TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN ĐỨC THÀNH Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI LIÊN KẾT CỦA CÔNG TY CP DƯỢC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN ĐỨC THÀNH
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI LIÊN KẾT CỦA CÔNG TY CP DƯỢC PHẨM THÁI VIỆT PHARMA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2021
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN ĐỨC THÀNH
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI LIÊN KẾT CỦA CÔNG TY CP DƯỢC PHẨM THÁI VIỆT PHARMA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2016 - 2021 Giảng viên hướng dẫn: TS Bùi Ngọc Sơn
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp Để hoàn thành được bản khoá luận này, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn,
sự giúp đỡ của Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Khoa Chăn nuôi Thú y, và trang trại liên kết của Công ty Cổ phần Dược phẩm Thái Việt Pharma Em cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình Để đáp lại tình cảm đó, qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn
tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Bùi Ngọc Sơn đã trực tiếp hướng dẫn
em thực hiện thành công khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân tại trang trại liên kết của Công ty Cổ phần Dược phẩm Thái Việt Pharma đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 03 năm 2021
Sinh viên
Nguyễn Đức Thành
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trang trại 18
Bảng 2.2 Lịch sát trùng áp dụng tại trang trại 20
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại năm 2019 và năm 2020 37
Bảng 4.2 Kết quả áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn 38
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện thao tác kỹ thuật trên đàn lợn con 40
Bảng 4.4 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng 41
Bảng 4.5 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại 42
Bảng 4.6 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai tại trang trại 43
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản 45
Bảng 4.8 Kết quả điều trị, chăm sóc cho lợn con theo mẹ 46
Trang 5Pavo: Vắc xin chống khô thai PRRS (1): Tiêm nhắc lại vắc xin tai xanh Pavo (1): Tiêm nhắc lại vắc xin chống khô thai SVF1: Tiêm vắc xin dịch tả lợn con
Myco: Tiêm vắc xin phòng viêm phổi Circo: Tiêm vắc xin phòng virus Circo
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 4
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của cơ sở nơi thực tập 4
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của trại lợn 5
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn của cơ sở thực tập 8
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 9
2.2.1 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản 9
2.2.2 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ 18
2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 27
2.2.4 Quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 18
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 34
3.1 Đối tượng nghiên cứu 34
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 34
3.3 Nội dung tiến hành 34
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tiến hành 34
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 34
Trang 73.4.2 Phương pháp theo dõi và tiến hành 35
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 35
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi của trại 37
4.2 Kết quả áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái sinh sản tại trại 38
4.2.1 Kết quả áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nuôi tại trại 38
4.2.2 Kết quả thực hiện một số thao tác kỹ thuật trên đàn lợn con tại trại 39
4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trại 40
4.3.1 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng 40
4.3.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin 41
4.4 Kết quả thực hiện điều trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại 44
4.4.1 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản 44
4.4.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ 45
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ
Trang 8ổn định, nguy cơ dịch bệnh cao, tuy nhiên cũng cho thấy không ít cơ hội
