ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN HỒNG QUÂN Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI LIÊN KẾT
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỒNG QUÂN
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI LIÊN KẾT CỦA CTY CP DƯỢC PHẨM THÁI VIỆT PHARMA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2016 - 2021
Thái Nguyên - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỒNG QUÂN
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI LIÊN KẾT CỦA CTY CP DƯỢC PHẨM THÁI VIỆT PHARMA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trại lợn liên kết với công ty cổ phần Dược Phẩm Thái Việt Pharma ở xóm 5, xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, em đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của các anh chị công nhân, kỹ thuật, quản lý cũng như sự giúp đỡ và quan tâm rất tận tình chu đáo và động viên tới từ cô TS Phạm Diệu Thùy và bố mẹ, anh chị em người thân trong gia đình Nhân dịp này em xin được bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc và chân thành đến:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại trường và trong thời gian đi thực tập tốt nghiệp tại cơ sở
Các thầy giáo, cô giáo trong Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi Thú y đã đào tạo, truyền đạt lại những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường
Cô giáo TS Phạm Diệu Thùy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, động viên trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở và đã sửa chữa hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này
Công ty cổ phần dược phẩm Thái Việt Pharma đã tạo mọi điều kiện cho em có cơ hội thực tập tại công ty và sự giúp đỡ tận tình chu đáo từ các anh trong công ty về công việc cũng như kiến thức thực tế ngoài xã hội giúp ích cho bản thân sau khi ra trường
Các anh chị quản lý, kỹ thuật, trưởng trại, cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên tại trang trại đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian thực tập
Trang 4Cuối cùng em xin gửi lời những lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến bố mẹ, anh chị em ruột thịt, người thân trong gia đình và các bạn bè đã giúp đỡ về vật chất và động viên về mặt tinh thần trong suốt những năm tháng qua, giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp và chương trình học ngành bác
sỹ thú y của trường đại học nông lâm Thái nguyên
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
Nguyễn Hồng Quân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của chuyên đề 2
1.3 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 2
2.1.2 Cơ sở vật chất của trại lợn 4
2.1.3 Cơ cấu tổ chức trang trại 6
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn 6
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 7
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái 7
2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái 10
2.3 Chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý lợn nái trong giai đoạn mang thai 15
2.3.1 Công tác quản lý và chăm sóc lợn nái trong giai đoạn mang thai 15
2.3.2 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái 16
2.4 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái mang thai 19
2.4.1 Sảy thai 19
2.4.2 Viêm tử cung 20
2.4.3 Bỏ ăn không rõ nguyên nhân 23
2.4.4 Đau móng, viêm khớp 24
Trang 62.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26
2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 26
2.6.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 28
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30
3.1 Đối tượng và phạm vi tiến hành 30
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30
3.3 Nội dung tiến hành 30
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tiến hành 30
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30
3.4.2 Phương pháp thực hiện 31
3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 31
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn nái tại trại 32
4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng tại cơ sở 33
4.2.1 Công tác chăn nuôi 33
4.2.2 Chăm sóc nuôi dưỡng 35
4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh tại cơ sở 36
4.3.1 Công tác phòng bệnh 36
4.3.2 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng chuồng trại tại cơ sở 37
4.3.3 Kết quả tiêm vắc xin cho đàn lợn nái mang thai và lợn nái hậu bị tại trại 39
4.3.4 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái mang thai tại trại theo tháng 40
