các
em có được những gợi ý quan trọng ngay từ việc suy nghĩ và trả lời các câu hỏiđọc hiểu trước đó Tuy nhiên, các em cũng cần lưu ý tránh sự trùng lặp ý giữacâu hỏi đọc hiểu và nội dung đoạn văn nghị luận xã hội
Câu lệnh trong đề luôn xác định rõ hai yêu cầu của đoạn văn, trước hết làmột trong những yêu cầu về hình thức đoạn văn: viết đúng dung lượng theo yêucầu đặt ra trong câu lệnh của đề bài; sau đó là yêu cầu về nội dung nghị luận, đó
là một khía cạnh, một bình diện, một ý nhỏ trong vấn đề lớn Quan sát các đề đãdẫn phía trên, hầu hết nội dung nghị luận đều hướng tới tư tưởng đạo lý - do vậycần lưu ý thêm dạng đề nghị luận về một hiện tượng xã hội Ví dụ: hiện tượngbạo lực học đường/ hội chứng đám đông/ phong trào thiện nguyện trong xã hộithời hiện đại/ các trào lưu sử dụng mạng xã hội
Như vậy, ngoài việc thay đổi cách hỏi, yêu cầu về dung lượng và điểm số,câu nghị luận xã hội còn liên quan chặt chẽ đến phần Đọc – hiểu văn bản, đượcdẫn dắt từ nội dung đọc hiểu Vậy nên cách đưa vấn đề bàn luận cũng rất đadạng và đòi hỏi học sinh có kĩ năng viết súc tích, cảm xúc Theo đánh giá chungcủa người viết, đây là một dạng câu hỏi thiết thực, gần gũi nhưng cũng khó đạtđiểm cao nếu không ôn luyện một cách thành thục
Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi thấy bên cạnh quá trình giúp học sinhchiếm lĩnh tri thức về kiểu bài nghị luận xã hội trong sách giáo khoa tập 2 mônNgữ văn lớp 9 ở hai dạng bài: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống vàNghị luận về vấn đề tư tưởng, đạo lý, thì việc rèn kĩ năng làm bài cho học sinh
là vấn đề then chốt
Trong quá trình ôn luyện, tiếp cận và áp dụng, chúng tôi đã trăn trở, cảitiến và kết hợp nhiều giải pháp mới:
Giải pháp 1: Cung cấp có hệ thống kiến thức về các dạng bài nghị luận xã
hội cho học sinh
Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh tích lũy tri thức.
Giải pháp 3: Nhận diện một số cách trình bày đoạn văn cơ bản.
Trang 5Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh nhận diện đề, tìm ý, xây dựng luận
điểm bàn luận một khía cạnh, một bình diện theo yêu cầu của đề bài
Giải pháp 5: Rèn kĩ năng diễn đạt, phép liên kết (liên kết các câu trong
văn bản), cách đưa và lựa chọn dẫn chứng
Giải pháp 6: Tổng hợp kĩ năng làm câu nghị luận xã hội trong 2 dạng bài
cơ bản thường gặp trong đề thi vào lớp 10 THPT
Giải pháp 7: Hướng dẫn học sinh cách triển khai ý của đoạn văn (lập dàn
ý) qua phương pháp Graph
Giải pháp 8: Tập cách thể hiện cá tính (dấu ấn cá nhân) trong đoạn văn
nghị luận xã hội
(PHỤ LỤC 3)
* Tính mới, tính sáng tạo của các giải pháp:
Giải pháp này đáp ứng một cách tối ưu yêu cầu đổi mới giáo dục trongthời đại ngày nay, đó là:
- Chuyển từ cách học lý thuyết đơn thuần sang học lý thuyết gắn liền vớithực hành, trải nghiệm nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễncuộc sống
- Cụ thể hóa được nội dung bài học, hệ thống chặt chẽ nội dung bài học
- Giúp học sinh học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động,sáng tạo và phát triển tư duy… Cách này giúp các em được rèn luyện một cáchliên tục nhằm nâng cao năng lực, phẩm chất của mình
- Hình thức học tập đa dạng, phong phú sẽ phát huy tính tự giác, tích cực,chủ động của người học trong quá trình rèn luyện, học tập tại trường học, khắcphục được lối học thụ động, phụ thuộc hoàn toàn vào giờ lên lớp trước đây Một