Chăn nuôi lợn không chỉ là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho tiêu dùng trong nước, mà sản phẩm thịt lợn còn là nguồn thực phẩm xuất khẩu có giá trị Nhờ đặc tính sinh sản nhiều nên mỗi lứa và nhiều lứa trong một năm, nên hiện nay chăn nuôi lợn nái sinh sản để xuất khẩu lợn sữa đang là mặt hàng xuất khẩu có giá trị được thị trường các nước trong khu vực ưa chuộng Đối với nhiều vùng nông thôn, và nhất là trong xu thế phát triển nền nông nghiệp hữu cơ sinh thái, chăn nuôi lợn còn góp phần tạo ra nguồn phân bón hữu cơ quan trọng cho phát triển ngành trồng trọt, góp phần cải tạo đất, cải tạo môi trường sinh sống của các vi sinh vật đất Với ý nghĩa kinh tế trên, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đã sớm phát triển ở khắp mọi vùng nông thôn với phương thức chăn nuôi gia đình là chủ yếu Những năm trước đây, khi chăn nuôi lợn còn mang tính chất tận dụng các phế phụ phẩm của ngành trồng trọt, tận dụng các phụ phẩm trong sinh hoạt của các gia đình, nguồn cung thức
ăn chăn nuôi chưa ổn định và chưa độc lập thì giống lợn nuôi chủ yếu là lợn nội dễ thích nghi với điều kiện nước ta , không đòi hỏi đầu tư nhiều Khi chăn nuôi lợn chuyển sang phương thức chăn nuôi tập trung và chăn nuôi theo phương thức quy mô đầu tư lớn để đẩy nhanh hiệu quả chăn nuôi thì giống lợn nội được thay dần bằng các giống lợn lai kinh tế, lai ngoại với đặc tính sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn cao, chất lượng thức ăn phải ổn định và sử
Trang 9dụng thức ăn tổng hợp chế biến sẵn Sự hiệu quả trong chăn nuôi lợn mang lại lợi ích kinh tế lớn nhất đó chính là mô hình chăn nuôi công nghiệp ở các trang trại, xí nghiệp Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn, việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội để người dân làm giàu
Để có được kết quả trên ngoài việc tăng nhanh số đầu lợn, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đã và đang từng bước đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, từ khâu nâng cao chất lượng con giống, nâng cao chất lượng thức ăn đến việc hoàn thiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng Tuy vậy bên cạnh những tiến bộ đạt được, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề dịch bệnh hiện nay Hiểu biết từ tình hình thực tế trên, để hạn chế mức thấp nhất tỷ lệ lợn hao hụt vì nhiễm bệnh và tăng hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở thực
tập, tôi thực hiện đề tài: "Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và
phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trang trại liên kết của Công ty
Cổ phần Dược phẩm Thái Việt Pharma"
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Biết được quy trình chăm sóc đàn lợn nái sinh sản tại công ty
- Hiểu biết các bệnh hay xảy ra đối với đàn lợn nái tại công ty
- Đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại công ty
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại công ty
- Gắn chặt học lý thuyết với thực hành tại cơ sở chăn nuôi
Trang 10- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn tại công ty đạt hiệu quả cao
- Xác định được tình hình mắc bệnh, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn tại công ty
- Chăm chỉ, chịu khó, ham học hỏi, hoàn thành tốt công việc học tập nghiên cứu tại trang trại
- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ
- Đánh giá được tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
- Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của cơ sở nơi thực tập
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trang trại liên kết của cty cổ phần dược phẩm Thái Việt Pharma có vị trí tại xóm 5, xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Quân Chu là xã cực nam của huyện Đại Từ, có vị trí địa lý:
- Phía đông giáp thị xã Phổ Yên và thị trấn Quân Chu
- Phía tây và phía nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc
- Phía bắc giáp xã Cát Nê
2.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai
Chủ yếu là đất đồi núi và sông suối Trên địa bàn, đất được hình thành bởi 4 nhóm đất chính là: Đất xám mùn trên núi, đất Feralit phát triển trên đá biến chất, đất Feralit phát triển trên phù sa cổ, đất phù sa Gley phát triển trên phù sa cổ
2.1.1.3 Điều kiện khí hậu và thời tiết
Nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩmVùng lạnh nhiều
Nhiệt độ trung bình là khoảng 25°C Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8
và thấp nhất vào tháng 1 Nhìn chung khí hậu thuận lợi cho phát triển chăn nuôi lợn cũng như các ngành nông lâm nghiệp khác
2.1.1.4 Điều kiện giao thông
Điều kiện giao thông khá thuận lợi
Tuyến tỉnh lộ 261 kết nối thị xã Phổ Yên và huyện Đại Từ chạy qua địa bàn xã