4.3.5 Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn nái mang thai tại cơ sở 42
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA CHUYÊN ĐỀ
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Khẩu phần ăn của lợn nái hậu bị, lợn nái cai sữa, lợn đực khai thác,
lợn đực chờ khai thác 17
Bảng 2.2 Bảng khối lượng thức ăn chuồng sinh sản 18
Bảng 2.3 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 23
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại trong 2 năm 2019 - 2020 32
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh tại cơ sở 37
Bảng 4.3 Lịch vệ sinh, sát trùng định kỳ tại trại 38
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại 39
Bảng 4.5 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai tại trại 40
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh ở đàn lợn nái mang thai nuôi tại trại 41
Bảng 4.7 Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn mang thai tại trại 42
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
E.coli Escherichia coli
IU International Unit FSH Follicular stimulating hormone Nxb Nhà xuất bản
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hòa theo sự phát triển của các ngành kinh tế đặc biệt là ngành chăn nuôi cũng là một trong các ngành đang có xu hướng phát triển rất tốt Trong
đó có ngành chăn nuôi lợn, hiện nay đang rất phổ biến và trở thành yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế của các hộ gia đình nông nghiệp và trang trại, đặc biệt là các mô hình trang trại VAC Vì thế Đảng và nhà nước đã đặc biệt quan tâm, chú trọng đầu tư về công tác giống, thức ăn, thú y cho ngành chăn nuôi Do đó, ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi lợn nói riêng không ngừng phát triển, chất lượng đàn lợn không ngừng được cải thiện Nhờ đó, ngành chăn nuôi lợn đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong chăn nuôi nói riêng, trong phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa nói chung
Giai đoạn mang thai là vô cùng quan trọng nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái cần phải hết sức để ý để có được đàn lợn giống tốt, chất lượng cao, vì nó ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng của đàn lợn giống sau này Ngoài ra việc phòng và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản cũng góp phần rất quan trọng trong quá trình lợn nái mang bầu đến khi sinh ra
Cùng với sự phát triển của nghành chăn nuôi ngoài những trang trại quy
mô hiện đại thì vẫn còn nhiều cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ, hộ gia đình do thiếu vốn đầu tư cho cơ sở vật chất, khoa học kĩ thuật chưa đảm bảo, kiến thức của người chăn nuôi chưa cao hoặc chưa theo sát được sự phát triển về kĩ thuật của ngành dẫn đến việc chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh còn gặp nhiều khó khăn nhất là lúc dịch tả heo châu phi đang diễn ra rất là phức tạp trong thời gian này khi chưa có vaccine Đàn lợn nái mang thai dễ gặp phải các bệnh như: viêm tử cung, viêm khớp, sảy thai, bại liệt trước và sau khi đẻ…
Từ những thực tế trên, để bổ sung thêm những kiến thức cơ bản, nâng cao
Trang 10Ban lãnh đạo công ty đã tạo mọi điều kiện cho em tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trang trại liên kết của công ty cổ phần Dược Phẩm Thái Việt Pharma”
1.2 Mục tiêu của chuyên đề
- Đánh giá hiệu quả của quy trình phòng bệnh và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại
- Biết và thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái mang thai tại trại
- Thành thạo trong việc sử dụng các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai
- Phát hiện và chẩn đoán các bệnh thường hay xảy ra trên đàn lợn nái mang thai và phương pháp phòng và điều trị bệnh hiệu quả
1.3 Yêu cầu của chuyên đề
Học hỏi và áp dụng quy trình chăn nuôi cũng như cách chăm sóc đàn lợn nái mang thai tại trang trại
Có những biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả cho đàn lợn nái mang thai tại trại
Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái mang thai tại trại
Đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái mang thai tại trại
- Hoàn thành công việc tại trại, giao tiếp gần gũi, hòa đồng với cán bộ công nhân viên của trang trại
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Trang 11Trang trại lợn liên kết với công ty cổ phần Dược Phẩm Thái Việt Pharma tại xóm 5, xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Quân Chu là xã cực nam của huyện Đại Từ, có vị trí địa lý:
Phía đông giáp thị xã Phổ Yên và thị trấn Quân Chu