số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và inđậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vìvậy việc sử dụng các giải pháp đổi mới giúp HS học tập một cách tích cực, huyđộng tối đa tiềm năng của bộ não
3 Hiệu quả kinh tế - xã hội dự kiến đạt được
3.1 Hiệu quả kinh tế:
So với các ngành nghề khác, hiệu quả kinh tế thể hiện qua bộ môn Ngữvăn không rõ ràng cụ thể, không nhìn thấy ngay được Nhưng với cách thức đổimới rèn kĩ năng làm câu nghị luận xã hội trong đề thi tuyển sinh vào lớp 10THPT như đã trình bày ở trên, chúng tôi nhận thấy học sinh hiểu bài tốt hơn, các
Trang 6em hào hứng, say mê học văn và làm tốt câu nghị luận xã hội hơn trước Các em
đã có kĩ năng làm bài nên việc học tập các môn học khác của các em cũng kháctrước Trong các kì thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT, có nhiều học sinh đạt điểmcao môn Ngữ văn, góp phần tăng tỉ lệ đỗ vào trường THPT công lập của nhàtrường Chi phí học tập cho các em giảm bớt rõ rệt Các em nhận được sự độngviên khen thưởng về tinh thần và vật chất của Hội khuyến học trong nhà trường,
tư tưởng của mình một các rành mạch, rõ ràng, biết cách tìm hiểu, khám phá vàxác định chân lý trong cuộc sống
Bài văn nghị luận xã hội có vai trò không nhỏ trong việc giáo dục, hìnhthành nhân cách, phát triển tư duy cho học sinh, vì vậy việc rèn luyện, bồidưỡng các kỹ năng trong việc làm văn nghị luận xã hội là rất cần thiết và quantrọng đối với việc giáo dục văn học cấp trung học cơ sở
Với những kinh nghiệm hướng dẫn trên, tôi nhận thấy có sự biến chuyển
rõ rệt trong chuyên đề ôn tập rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội cho họcsinh Giáo viên không phải mất nhiều thời gian hướng dẫn học sinh giải từng đề
cụ thể mà chỉ cung cấp cho các em “chìa khóa” để làm bài Chìa khóa đó là một
hệ thống những kiến thức, kĩ năng cần thiết mà học sinh phải có để sử dụngtrong quá trình viết một đoạn văn nghị luận thông thường Khi học sinh đã cónền tảng kiến thức cơ bản, giáo viên chỉ cần minh họa bằng một số đề, từ đó,hoàn toàn có thể chủ động, tự tin thực hiện bất kì một yêu cầu nào
Trang 7Khi áp dụng sáng kiến này vào giảng dạy tôi nhận thấy hiệu quả xã hội làquan trọng nhất Học sinh say mê yêu thích môn học, học sinh gắn bó với trườnglớp, với bạn bè, không vi phạm các vấn đề về đạo đức hay các tệ nạn xã hội.Cũng từ đó, phụ huynh học sinh đã có những nhận thức đúng đắn hơn, tích cựchơn với bộ môn Ngữ Văn Nhiều phụ huynh đã khuyến khích con em mình họcVăn cũng như các bộ môn Khoa học Xã hội khác Bởi môn nào cũng quan trọng
và đều giúp ích cho học sinh sau này
b Kết quả cụ thể:
Thực hiện sáng kiến của mình, trên cơ sở bám sát chương trình phân môn,trong các bài kiểm tra thường xuyên và định kì của học sinh, chúng tôi đã kiểmchứng bằng một số yêu cầu viết đoạn văn cụ thể
Bảng so sánh kết quả trước và sau thực nghiệm:
Trước khi vận dụng các giải pháp đổi mới:c khi v n d ng các gi i pháp ận dụng các giải pháp đổi mới: ụng các giải pháp đổi mới: ải pháp đổi mới: đổi mới:i m i:ớc khi vận dụng các giải pháp đổi mới:
Năm
Tổng số HS thực nghiệm
(em)
Số HS nắm chắc lý thuyết,
kĩ năg tự tin
làm bài (em)
Số HS nắm được một phần
lý thuyết, kĩ năng, biết làm
bài (em)
Số HS không nắm rõ lý thuyết, lúng túng khi làm
bài (em)
2019-2020 9A 36 17 47,2 % 11 30,6 % 08 22,2 % 2020-2021 9A 40 19 47,5 % 12 30,0 % 09 22,5 %
Biểu đồ thể hiện kĩ năng thực hành viết đoạn văn nghị luận xã hội của học sinh trước khi giáo viên vận dụng các giải pháp đổi mới.