Trang 122.1.2 Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của trại lợn
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của trại lợn
Trang trại liên kết của cty cổ phần dược phẩm Thái Việt Pharma có
ông Nguyễn Văn Cường là trưởng trại chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt
động trong khu vực chăn nuôi của trang trại
Cơ cấu tổ chức: gồm 3 bộ phận
+ Bộ phận quản lý: 01 trưởng trại và là người quản lý trại
+ Bộ phận cán bộ kỹ thuật, tài chính: gồm 01 kế toán, 01 kỹ thuật cơ khí và 05 kỹ thuật trại
+ Bộ phận nhân viên: 12 công nhân, 02 sinh viên thực tập
+ Bộ phận an ninh: 4 nhân viên bảo vệ trực 24/24
2.1.2.2 Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại liên kết của Công ty Cổ phần Dược phẩm Thái Việt Pharma có vị trí tại xóm 5, xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đường giao thông đã được nâng cấp bê tông hóa, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển hàng hóa Trại lợn cách xa khu dân cư khoảng hơn 3 km Trại có diện tích đất rộng 6 ha bao gồm :
- Đất trồng cây ăn quả: 2,5 ha
- Đất xây dựng hệ thống xử lí nước thải: 0,5 ha
- Đất xây dựng khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại: 1 ha
- Đất xây dựng khu chăn nuôi: 2 ha
Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào Quy mô chuồng trại được bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 lợn nái cơ bản bao gồm: 3 chuồng đẻ (chuồng có 120 ô),
2 chuồng nái chửa (chuồng có 600 ô), 2 chuồng cách li nhập hậu bị và một số
Trang 13công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: nhà kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng tinh, kho chứa thuốc, kho chứa vật liệu, cơ khí
Quy mô trang trại được chia làm 5 khu chính: khu cách li công nhân viên ra vào trại, khu nhà ăn ở cho công nhân, khu nhà để cám và kho thuốc, khu để dụng cụ chăn nuôi, khu chăn nuôi còn lại là vườn bao quanh trại
Trang trại có quy mô đàn là 1200 lợn nái, 15 lợn đực khai thác và 50 lợn hậu bị để thay thế đàn, được chia ra thành các khu khác nhau cho mỗi loại lợn khác nhau, trang trại được xây dựng với 3 khu chuồng tách biệt nhau Khu chuồng nái mang thai là nơi chăm sóc nuôi dưỡng những lợn nái đang mang thai và nái chờ phối giống Chuồng sinh sản là nơi chứa lợn sắp đẻ từ chuồng lợn bầu sang, thường sẽ chuyển trước khoảng 4 - 7 ngày để lợn nái thực hiện quá trình sinh sản của chúng Còn lại là khu chuồng chứa lợn hậu bị mới nhập
về đang trong thời gian cách li và lợn nái loại thải
Khu chuồng bầu gồm 2 chuồng nuôi và là chuồng có diện tích lớn nhất, theo cách sắp xếp của trưởng kỹ thuật những lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau được đưa vào những dãy khác nhau Lợn nái cai sữa được đưa về nơi chờ phối trong chuồng lợn bầu nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra
và lên giống Một góc chuồng bầu là khu kiểm tra lợn động dục, khu phối, cạnh chuồng bầu là khu chuồng lợn đực cùng khu lấy tinh, ở đầu khu lấy tinh
có phòng nhỏ để kiểm tra, đóng gói cũng như bảo quản tinh được gọi là phòng tinh Phòng tinh gồm các trang thiết bị khá đầy đủ như: kính hiển vi, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp dụng cụ, máy ép túi tinh,…
Các khu chuồng được xây dựng đạt tiêu chuẩn của một chuồng kín, trong đó kết cấu tất cả sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng nhằm thuận lợi cho công việc vệ sinh, khử trùng Đầu chuồng bầu được trang bị hệ thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt thông gió với 8 quạt hoạt động nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng Bên trong chuồng còn được trang bị đầy đủ hệ thống vòi nước tự động, máng ăn cho
Trang 14từng ô lợn nái nhằm đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất
Chuồng sinh sản gồm có 3 chuồng riêng biệt được xây dựng tương tự như chuồng bầu, ở phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió, mỗi chuồng có 2 dãy và có 2 công nhân phụ trách Trong chuồng sinh sản, sàn chuồng lợn mẹ được làm bằng tấm bê tông còn sàn chuồng dành cho lợn con làm bằng tấm nhựa cứng ở đầu mỗi ô chuồng đẻ đều có vòi nước tự động dành cho lợn mẹ và lợn con Phần chuồng cho lợn con ở hai bên lợn mẹ khá rộng rãi, một góc để lồng úm, lồng úm được làm bằng khung sắt dễ dàng tháo lắp để vệ sinh sát trùng mỗi khi úm xong Trên lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm, trong mỗi ô chuồng có một máng ăn nhỏ cho lợn con tập ăn Mỗi lần xuất lợn con và di chuyển lợn mẹ về chuồng bầu thì khu vực chuồng sinh sản được cọ rửa sạch, phun nước vôi và sát trùng kỹ sau đó để trống chuồng khoảng 5 - 7 ngày trước khi đuổi lợn bầu sắp đẻ lên