Phía tây và phía nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc
Phía bắc giáp xã Cát Nê
Trang trại có vị trí địa lý rất thuận lợi cho chăn nuôi, cách xa khu dân
cư giáp với dãy núi Tam đảo
Với điều kiện khí hậu và hệ thống quản lý trang trại rất thuận lợi cho đàn vật nuôi phát triển và sinh sản
* Điều kiện địa hình, đất đai
Trang trại được xây dựng trên khu đất rộng, có địa hình rất bằng phẳng,
xa khu dân cư, tiện đường đi lại lên rất thuận lợi cho việc chăn nuôi
Trại lợn có diện tích rộng 6 ha bao gồm:
- Đất trồng cây ăn quả: 2,5 ha
- Đất xây dựng hệ thống xử lý nước thải: 0,5 ha
- Đất xây dựng khu chăn nuôi: 2 ha
Trang 12- Đất xây dựng nhà điều hành, khu sinh hoạt và thể dục thể thao cho cán bộ công nhân viên: 1 ha
Xung quanh trại được bao bọc bằng hàng rào bằng tôn và tường cao
2.1.2 Cơ sở vật chất của trại lợn
2.1.2.1 Cơ sở vật chất của trại
Trại lợn có quy mô 1.200 lợn nái sinh sản, 15 lợn được giống và 50 lợn cái hậu bị
Khu nhà điều hành và khu nhà ăn, ở của công nhân: Được trang bị đầy
đủ tiện nghị phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, vui chơi, giải trí của toàn bộ cán
bộ và công nhân trong trang trại sau giờ làm việc
Ngay tại cổng vào trang trại có 2 phòng sát trùng (nam và nữ), cổng vào khu chăn nuôi có 2 phòng sát trùng cho công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, có 1 nhà ăn và 2 phòng nghỉ trưa tập thể
Khu chăn nuôi gồm khu chuồng bầu, khu chuồng nái đẻ, khu chuồng nuôi lợn đực giống, khu chuồng cách nuôi cách ly và loại thải lợn
- Khu chuồng nái chửa gồm 2 chuồng bầu 1 và bầu 2 dành cho lợn nái mang thai và là chuồng có diện tích lớn nhất
Cách sắp xếp lợn trong chuồng đối với những lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau được xếp vào những dãy khác nhau Lợn đực giống phục
vụ việc lấy tinh phối giống được xếp ở dãy trong cùng gần khu vực lấy tinh Lợn nái cai sữa được đưa về nơi chờ phối trong chuồng lợn nái có chửa nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra và lên giống Phòng tinh được trang bị khá đầy đủ: kính hiển vi, tủ lạnh, nồi hấp dụng cụ, máy ép túi tinh, nhiệt kế,… Chuồng được xây dựng đạt tiêu chuẩn của một chuồng kín với kết cấu tất cả sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng giúp công việc vệ sinh, khử trùng được thuận tiện Đầu chuồng nái chửa có hệ thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt thông gió với 8 quạt hoạt động nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng Ngoài ra bên trong chuồng còn được trang bị
Trang 13đầy đủ hệ thống vòi nước tự động, máng ăn cho từng ô lợn nái nhằm đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất
- Khu chuồng đẻ gồm 3 chuồng mỗi chuồng ngăn làm hai và gần kề nhau Được gọi là: đẻ 1, đẻ 2, đẻ 3 Mỗi chuồng đẻ gồm 120 ô chia ra làm 2 ngăn 60 ô, mỗi ngăn gồm 2 dãy, phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió (mỗi ngăn 3 quạt) Trong chuồng đẻ sàn chuồng lợn mẹ làm bằng tấm đan bê tông, sàn chuồng dành cho lợn con làm bằng nhựa cứng Mỗi một ô chuồng đẻ đều có vòi nước tự động dành cho lợn mẹ
và dành cho lợn con Phần chuồng cho lợn con khá rộng rãi, một góc để lồng
úm, lồng úm được làm bằng khung sắt và hàn bằng tôn để giữ nhiệt, cửa chuồng có hàn thêm một thanh sắt ngang giúp cho lợn con đỡ bị chèn Mỗi lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm.Trong mỗi ô chuồng để một máng ăn nhỏ cho lợn con tập ăn Trong mỗi chuồng đều có nhiệt kế đo nhiệt
độ chuồng nuôi Tại khu chuồng đẻ mỗi lần xuất lợn con và đuổi lợn mẹ về khu vực chờ phối thì chuồng được cọ rửa và phun vôi, sát trùng để trống chuồng 1 tuần trước khi đuổi lợn bầu sắp đẻ lên
- Khu chuồng đực là khu nuôi lợn đực khai thác tinh được thiết kế cạnh phòng tinh để tiện cho việc khai thác
- Khu chuồng cách ly là khu chuồng nuôi lợn nái hậu bị mới nhập về để thay thế đàn và lợn nái loại thải Vị trí chuồng cách ly nằm gần chuồng bầu thuận tiện cho việc vận chuyển lợn lên chuồng bầu khi đã đủ điều kiện phối giống Khu chuồng cách ly được xây dựng với bên trong là các ô nuôi lợn tập trung gồm 4 ô lớn được trang bị khá đầy đủ với hệ thống nước uống và máng
ăn tự động bên trong các ô Khu bên trên đầu chuồng là hệ thống giàn mát và khu cuối chuồng có 5 quạt thông gió nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi Mỗi chuồng đều được lắp đặt máy bơm nước, vòi áp lực cao để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nước thải
Trang 14* Khu nhà để thức ăn, kho thuốc, kho cám, khu nhà để dụng cụ chăn nuôi nằm trong khu chăn nuôi