Sau khi v n d ng các gi i pháp ận dụng các giải pháp đổi mới: ụng các giải pháp đổi mới: ải pháp đổi mới: đổi mới:i m i:ớc khi vận dụng các giải pháp đổi mới:
Trang 8Tổng
số HS thực nghiệm
(em)
Số HS nắm chắc lý thuyết,
kĩ năg tự tin
làm bài (em)
Số HS nắm được một phần
lý thuyết, kĩ năng, biết làm
bài (em)
Số HS không nắm rõ lý thuyết, lúng túng khi làm
Biểu đồ thể hiện kĩ năng thực hành viết đoạn văn nghị luận xã hội của học sinh sau khi giáo viên vận dụng các giải pháp đổi mới.
Từ bảng số liệu trên cho thấy, sau khi chúng tôi tiến hành ôn luyện chohọc sinh lớp 9 kĩ năng làm câu nghị luận xã hội, theo các giải pháp đã trình bàytrong sáng kiến, nhiều học sinh nắm chắc tại lớp phần lý thuyết và vận dụngthực hành, viết đoạn văn nghị luận xã hội đạt kết quả cao
Nhận thấy khả quan mà sáng kiến mang lại, chúng tôi đã mạnh dạn vậndụng trong quá trình bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi lớp 9 của huyện YênKhánh Đây cũng là một trong những yếu tố làm nên thành công của đội tuyểnNgữ văn trong kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh những năm vừa qua Kết quả cụ thểnhư sau:
Trang 9K t qu thi tuy n sinh v o l p 10 THPT môn Ng v n trong nh ngết quả thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn trong những ải pháp đổi mới: ển sinh vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn trong những ào lớp 10 THPT môn Ngữ văn trong những ớc khi vận dụng các giải pháp đổi mới: ữ văn trong những ăn trong những ữ văn trong những
n m h c g n ây c a các l p tôi tr c ti p gi ng d y c ng cho th y rõ tínhăn trong những đ ủa các lớp tôi trực tiếp giảng dạy cũng cho thấy rõ tính ớc khi vận dụng các giải pháp đổi mới: ực tiếp giảng dạy cũng cho thấy rõ tính ết quả thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn trong những ải pháp đổi mới: ạy cũng cho thấy rõ tính ũng cho thấy rõ tính ấy rõ tính
hi u qu c a sáng ki n ệu quả của sáng kiến ải pháp đổi mới: ủa các lớp tôi trực tiếp giảng dạy cũng cho thấy rõ tính ết quả thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn trong những
Năm học Điểm TB môn
Ngữ văn của nhà trường
Xếp thứ các trường THCS trong huyện môn Ngữ văn
bộ, giáo viên trong trường, trong huyện, là động lực giúp cho các cán bộ, giáoviên có nhận thức đúng đắn về sự đổi mới, trong đó chú trọng công tác quản lýgiáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy Nhàtrường đã chủ động đưa học sinh đến với thực tế nhiều hơn; tổ chức cho cán bộ,giáo viên tiếp thu việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục theohướng tăng cường năng lực thực hành, vận dụng kiến thức, định hướng năng lựccho học sinh Giáo viên hạn chế được sự giảng giải, thuyết trình để tập trung vào
tổ chức, hỗ trợ quá trình học tập của học sinh Học sinh cơ bản thay đổi đượcthói quen học tập thụ động, được rèn luyện nhiều hơn về kỹ năng sống…
4 Điều kiện và khả năng áp dụng
4.1 Điều kiện áp dụng:
* Đối với giáo viên:
- Nghiên cứu kĩ nội dung, chương trình sách giáo khoa, nắm vững nhữngkiến thức của từng bài và những kiến thức liên quan để thiết kế các hoạt động phùhợp
- Vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực để kích thích tư duy và khả năngsáng tạo của học sinh, tạo cơ hội cho học sinh phát biểu ý kiến, phản biện
Trang 10- Tích cực học hỏi, tham gia chuyên đề của tổ, nhóm chuyên môn, tích cựcbồi dưỡng thường xuyên.