Khu chuồng cách ly là nơi nuôi lợn hậu bị mới được chuyển từ ngoài vào để thay thế đàn và lợn nái loại thải Chuồng có vị trí nằm gần cổng và nằm cách xa các khu khác nhằm bảo đảm an toàn dịch tễ, xử lí cách li khi nhập lợn mới Kết cấu bên trong Khu chuồng cách ly là các ô nuôi lợn tập trung gồm 4 ô lớn được trang bị đầy đủ với hệ thống nước uống và máng ăn
tự động bên trong các ô, bên trên đầu chuồng là hệ thống giàn mát và cuối chuồng có 5 quạt thông gió nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi
Hệ thống bơm nước ở mỗi chuồng đều được lắp đặt để tắm và vệ sinh chuồng trại cho lợn hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân
và nước thải
Ngoài ra, trang trại còn có kho chứa một số trang thiết bị cũng như vật
tư trong chăn nuôi như: kho thuốc có tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho toàn trang trại, kho cám có thể chứa được 100
Trang 15tấn cám các loại phục vụ trong khoảng 7 ngày, có các xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, xe chở phân, máy nén áp lực phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi
Nguồn nước trang trại sử dụng cho lợn ở các khu chuồng được lọc qua
bể lọc và dẫn trực tiếp đến từng ô chuồng bằng đường ống cuối cùng đến vòi uống tự động, trước khi nước đến các khu chuồng sẽ được xử lý qua chất khử
cloramin B Tại đây hàng ngày sử dụng một khối lượng nước rất lớn để phục
vụ chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại, đặc biệt về mùa thời tiết nóng cần một lượng nước rất lớn cho lợn uống và vận hành hoạt động của giàn mát Nước dùng cho chăn nuôi được bơm từ giếng khoan qua hệ thống bể lọc, đưa lên các bồn chứa nước đặt ở độ cao 3m, áp lực đủ mạnh để tới được từng ô chuồng cho lợn sử dụng Bên cạnh đó, hệ thống bạt che, giàn mát, quạt thông gió được trang bị rất đầy đủ Nguồn nước thải được thải vào hầm biogas ở phía cuối trang trại, phân trong các khu chuồng sẽ được công nhân hót vào cuối mỗi buổi sáng và chiều trong ngày đóng vào bao đổ ra khu nhà chứa phân còn một phần nhỏ để vun trồng vào các gốc cây trong trang trại Tất cả mọi người trước khi vào mỗi chuồng đều nhúng ủng, giày dép qua có một chậu nước sát trùng để đảm bảo an toàn dịch bệnh
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn của cơ sở thực tập
- Thuận lợi
Là trang trại của công ty TNHH thực phẩm CJ Vina, được cung cấp đầy đủ các trang thiết bị, vật tư con giống có chất lượng tốt, thức ăn đầy đủ dinh dưỡng, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại
Được sự quan tâm của Uỷ ban nhân dân xã Quân Chu đã tạo điều kiện cho sự phát triển của cơ sở
Trang trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông
Trang 16Trưởng trại là người gần gũi, có hiểu biết về các vấn đề của xã hội nên nhận được sự tôn trọng và yêu mến của tất cả mọi người, giúp trang trại đoàn kết hoàn thành mục tiêu qua các năm
Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản
2.2.1.1 Bệnh viêm đường sinh dục
Qua thực tiễn chăn nuôi, chúng ta thấy lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao khiến cho bộ phận sinh dục hoạt động nhiều tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém lam cho bệnh dễ xảy ra
Bệnh viêm đường sinh dục thường xuất hiện trên nái sau khi sinh từ 2 -
3 ngày Trong khi thực hiện quá trình sinh sản, dịch và các chất trong tử cung chảy ra, cổ tử cung mở, niêm mạc tử cung sây sát, khi vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung, theo nghiên cứu của Đặng Thanh Tùng, (1999) [27]
a Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân, có thể do cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái
Trang 17già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối giữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phước (1982) [20] khi lợn nái sinh
ra đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung
mở chất tiết chảy ra tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn
Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung
Theo Đặng Thanh Tùng (1999) [27] mầm bệnh có mặt trong một tuyến qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính là sự kém nhu động của ruột nhất là táo bón Vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phước (1982) [20] tỷ lệ các loại
vi khuẩn gây viêm đường sinh dục ở lợn như sau: E coli chiếm 27%; Proteus