Nguồn nước sử dụng trong trại được cung cấp từ hệ thống giếng khoan, nước sau khi được bơm lên 2 bể được xử lý bằng hóa chất Sau đó được bơm lên một bể ở trên cao, lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ thống cung cấp nước uống, giàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh
Nguồn điện sử dụng trong trang trại là hệ thống điện lưới quốc gia và
có máy phát điện công suất lớn dùng trong trường hợp mất điện
Kho cám gồm 1 kho chứa rộng có thể lên đến hơn 100 tấn
2.1.3 Cơ cấu tổ chức trang trại
- Bộ phận quản lí trang trại bao gồm: 01 trưởng trại là ông Nguyễn Văn Cường và là người quản lý trại
- Bộ phận cán bộ kỹ thuật, tài chính: 01 kế toán, 01 kỹ thuật bảo trì và 5 cán bộ kỹ thuật chăn nuôi
- Bộ phận nhân viên: 12 công nhân và 02 sinh viên thực tập (kỹ thuật học việc)
- Được Công ty TNHH thực phẩm CJ Vina cung cấp về con giống, thức
ăn và thuốc thú y có chất lượng tốt
- Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi, xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông
Trang 15- Chuồng trại được trang bị bằng các thiết bị hiện đại, điện lưới và hệ thống nước sạch luôn cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt và chăn nuôi
- Trưởng trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân
- Đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn vững vàng, đội ngũ công nhân rất nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong việc Do
đó đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại
Khó khăn
- Đội ngũ công nhân trong trại còn thiếu về số lượng, nên đã ảnh hưởng đến tiến độ công việc
- Trang thiết bị, vật tư, hệ thống chăn nuôi vẫn còn hạn chế
- Trong những năm gần đây, thời tiết diễn biến phức tạp kèm theo dịch bệnh nhất là dịch tả lợn châu phi khó kiểm soát, gây khó khăn cho chăn nuôi Những khó khăn trên đòi hỏi trại phải đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho đàn lợi tại trại
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái
Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái bao gồm bộ phận sinh dục bên trong và bộ phận sinh dục bên ngoài
Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [4] cho biết: đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục lợn cái như sau:
* Bộ phận sinh dục bên trong
- Âm đạo (Vigina): Phía trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền
đình có màng trinh che lỗ âm đạo Âm đạo là lỗ tròn để chứa cơ quan sinh dục sinh đực khi giao phối Đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình đẻ, kích thước âm đạo của lợn là 10 - 12 cm
Trang 16- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng
cho sự phát triển của bào thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái Tử cung gồm 3 phần: sừng, thân, cổ tử cung
+ Ngoài cùng là lớp tương mạc được nối với dây chằng rộng Lớp cơ:
cơ trơn rất phát triển dày, khỏe có cấu tạo với chức năng chứa thai phát triển
và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong Cơ vòng phát triển mạnh
ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt Lớp niêm mạc trong cùng có màu hồng nhạt có nhiều nếp gấp, trong niêm mạc có nhiều tuyến tiết ra chất nhờn Niêm mạc đến cổ tử cung thì thắt tùy thuộc vào từng loại gia súc
+ Mạch quản thần kinh: Động mạch đến từ động mạch tử cung - buồng trứng và động mạch tử cung Thần kinh đến từ đám rối treo đằng sau và đám rối hạ vị Sừng tử cung của lợn dài ngoằn nghèo như ruột non dài từ 0,5 - 1m Dây chằng rộng dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được
+ Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng tử cung Cổ tử cung không có nếp gấp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau
- Buồng trứng (Ovarium): Có hai buồng trứng treo ở cạnh trước dây
chằng rộng và nằm trong xoang chậu Bên ngoài là một màng liên kết sợi chắc như màng bao dịch hoàn Bên trong buồng trứng chia làm hai miền: miền vỏ và miền tủy, được cấu tạo bởi lớp mô liên kết sợi xốp tạo cho buồng trứng một chất đệm
+ Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng cho đến khi trứng chín và rụng
+ Miền tủy: nằm ở giữa gồm nhiều mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo
vệ trứng
Buồng trứng như một tuyến nội tiết của gia súc cái Buồng trứng có hai chức năng: Nội tiết (tiết ra hormone sinh dục cái oestrogen) và ngoại tiết (bài
Trang 17noãn) Các hormone sinh dục cái: estrogen, progesteron và inhibin tham gia
vào việc điều khiển chu kì sinh sản của lợn cái Estrogen cần thiết cho sự phát