- Thường xuyên đánh giá kết quả của học sinh, kết quả giảng dạy của mình,
có phương án điều chỉnh cho phù hợp cho những giờ dạy sau
* Đối với học sinh:
- Nắm vững kiến thức cơ bản và trau dồi khả năng hiểu biết xã hội
- Có lòng đam mê, yêu thích môn học
- Phải có ý thức cố gắng, kiên trì, chịu khó trong học tập
- Trong giờ học trên lớp, cần nắm vững lí thuyết, có kĩ năng vận dụng,thường xuyên trao đổi cùng bạn bè để nâng cao kiến thức cho học sinh
4.2 Khả năng áp dụng:
Sáng kiến có tính thực tiễn cao, có thể vận dụng rộng rãi trong quá trìnhdạy và học ở cấp THCS và THPT Đặc biệt, sáng kiến này có thể áp dụng vớinhiều đối tượng học sinh, kể cả học sinh đại trà cũng như học sinh khá giỏi Cácthầy giáo, cô giáo và học sinh có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quátrình ôn thi các cấp… để đạt hiệu quả thiết thực, phù hợp với yêu cầu đổi mớigiáo dục theo hướng phát triển năng lực học sinh hiện nay
Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng
sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
PHỤ LỤC 1 Thông tin nhóm tác giả sáng kiến
1 Đỗ Xuân Quyền
Chức danh: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường THCS Khánh Cường, Yên Khánh, Ninh Bình
Trang 11Trình độ chuyên môn: Đại học Ngữ văn
Email: quyenpyk@gmail.com
Số điện thoại: 0915922919
2 Nguyễn Thị Lan Hương
Chức danh: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Khánh Cường, Yên Khánh, Ninh BìnhTrình độ chuyên môn: Thạc sĩ Ngữ văn
Email: lanhuongyk1985@gmail.com
Số điện thoại: 0948157079
PHỤ LỤC 2 CÁC BƯỚC LÀM BÀI, BỐ CỤC THƯỜNG LÀM
Trang 12Các bước làm bài văn nghị luận xã hội.
Bố cục bài văn nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống.
Bố cục bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý.
PHỤ LỤC 3
Trang 13NỘI DUNG CÁC GIẢI PHÁP MỚI CẢI TIẾN ĐỂ RÈN KĨ NĂNG LÀM BÀI CÂU NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG BÀI THI VÀO LỚP 10
THPT MÔN NGỮ VĂN
Giải pháp 1: Cung cấp có hệ thống kiến thức về các dạng bài nghị luận
xã hội cho học sinh.
Trong phân môn Làm văn, lý thuyết là nền tảng vô cùng quan trọng bởi lýthuyết là kinh nghiệm, kiến thức, tri thức, trí tuệ của các thế hệ tích lũy lại, cungcấp cho người viết cơ sở kiến thức để lập luận và kiến giải các vấn đề trong bàiviết Vì lẽ đó, sẽ không quá nếu nói hệ thống lý thuyết chính là “quỹ đạo” củangười viết Và để kết quả bài làm đảm bảo không lạc đề, triển khai đúng vấn đề,thì quá trình triển khai bài viết, người viết không thể đi chệch cái “quỹ đạo” đó
Những kiến thức, kĩ năng và thao tác lập luận về Làm văn nghị luận ở phổthông không phải hoàn toàn mới mà là sự lặp lại có nâng cao, xoay quanh haikiểu bài chính: Nghị luận văn học và Nghị luận xã hội Đối với kiểu bài Nghịluận xã hội tập trung vào hai dạng chính: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí vàNghị luận về một hiện tượng đời sống Nghị luận xã hội nhằm hướng đến nhữngsuy nghĩ của HS vào các vấn đề chính trị, xã hội Mục tiêu cần đạt là giúp HShuy động được kiến thức và kĩ năng để tạo lập được một văn bản nghị luận xãhội hoàn chính, đúng hướng Chính vì vậy, các đơn vị bài học trong chươngtrình không chỉ cung cấp những kiến thức, mà còn rèn luyện các kĩ năng bổ trợcho HS trong việc tạo lập văn bản
* Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống:
Trang 14* Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý:
Trang 15Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh tích lũy tri thức.
Các lĩnh vực xã hội làm đề tài cho bài văn nghị luận xã hội rất đa dạng,nên kiến thức phục vụ cho bài làm của học sinh là rất phong phú Nhưng, điềuquan trọng, học sinh phải có ý thức quan sát, tìm hiểu, ghi chép, để vận dụng(giáo viên cần hướng dẫn để học sinh biết để ý, để tâm những vấn đề của đờisống, xã hội)
Có thể định hướng học sinh huy động kiến thức từ các nguồn:
Kiến thức từ sách vở: Chủ yếu từ báo chí, sách tham khảo về các lĩnh vựccủa cuộc sống, từ văn học, lịch sử, khoa học, tôn giáo, sách về gương người tốtviệc tốt …" Hạt giống tâm hồn", "Hạt giống hạnh phúc", "Suy nghĩ của nhữngngười trẻ",… Điều quan trọng cùng các em tìm và lựa chọn sách cần thiết đểhọc, biết cách đọc, hệ thống hóa kiến thức
Kiến thức từ đời sống: Hiểu biết, tích lũy hoặc từ đời sống hàng ngày củabản thân người viết, yêu cầu học sinh có thói quen quan sát cuộc sống, nhữnghoạt động, sự việc, những vấn đề từ cuộc sống xung quanh quan trọng hơn làbiết suy nghĩ, suy xét những gì mình nghe được, quan sát được Trên cơ sở đó,biết lựa chọn, nắm bắt lấy bản chất vấn đề
Trang 16Chuyên mục “Việc tử tế” trong chương trình VTV1 đã tái hiện
nhiều tấm gương tốt.