valgaris chiếm 16%; Klebsielle chiếm 10,2%; Steptococcus chiếm 34,5%; Staphylococcus chiếm 11,2%; Còn lại các loài vi khuẩn khác chiếm 2 - 7%
Dựa theo các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học như Bilken (1996) [2] và Nguyễn Như Pho (2002) [16] cho chúng ta biết: Viêm đường
sinh dục ở lợn thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E coli dung huyết, Staphylococcus spp và Staphylococcus aureus Đó cũng là nguyên
nhân chính gây bệnh viêm đường sinh dục ở lợn nái sinh sản
Trong quá trình mang thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein nhưng lại ít vận động cơ thể nên thể trạng béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng khiến cho lợn nái ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm
Trong quá trình thụ tinh, do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sây sát
sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn
Trang 18Lợn đực bị viêm đường sinh dục và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái
Bệnh còn xảy ra trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi thất thường, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài
b Triệu chứng
Triệu chứng viêm đường sinh dục thể hiện qua 3 thể viêm:
Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có màu trắng hoặc xám
và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp giảm nhẹ
Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có màu hồng hoặc nâu đỏ
và có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp đường sinh dục yếu ớt Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [15] viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử
Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có màu nâu gỉ sắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm theo triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp đường sinh dục mất hẳn
c Hậu quả
Thực tế cho thấy trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, bệnh viêm đường sinh dục khá phổ biến, bệnh gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái, khả năng sinh trưởng, phát dục của lợn con Lợn nái bị viêm tử cung dễ dẫn đến loại thải
Theo nghiên cứu của Lê văn Năm (1997) [14], bệnh chủ yếu gây tổn thương cơ quan sinh dục Quá trình viêm tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiclysin (độc tố tiêu diệt vi trùng) Hoặc niêm mạc tử cung bị tổn thương
Trang 19sẽ cản trở sự di chuyển của tinh trùng Nếu có thụ thai được cũng dễ bị chết con, khi bệnh nặng dẫn đến sẩy thai, tiêu thai, vô sinh
Viêm xảy ra trong thời gian mang thai do biến đổi trong cấu trúc niêm mạc như: Teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ thai Qua vị trí tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc
tố do chúng tiết ra làm bào thai phát triển không bình thường Nếu không phát hiện và điều trị triệt để sẽ làm tổn thất kinh tế cho người chăn nuôi
2.2.1.2 Bệnh viêm vú
a Nguyên nhân
Nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú là các loại vi khuẩn gây bệnh như: trực khuẩn đường ruột, liên cầu khuẩn dung huyết và các loại trực khuẩn gây thối khác Chúng xâm nhập vào tuyến vú qua vết thương, vết sây sát trên bầu vú hoặc qua lỗ núm vú
Theo kết quả nghiên cứu của Muirhead and Alexander (2010) [40] nguyên nhân gây viêm một hay nhiều vú ở lợn do nhiều loại vi khuẩn hoặc có thể do kế phát từ các bệnh khác, bệnh xảy ra lác đác ở từng cá thể hoặc cả đàn Bệnh thường xuất hiện tập trung từ khi lợn đẻ đến 12 giờ sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào một hay nhiều bầu vú thông qua núm vú do trầy xước (do răng của lợn con hay nền chuồng cứng) Nhóm vi khuẩn gây viêm vú
gồm: Coliform, Klebsiella, Staphylococcus, Streptococcus, Miscellaneous Trong đó vi khuẩn Staphylococcus và Streptococcus chỉ gây viêm từng tuyến
vú, Klebsiella spp gây viêm vú cấp tính và nhóm vi khuẩn E coli với nhiều
type khác nhau đã được phân lập ở hầu hết các trường hợp viêm vú, độc tố
của E coli sinh ra là nguyên nhân gây viêm vú, mất sữa
Theo White (2013) [42] nguyên nhân chủ yếu gây viêm vú cấp tính do
các loại vi khuẩn: E coli, Klebsiella, đôi khi Pseudomonas nhiễm qua núm vú
từ phân và nền chuồng Vì vậy, việc vệ sinh chuồng trại và núm vú đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh
Trang 20Theo nghiên cứu của Phạm Tiến Dân (1998) [5] xác định vi khuẩn gây
viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm: E coli chiếm 18,2%; Staphylococcus chiếm19%; Streptococcus chiếm 27,18%; Klebsiella chiếm 14,7%
Theo Christensen và nhóm nghiên cứu cùng ông (2007) [29] khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn
chính gây viêm vú là Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes
Theo kết quả nghiên cứu Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [15] cho rằng vi khuẩn gây bệnh viêm vú thường là liên cầu trùng
chiếm 86%; tụ cầu trùng chiếm 5,4%; trực trùng sinh mủ chiếm 2,7%; E coli
chiếm 1,2%; và các loại vi khuẩn khác chiếm 3,7% Loại gây bệnh phổ biến
nhất là liên cầu trùng Agalactiac
Do kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau khi đẻ, viêm bàng quang, viêm thận Khi lợn nái bị bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú, cư trú tại đây và gây bệnh
Lợn nái tốt sữa, lợn con bú sữa không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa, lợn con bú làm sây sát bầu vú hoặc lợn con
bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều, bầu vú căng dễ dẫn đến viêm vú theo nghiên cứu của Trương Lăng (2000) [9]
Do quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ vệ sinh sát trùng chưa tốt Sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú Thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh, ẩm ướt kéo dài, nhiệt
độ thay đổi đột ngột dẫn tới viêm vú
b Triệu chứng
Viêm vú chia thành các thể như sau:
- Viêm vú thể thanh dịch: Tuyến vú bị xung huyết, dịch viêm tiết ra nhiều Nước viêm thải ra thấm vào các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và mạch lâm ba bị trở ngại Lá vú sưng to, có khi cả bầu vú sưng
Trang 21Lúc đầu sữa biến đổi không rõ về sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm, sờ tay vào con vật cảm giác đau
- Viêm vú thể cata: Trong nang sữa chứa rất nhiều dịch rỉ viêm, tế bào biểu bì phình to ra, bị thoái hóa và bong ra Cơ thể bình thường không có triệu chứng toàn thân, lúc đầu sữa loãng, có nhiều gạch vón, lượng sữa giảm, vắt sữa có những cục nhỏ màu xanh hay vàng nhạt, sờ bầu vú thấy nóng
- Viêm vú thể Fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng Fibrinogen
và tế bào chết Fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết
ra sẽ biến thành Fibrin Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa Fibrin và cục Casein bị đóng vón Nhiệt độ cơ thể 40 - 41oC, vú viêm cứng, sưng to, sờ thấy đau
- Viêm vú thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, bạch cầu, mủ và tế bào hoại tử Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ Sờ con vật thấy đau, vắt sữa thấy loãng, sữa đóng vón, có mủ, máu Con vật có triệu chứng toàn thân: Sốt cao, kém ăn, hô hấp và tuần hoàn tăng
- Viêm vú thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp xe
to hay nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong Sau đó bọc mủ phát triển to nổi rõ ở dưới da Vật ngừng tiết ra sữa và trong sữa vắt ra thấy có xuất hiện
mủ và máu, casein
- Theo White (2013) [42] biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm như: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có
mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC Tùy số lượng vú bị viêm
mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa
bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy
Trang 22c Hậu quả
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể lợn mẹ, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con theo mẹ, thậm chí nếu lợn mẹ bị mất sữa hoàn toàn do viêm vú thì đàn con có thể bị chết cả đàn do không có sữa để bú
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Vũ và cs (1999) [28] bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân chính, trực tiếp gây ra sự giảm
và mất sữa ở lợn nái nuôi con
Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Bình (2000) [3] cho biết: Mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm, cơ thể thường sốt cao liên tục từ 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm, ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng hồi phục chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc Sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái sẽ bị chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo bầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa sau
Nếu phát hiện và điều trị kịp thời sẽ giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
2.2.1.3 Hiện tượng đẻ khó
Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó không những gây bệnh cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh,
Trang 23thậm chí cả mẹ lẫn con có thể chết Do đó đẻ khó gây thiệt về kinh tế cho ngành chăn nuôi