triển của tử cung và hệ thống dẫn của tuyến vú Progesteron do thể vàng tiết
ra kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú Oxytocin được tiết ra chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên và cũng được tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi con vật gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa Relaxin do thể vàng tiết ra gây dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử cung, do đó mở rộng đường sinh
dục khi lợn sắp sinh Inhinbin có tác dụng ức chế sự phân tiết kích tố noãn
(FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển noãn nang theo chu kì
Khi noãn nang bào thành thục thì màng liên kết buồng trứng sẽ tách ra
Tế bào trứng rời khỏi buồng trứng đi vào loa kèn, noãn nang bào rách ra sẽ liền ngay Các tế bào phân chia nhanh thành một khối tế bào lớn để lấp kín xoang noãn bào và trở thành thể vàng Nếu tế bào trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại và tiết ra hóoc môn progesterone có tác dụng an thai và ngược lại
- Ống dẫn trứng (Oviductus): Là một ống nhỏ ngoằn ngoèo nằm ở
màng treo buồng trứng
Cấu tạo gồm 3 phần: ngoài cùng là sợi liên kết được kéo dài từ màng treo buồng trứng Giữa là lớp cơ trơn, trong cùng là niêm mạc được cấu tạo bằng tế bào hình trụ, hình vuông làm nhiệm vụ tiết dịch Bề ngoài niêm mạc được phủ một lớp nhung mao, luôn rung động để đẩy tế bào trứng hoặc hợp
tử xuống tử cung làm tổ
Ống dẫn trứng có chức năng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau Bộ phận giống như tua diềm vận chuyển trứng đã rụng từ bề mặt buồng trứng đến phễu Trứng được chuyển qua những lớp nhầy đi đến phồng ống dẫn trứng, nơi xảy ra sự thụ tinh và được lưu lại trong ống dẫn trứng khoảng 3 ngày trước khi chúng được chuyển đến tử cung Thời
Trang 18gian trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện thuận lợi cho sự hợp nhất của các giao tử và cho sự phát triển ban đầu của phôi (Nguyễn Mạnh Hà và cs., 2012) [4]
* Bộ phận sinh dục bên ngoài
- Âm môn (Vulva): Hay còn gọi là âm hộ Nằm ở dưới hậu môn Phía
ngoài âm môn có 2 môi Nối liền 2 môi là 2 mép Trên 2 môi âm môn có sắc
tố đen và nhiều tuyến tiết Tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi
- Âm vật (Clitoris): Cấu tạo cũng có thể hổng như con đực Trên âm vật
có nếp da tạo mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Âm vật được phủ bởi một lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, do đó trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, người thụ tinh thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để cổ tử cung co thắt và con vật trở lại trạng thái bình thường
- Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogentalis): Là giới hạn giữa âm
môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh là âm đạo, phía sau là âm môn, sau màng trinh là lỗ niệu đạo Tiền đình có một số
tuyến hướng quay về âm vật
2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái
Sự thành thục về thể vóc
Sự thành thục về thể vóc là sự phát triển hoàn toàn về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường muộn hơn sự thành thục về tính Sự thành thục về tính được đánh dấu khi xuất hiện khi có dấu hiệu động dục lần đầu, nhưng sự sinh trưởng và phát dục về cơ thể vẫn tiếp tục Nếu cho phối giống ngay ở giai đoạn thành thục về tính này sẽ không tốt cho lợn nái Lợn mẹ vẫn thụ thai nhưng không đảm bảo bào thai phát triển tốt, chất lượng đàn con kém, đồng thời cơ quan sinh dục chưa phát triển hoàn thiện, xương chậu hẹp gây ra hiện tượng khó đẻ Điều
Trang 19này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này, do đó không nên phối giống khi lợn chưa thành thục về thể vóc
Sự thành thục về tính
Thời điểm động dục của lợn cái khác nhau trên cùng một giống lợn Con vật được chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ thành thục sớm hơn những con ít được chăm sóc Sự kích thích của con đực làm con lợn cái nhanh động dục hơn so với những con không được tiếp xúc với lợn đực
Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [4] thì sự thành thục về tính dục ngoài việc phụ thuộc vào sự điều hòa của thần kinh, thể dịch còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh khác như: Giống, dinh dưỡng, khí hậu, mùa vụ, sự tiếp xúc giữa con đực và con cái… Các giống lợn nội thành thục sớm hơn lợn ngoại, lợn lai Gia súc nhiệt đới thành thục sớm hơn gia súc ôn đới
Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục) Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng
Chu kỳ động dục
Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [4]: Sau khi thành thục tính dục, gia súc cái bắt đầu có hoạt động sinh sản Dưới sự điều hòa của hormone tuyến yên, nang trứng tăng trưởng, thành thục (chín) và rụng Kèm theo quá trình này là hàng loạt biến đổi toàn thân và cơ quan sinh dục được biểu hiện
bởi các triệu chứng đặc biệt, gọi là triệu chứng động dục
Ở lợn thường động dục không theo mùa, chu kì động dục trung bình là
21 ngày, giao động trong koảng từ 18 - 22 ngày Thời gian xuất hiện động dục sau khi đẻ liên quan đến vấn đề cho con bú Thời gian lợn động dục sau khi cai sữa lợn con là từ 3 - 5 ngày Nếu không cho con bú thì sau đẻ 3 - 5 ngày lợn động dục trở lại vì thể vàng ở lợn teo đi rất nhanh
Thời gian động dục lần thứ hai sau 20 - 22 ngày, quá trình động dục kéo dài cao độ trong khoảng 24 - 72 giờ, thời điểm rụng trứng là ngày thứ 2 sau động dục
Trang 20Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước động dục: Là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình thường
Giai đoạn này các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên, đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Nhưng tính hưng phấn chưa cao Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
+ Giai đoạn động dục: Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục
có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu, rống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này
tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện
+ Giai đoạn sau động dục: Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn
+ Giai đoạn nghỉ ngơi: Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý
Trang 21quan sát được vào khoảng 10 - 11 giờ trưa Cơ quan sinh dục có biểu hiện: âm
hộ sung huyết, sung, mẩy đỏ, có dịch trong chảy ra, loãng và ít, sau dần
chuyển sang đặc dính Sau khi phát hiện động dục thì ta tiến hành cho phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo
Thời điểm phối giống thích hợp
Quá trình chăn nuôi lợn nái sinh sản, người chăn nuôi phải biết chính xác chu kỳ và các giai đoạn của quá trình động dục để chủ động điều chỉnh thời điểm phối giống, sinh đẻ của lợn nái cho thuận lợi nhất, đem lại hiệu quả kinh tế cao và hạn chế được rủi ro tới mức thấp nhất Đồng thời có thể cân bằng được chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc sao cho phù hợp nhất Có thể phối giống kịp thời, đúng thời điểm, vừa tăng số lượng lợn con/lứa vừa không bỏ
lỡ mất chu kì phối giống, tăng số lần phối/năm, nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái
Tinh trùng tồn tại trong tử cung 2 - 3 giờ, tinh trùng có thể sống trong
âm đạo từ 30 - 48 giờ Thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, do vậy phải tiến hành đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực
Chỉ nên phối giống cho nái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 tháng tuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 - 70 kg đối với lợn lai (nội x ngoại), 9 - 10 tháng tuổi nặng trên 80 - 90 kg đối với lợn
ngoại và lợn lai (ngoại x ngoại)
Đối với lợn nái ngoại, lợn nái lai thời điểm phối giống thích hợp nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ hoặc cho phối vào cuối ngày thứ ba
và sáng ngày thứ tư kể từ khi bắt đầu động dục
Đối với lợn nái nội nên phối giống vào cuối ngày thứ hai và sáng ngày thứ ba vì thời gian động dục ngắn hơn
Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, nếu thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho phối vào buổi chiều, nếu có biểu hiện chịu đực buổi chiều thì sáng hôm
Trang 22sau phối, thường cho phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực hay “chặn đầu khóa đuôi” của thời kỳ rụng trứng
Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái gồm các bước:
Bước 1: xác định thời điểm động dục, thời điểm chịu đực chính xác
(thường sau 24 - 29 giờ)
Bước 2: chuẩn bị dụng cụ như dẫn tinh quản, bình xịt nước muối sinh
lí, gel bôi trợn, bông thấm
Bước 3: chuẩn bị tinh dịch đảm bảo về thể tích (mỗi liều khoảng 80
-100ml), tỉ lệ tinh trùng tiến thẳng trong một liều tinh, tinh dịch đã được pha chế và kiểm tra hoạt lực
Bước 4: vệ sinh lợn nái, vệ sinh phía ngoài của bộ phận sinh dục,
mông, chân bằng nước sạch, sau đó rửa lại cơ quan sinh dục bên ngoài bằng nước muối sinh lý, lau khô bằng khăn sạch
Bước 5: tiến hành phối giống:
Kích thích lợn cái bằng cách cưỡi lên trên lưng lợn hoặc sử dụng đai đặt lên trên phần lưng hông của lợn trong khoảng 5 phút