Kiến thức từ trải nghiệm bản thân, đây sẽ là ví dụ minh họa sống đúng, cósức thuyết phục nếu nó được vận dụng vào bài văn một cách tự nhiên, chânthành
Giải pháp 3 Nhận diện một số cách trình bày đoạn văn cơ bản.
Giáo viên nhấn mạnh cho học sinh ba cách trình bày cơ bản sau:
- Phương pháp diễn dịch: câu chủ đề, câu nêu ý khái quát đặt ở đầu đoạn;các câu còn lại triển khai ý tưởng chủ đề, mang ý nghĩa minh hoạ, cụ thể Cáccâu triển khai được thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phântích, bình luận; có thể kèm những nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận củangười viết
- Phương pháp quy nạp: câu chủ đề, câu nêu ý khái quát đặt ở cuối đoạn
Trang 17- Phương pháp tổng - phân - hợp: Câu mở đầu đoạn văn nêu lên một nhậnđịnh chung Các câu sau khai triển đoạn đưa ra các biểu hiện cụ thể minh họacho nhận định chung Từ những chứng cớ cụ thể này, câu kết đoạn đúc kết thànhmột nhận định mới vừa phù hợp với nhận định ban đầu, vừa được nâng cao hơn.
Đó là mô hình tổng hợp - phân tích - tổng hợp (tổng - phân - hợp) (Khuyếnkhích học sinh trình bày theo mô hình này)
Ví dụ: Hãy viết một đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ trình bày quan điểm
của em về hậu quả của việc “phán xét người khác một cách dễ dàng”.
- Câu 1: Câu chủ đề:
Trong cuộc sống, nhiều người có thói quen phán xét người khác nhưng
đã bao giờ họ nghĩ đến hậu quả của việc “phán xét người khác một cách dễdàng” hay chưa?
- Câu 2 -> Câu 7: Hậu quả của việc phán xét người khác một cách dễ dàng
Những lời phán xét được thốt ra một cách dễ dàng thường thiếu đúngđắn, khách quan vì người thốt ra chúng chỉ dựa trên một khía cạnh nào đó vớicái nhìn phiến diện, chủ quan Với sự phát triển của mạng internet và các trangmạng xã hội, việc buông lời phán xét người khác càng trở nên dễ dàng hơn, gây
ra những hệ luỵ không nhỏ trong mối quan hệ con người với con người Ngườihay phán xét người khác một cách dễ dàng dần trở thành những con người ích
kỉ, hẹp hòi, bị mọi người xa lánh Người bị phán xét thiếu cẩn trọng thì bị tổnthương về mặt tinh thần (trầm cảm, stress,…) thậm chí có thể ảnh hưởng tới thểxác Nhiều cô cậu học trò vì bị bạn bè phán xét mà dẫn đến xô xát, nhẹ thì khẩuchiến nặng thì huyết chiến Đáng sợ hơn cả là những người nổi tiếng trong cộngđồng mạng hay trong đời sống xã hội, khi không chịu nổi những lời gièm pha ác
ý, thiếu chính xác, họ đã chấm dứt sự sống của bản thân (U-Nee: nữ diễn viênkiêm ca sĩ Hàn Quốc tự sát tại nhà ngày 21/1/2007 vì những lời bình luận khônghay trên mạng…)
- Câu 8 –> Câu 10: Bình luận
Có thể thấy, thực tế cuộc sống luôn có những người tự cho mình quyềnphán xét người khác, phát huy triệt để khả năng “bới lông tìm vết”, khen thì ít
mà chê thì nhiều Chúng ta cần phân biệt sự khác biệt giữa sống có chính kiến:biết khen – biết chê với lối sống phán xét người khác một cách tuỳ tiện Khiphán xét một người nào đó ta cần có tấm lòng trong sáng, đức tính trung thực,