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phục (2005) [17] thông thường thai chết lưu ở các trại chăn nuôi nái sinh sản chiếm khoảng 4 - 10% tổng số lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa, trong đó khoảng 70% các trường hợp được coi là thai chết lưu đã từng sống sót khi mới sinh
a Nguyên nhân
- Đẻ khó nguyên nhân do thể trạng lợn mẹ:
Quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ bị suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn của lợn yếu, thậm chí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài
Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Các nghiên cứu cho thấy độ dày mỡ lưng ở vị trí P2 ở heo nái tốt, diễn biến ở các lứa đẻ tăng dần đến giai đoạn đậu thai, giai đoạn đẻ, thì giảm dần xuống đến cai sữa, sau đó lại tăng dần ở lứa tiếp theo đến giai đoạn đẻ Sự mập ốm của lợn nái phụ thuộc vào điểm P2 Lợn nái tốt có P2 từ 19 - 22 mm nếu lợn nái lớn hơn 23 mm là lợn mập gây ra đẻ khó do mỡ bao quanh buồng trứng và tử cung làm khả năng co thắt tử cung và cơ bụng yếu, theo Nguyễn Văn Thanh, (2002) [21]
Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có những chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn
Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ độ giãn
nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra được Khi quá trình rặn
đẻ kéo dài, sức co bóp lớn ép lợn con làn lợn con bị chết
Trang 24Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép
tử cung làm tử cung bị xoắn hay vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây khó đẻ
Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái: kích tố nhau thai Relaxin lúc
đẻ tiết ra ít nên không làm mất lớp canxi ở khớp bán động háng, không giãn dây chằng xương chậu (không sụt mông) hoặc Prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp tử cung nên không tống thai ra ngoài được
- Đẻ khó do nguyên nhân bào thai:
Chiều, hướng, tư thế thai lúc đẻ không bình thường
Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ
Thai bị dị hình hay quái thai
Hiện tượng đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4 Những nguyên nhân và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bào thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế của thai không bình thường khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra ngoài được
b Triệu chứng
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [23] cho biết: lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi khó chịu, nước ối tiết nhiều và có lẫn máu (màu hồng nhạt) Có trường hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo Khi thò tay vào thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng do đẻ ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to
c Hậu quả
- Tử cung co bóp mạnh mà thai không ra, thai bị chèn dẫn đến lợn con
bị chết
- Nếu mổ để lấy bào thai ra ngoài lợn mẹ hay bị chết
- Gây ra hiện tượng sót con, sót nhau dẫn đến viêm đường sinh dục
Trang 25- Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây sây sát niêm mạc
tử cung hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một
số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sẩy thai truyền nhiễm khi niêm mạc có những vết sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ dẫn đến sẩy thai, tiêu thai, đẻ non thậm trí là vô sinh
2.2.2 Quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
Việc sử dụng vắc xin để phòng bệnh được thực hiện nghiêm túc theo đúng lịch tiêm vắc xin của công ty Nhờ đó mà khả năng miễn dịch của lợn được tăng lên, tỷ lệ số nái mắc các bệnh về sinh sản giảm, số con sinh ra nhiều, lợn con đẻ ra khỏe mạnh ít bị bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế Dưới đây là lịch phòng bệnh bằng vắc xin áp dụng tại trang trại:
Bảng 2.1 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trang trại
Loại
Phương pháp
ang Sau khi nhập về 21 - 28 ngày
Sau khi nhập về 35 - 42 ngày
sau khi tiêm vắc xin PRRS
Trang 26Tiêm
Công tác vệ sinh phòng bệnh giữ vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi
Vệ sinh hướng đến nhiều yếu tố: vệ sinh môi trường xung quanh, vệ sinh nguồn nước, vệ sinh chuồng trại…
Trong thời gian thực tập tại trang trại chúng em đã tuân thủ thực hiện nghiêm quy trình vệ sinh trong chăn nuôi Hàng ngày, chúng em được phân công thực hiện thu gom phân thải, rửa chuồng, quét lối đi lại giữa các dãy chuồng Định kỳ tiến hành phun thuốc sát trùng, quét vôi, phun thuốc diệt muỗi, quét mạng nhện trong chuồng và rắc vôi bột ở cửa ra vào chuồng Sử dụng các dụng cụ bảo hộ như khẩu trang, gang tay để bảo vệ đường hô hấp, hạn chế tổn thương da cho người thực hiện