Bôi trơn đầu mút của dẫn tinh quản bằng gel bôi trơn
Đưa ống dẫn tinh quản vào cơ quan sinh dục cái, xoay nhẹ theo chiều kim đồng hồ, khi kịch thì rút nhẹ ra khoảng 2cm, cắm liều tinh đã chuẩn bị vào đầu dẫn tinh quản, khi hết tinh thì rút liều tinh ra, lưu lại ống dẫn tinh quản trong đường sinh dục cái khoảng 5 phút
Rút nhẹ ống dẫn tinh quản theo chiều kim đồng hồ, vỗ mạnh vào lưng lợn một cách đột ngột để lợn đóng cổ tử cung lại
Bước 6: sau khi dẫn tinh xong thì vệ sinh dụng cụ sạch sẽ, số lần thụ
tinh trong một chu kì là 2 - 3 liều tinh, được ghi lại trên thẻ của từng nái Sau khi thụ tinh 21 - 25 ngày tiếp tục quan sát hiệu quả thụ thai, phát hiện kịp thời lợn nái động dục trở lại để tiến hành thụ tinh lại Kết quả thụ thai của thời kỳ động dục nào sẽ ghi vào kết quả thụ thai của thời kỳ đó
Trang 232.3 Chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý lợn nái trong giai đoạn mang thai
2.3.1 Công tác quản lý và chăm sóc lợn nái trong giai đoạn mang thai
Công tác quan trọng nhất trong chăm sóc, quản lý lợn nái mang thai đó
là phòng ngừa sảy thai, nghĩa là công tác bảo vệ bào thai để thai sinh trưởng, phát dục bình thường, tránh các tác động từ ngoại lực gây đẻ non, sảy thai, nhất là trong giai đoạn mang thai thứ II
Nguyên nhân sảy thai chủ yếu do nền chuồng hay sân chơi mấp mô, gồ ghề làm cho lợn trượt ngã, cửa ra vào nhỏ lợn phải chen lấn, xô đẩy nhau, đánh đập lợn, tắm nước lạnh đột ngột
Vận động
Trong điều kiện chăn nuôi có bãi chăn thả thì đối với lợn nái mang thai trong giai đoạn I cần chú ý cho vận động nhất là đối với lợn nái có thể trạng béo Đối với những cơ sở chăn nuôi có điều kiện tài chính khó khăn tiêu chuẩn và khẩu phần ăn cho lợn nái còn thấp nhưng cho chăn thả, vận động hợp lý kết hợp với thức ăn mà lợn kiếm được từ chăn thả thì lợn nái vẫn khỏe mạnh, thai sinh trưởng, phát dục tốt, lợn con có sức sống cao
Thời gian vận động trong khoảng 1 - 2 lần/ngày, mỗi lần 60 - 90 phút/lần Lợn nái mang thai kỳ II hạn chế cho vận động, lúc gần đẻ một tuần thì chỉ cho đi lại quanh sân
Chú ý: khi thời tiết xấu hay nơi chăn thả không bằng phẳng, có nhiều
rãnh thì không cho vận động Trước khi cho vận động thì cho uống đủ nước
để lợn nái không uống nước bẩn bên ngoài
Tắm lợn
Tắm cho lợn nái là rất cần thiết, vệ sinh sạch sẽ lông da của lợn, giúp tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, lợn nái cảm thấy thoải mái, kích thích thèm ăn, phòng các loại bệnh ngoài da Việc tắm chải cho lợn nái nên thực hiện đặc biệt là trong mùa hè, ngoài loại bỏ kí sinh trùng thì còn chống nóng cho lợn nái
Trang 24Chuồng trại
Chuồng trại khi xây dựng phải đảm bảo đúng quy định để nuôi lợn nái mang thai Có chế độ nuôi nhốt phù hợp theo từng giai đoạn, tại trại quy mô công nghiệp thì ngay từ khi nhập lợn hậu bị người ta đã tiến hành nhốt mỗi con một ô đề có thể dễ dàng chăm sóc, theo dõi trong từng giai đoạn mang thai của lợn, lợn nái sẽ được nuôi theo từng khu theo từng giai đoạn mang thai Chuồng nuôi phải luôn được vệ sinh sạch sẽ, nhiệt độ phù hợp theo từng mùa, khô ráo thoáng mát Trước khi lợn đẻ theo lịch dự kiến một 1 tuần thì cho lợn nái sang ô đẻ
Chuồng nuôi phải đảm bảo yên tĩnh, thoải mái cho lợn nái trong giai đoạn thai kỳ, tránh tạo ra những tiếng động mạnh, đột ngột, ảnh hưởng không tốt tới lợn nái
Mỗi nái mang thai đều được gắn thẻ mang mã số riêng từng con, thẻ ghi thông tin về ngày phối, ngày đẻ dự kiến, ngày đẻ thực tế, lứa đẻ, số con đẻ
ra, số con chết, số con hiện nuôi, số con cai sữa hay sự cố sảy ra như sảy thai, không đậu thai, chết thai để có biện pháp xử lý
2.3.2 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái
Đối với lợn nái hậu bị hay lợn nái vừa cai sữa, khẩu phần ăn phù hợp rất cần thiết Lợn hậu bị trước khi đến thời điểm phối cần có khối lượng cơ thể cân đối cùng với sức khỏe đảm bảo không mắc bệnh, quá gầy, ảnh hưởng đến thời gian động dục, khả năng đậu thai Lợn nái sau khi cai sữa xong thường giảm khối lượng cơ thể, có nhiều con sức khỏe giảm, gầy yếu, việc cung cấp khẩu phần ăn đầy đủ về dinh dưỡng là để bù đắp lại khối lượng cơ thể để chu kỳ động dục xuất hiện nhanh và tỷ lệ đậu thai cao Lợn đực có khẩu phần ăn vừa đủ để không quá béo, không quá gầy Việc nuôi dưỡng, cung cấp khẩu phần ăn phù hợp cho lợn đực là rất quan trọng, để đảm bảo chất lượng tinh trùng Lợn đực cũng có chế độ khai thác phù hợp, khai thác khi lợn đực không quá non, không quá già, khai thác không quá dày đặc khiến lợn đực quá sức Dưới đây là bảng thể hiện khẩu phần ăn dành cho lợn nái hậu bị, lợn nái sau cai sữa, lợn đực, lợn đực chờ khai thác tại trại
Trang 25Bảng 2.1 Khẩu phần ăn của lợn nái hậu bị, lợn nái cai sữa, lợn đực
khai thác, lợn đực chờ khai thác
Loại lợn Tiêu chuẩn khẩu phần ăn
(kg/con/ngày) Loại thức ăn
Nái hậu bị mang thai 1,8 - 2.2 1061
Lưu ý : Ngoài quy định tiêu chuẩn thì có thể điều chỉnh khối lượng và loại
cám tùy theo thể trạng lợn
(Nguồn: Phòng kỹ thuật trại)
Cần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn nái để đảm bảo nhu cầu cho sự phát triển của thai, nhu cầu duy trì cơ thể và tích lũy trong giai đoạn tiết sữa nuôi con sau này Đối với lợn nái hậu bị, mang thai lần đầu thì lượng dinh dưỡng cần cao hơn để lợn nái hậu bị tiếp tục phát triển hoàn thiện
Trong giai đoạn chửa kỳ I khẩu phần ăn của lợn phải có tỷ lệ protein là
13 - 14%, năng lượng trao đổi từ 2800 - 2900 Kcal Nhưng ở giai đoạn II tỷ lệ protein trong khẩu phần ăn phải cao hơn từ 15 - 20% Ở giai đoạn I bào thai chưa phát triển mạnh, dinh dưỡng chủ yếu dành cho lợn nái để duy trì cơ thể, một phần nhỏ là để nuôi bào thai Giai đoạn II tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, cần dinh dưỡng nhiều cho bào thai để lợn con khi sinh ra đạt yêu cầu về khối lượng theo từng giống
Khi xác định được lượng thức ăn cho ăn trong một ngày cần phải chú ý đến thể trạng của lợn nái, sức khỏe, giống và khối lượng của lợn nái, giai đoạn thai kỳ của lợn nái mang thai, loại thức ăn, chất lượng, phẩm chất của thức ăn, nhiệt độ chuồng nuôi Ví dụ như lợn nái mang thai kì II cho ăn với
Trang 26hơn Mùa đông thì cho ăn với khẩu phần ăn tăng lên khoảng 0,3 - 0,5kg/nái, nhiệt độ chuồng phù hợp là nằm trong khoảng từ 25 - 30°C
Đối với lợn nái mang thai lần đầu thì dinh dưỡng có thể tăng lên 10 - 15% vì ngoài dinh dưỡng nuôi bào thai thì lợn cần dinh dưỡng để phát triển
cơ thể Đối với lợn nái tách con thì cần phải cho ăn tăng lên để rụng nhiều trứng, tăng số con đẻ ra cho lứa sau Việc tăng giảm khẩu phần ăn còn tùy thuộc vào lợn nái béo hay gầy Tại trại, khẩu phần ăn của lợn nái theo từng
giai đoạn mang thai từng loại thức ăn và theo thể trạng của từng con lợn
Trong chăn nuôi công nghiệp người ta sử dụng thức ăn tinh, mùi thơm ngon, không bị ôi thịu, ẩm mốc, hàm lượng dinh dưỡng phù hợp với lợn nái trong từng giai đoạn mang thai
Gần đến ngày đẻ cần giảm lượng thức ăn xuống nhưng vẫn đảm bảo dinh dưỡng bằng cách sử dụng thức ăn giàu dinh dưỡng Không được cho lợn nái ăn thức ăn ôi thiu, nấm mốc, thức ăn có độc gây sảy thai, đẻ non Không cho ăn quá nhiều với lợn sau phối 35 ngày
Bảng 2.2 Bảng khối lượng thức ăn chuồng sinh sản
Trước/sau
ngày đẻ
Đối với nái dạ Đối với nái hậu bị Chế độ ăn (kg/con/ngày) Chế độ ăn (kg/con/ngày) Sáng Chiều Tổng Sáng Chiều Tổng
Trang 27Ảnh hưởng của khẩu phần ăn không phù hợp đối với lợn nái mang thai: Cho lợn nái ăn quá nhiều:
Xét về mặt kinh tế: Khẩu phần ăn phù hợp không bị lãng phí dư thừa thức ăn giúp người chăn nuôi tiết kiệm tiển bạc, nâng cao lợi nhuận trong chăn nuôi
Về mặt kỹ thuật: lợn nái không bị thừa nhu cầu của giai đoạn chửa Nếu cho ăn quá nhiều thì lợn nái sẽ quá béo, tỷ lệ chết phôi cao, đặc biệt là giai đoạn sau 35 ngày Lợn nái quá béo làm cho chân yếu, đứng dậy đi lại khó khăn, dễ đè con trong giai đoạn nuôi con, tiết sữa kém do mỡ chèn ép lên tuyến sữa, làm cho nái khó đẻ, kéo dài thời gian đẻ
Cho lợn nái ăn quá ít:
Không đủ dinh dưỡng dự trữ cho kỳ tiết sữa, sản lượng sữa thấp, nuôi con kém, lợn con còi cọc, dễ mắc bệnh, tỷ lệ lợn con sống thấp
Lợn nái trong quá trình mang thai cần nhiều dinh dưỡng để nuôi thai, nếu như khẩu phần ăn quá ít lợn nái sẽ bị gầy, thiếu dinh dưỡng để nuôi cơ thể và nuôi thai Sức đề kháng với bệnh yếu, sức rặn khi đẻ yếu
Thời gian động dục sau khi tách con kéo dài, tỷ lệ số lứa trên năm thấp, hao mòn lợn nái, tốn nhiều thức ăn, giảm thời gian khai thác
2.4 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái mang thai
2.4.1 Sảy thai
Sảy thai là các trường hợp thai bị đẩy ra ngoài trước ngày đẻ dự kiến Sảy thai do sức sống của thai yếu, bộ phận sinh dục hoặc cơ thể của con mẹ bị bệnh Có biểu hiện đẻ dù chưa tới ngày đẻ dự kiến, con sơ sinh khi đẻ ra thường bị chết, con ít, con sinh non có sức sống rất yếu
Sảy thai có thể do các nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân truyền nhiễm:
Lợn mẹ mắc các bệnh truyền nhiễm như Brucellosis, bệnh xoắn khuẩn, bệnh do Parvovirus… Chuồng trại chật hẹp, thời tiết nắng nóng làm khả năng
sảy thai tăng cao hơn