Việc vệ sinh, phun sát trùng được thực hiện vào cuối buổi sáng hoặc cuối buổi chiều thường xuyên theo lịch vệ sinh chuồng trại Khi lượng người
ra vào trại để thực hiện các công việc tăng lên hoặc khu vực chăn nuôi lân cận
có dịch bệnh thì việc phun sát trùng sẽ được tăng cường Lịch sát trùng tại trại được trình bày ở bảng dưới đây:
Trang 27Bảng 2.2 Lịch sát trùng áp dụng tại trang trại
Thứ
Trong chuồng
Ngoài chuồng
Ngoài khu vực chăn nuôi
Tên sát trùng phun
Tỷ lệ Chuồng
nái chửa
Chuồng
đẻ
Chuồng cách ly
Không phun
Không phun
Không phun
IODINE
MEBI-1/3000/1cc/3 /lít nước
phun
Phun vào 2h chiều
Không phun
Không phun
Không phun
IODINE
MEBI-1/3000/1cc/3 /lít nước
chiều
Phun vào 2h chiều
Không phun
Không phun
Không phun
MEBI- IODINE
1/3000/1cc/3 /lít nước
phun
Phun vào 2h chiều
Không phun
Phun vào 5h chiều
Phun vào 5h chiều
IODINE
MEBI-1/3000/1cc/3 /lít nước
chiều
Phun vào 2h chiều
Không phun
Không phun
Không phun
IODINE
MEBI-1/3000/1cc/3 /lít nước
phun
Phun vào 2h chiều
Không phun
Không phun
Không phun
MEBI-IODINE
1/3000/1cc/3 /lít nước
chiều
Phun vào 2h chiều
Không phun
Phun vào 5h chiều
Phun vào 5h chiều
MEBI-IODINE
1/3000/1cc/3 /lít nước
2.2.2.1 Quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản
a Giai đoạn lợn nái mang thai
- Nuôi dưỡng lợn nái mang thai
+ Lợn mang thai từ tuần 1 - 8 tuần, ăn 2,5 đến 3 kg thức ăn/1 ngày phụ thuộc vào thể trạng của nái (phụ thuộc vào lợn nái cai sữa về bên chuồng sinh sản có những con ăn đến 3,5 kg/ngày), cho ăn nhiều để bù lại năng lượng trong thời gian nuôi con bên chuồng đẻ
+ Lợn mang thai từ 8 - 10 tuần, ăn bình quân 2,0 - 2,2 kg thức ăn/ngày (giảm cám để tránh lợn mẹ béo quá và giai đoạn này lợn con không phát triển nhiều)
+ Lợn mang thai từ 10 - 12 tuần, ăn bình quân 2,5 - 3 kg thức ăn/1 ngày
Trang 28+ Lợn mang thai từ 12 - 14 tuần, cho ăn 3,5 - 4 kg thức ăn/ngày (đồng thời cho ăn cám lợn đẻ vào tuần thứ 12), lợn mẹ cần nhiều năng lượng trong giai đoạn cuối, đổi thức ăn là để lợn mẹ phát triển bầu sữa nuôi con
Thức ăn cho nái mang thai phải kiểm soát được độc tố nấm mốc và các chất dinh dưỡng sao cho không gây táo bón, không nứt móng, chất lượng phải
ổn định liên tục
Thường xuyên vệ sinh cọ rửa máng ăn để hạn chế nấm mốc phát triển
- Chuồng trại
Bố trí chuồng trại sao cho khu nuôi dưỡng nái mang thai được yên tĩnh,
ít bị kích động bởi các hoạt động khác trong trại Chuồng nuôi phải được thiết
kế tạo sự thông thoáng cho nái mang thai được ngủ nhiều, đặc biệt là giai đoạn gần đẻ Nền chuồng khô ráo, có độ nhám thích hợp, không trơn trượt dễ gây té ngã
Lưu ý: Cung cấp đủ nước sạch và mát cho nái mang thai, khoảng 11lít/con/ngày Thường xuyên quan sát tình trạng vôi trong nước tiểu và mủ từ âm hộ để có biện pháp can thiệp kịp thời
b Giai đoạn lợn nái sinh sản
- Chăm sóc lợn mẹ:
Trước ngày đẻ dự kiến khoảng 7 - 10 ngày thì phải đưa lợn mang thai lên chuồng sinh sản để chờ đẻ Căn cứ vào ngày đẻ dự kiến dưới chuồng mang thai sẽ xếp theo các ô chuồng Trước khi chuyển lợn lên chuồng sinh sản, chuồng phải được dọn dẹp và vệ sinh sạch sẽ Lợn chuyển lên phải được mang theo đầy đủ thông tin kẹp trong bảng ở đầu mỗi ô chuồng
Phân công công nhân trực đẻ, theo dõi đỡ đẻ cho lợn và can thiệp kịp thời khi cần thiết, tránh những thiệt hại đáng tiếc có thể xảy ra
Nước uống cho lợn nái luôn được cung cấp đảm bảo, nước sạch, mát và
đủ Thức ăn cung cấp đầy đủ cho lợn nái trước khi đẻ và sau đẻ
Trang 29- Xác định lợn nái bị viêm tử cung sau đẻ: Dịch đào thải ra từ đường sinh dục của lợn nái được theo dõi từ khi lợn nái bắt đầu đẻ cho tới khi hết dịch Quá trình theo dõi dịch đào thải từ đường sinh dục lợn nái sau đẻ được thực hiện 2 lần/ngày vào buổi sáng và buổi chiều Trong thời gian này, nếu tính chất của dịch thay đổi như từ không màu hoặc hơi hồng, trong, lỏng, chuyển sang màu trắng sữa, hồng hơn, đỏ hơn, hoặc nâu gỉ sắt, vàng hay xanh, dịch đặc hơn,
có bã đậu, dính, dịch có mùi hôi, thối thì lợn đó được coi là bị viêm tử cung sau
đẻ (Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh, 2016) [13]
- Tiến hành điều trị cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ mắc bệnh bằng phác đồ điều trị bệnh hiệu quả nhất
* Điều trị bệnh viêm đường sinh dục bằng phác đồ điều trị sau:
Thụt rửa tử cung bằng nước muối sinh lý (Nacl 0,9%) 2 lít/con/ngày Tiêm oxytocine: 2 ml/con/ngày
Tiêm Amox-LA 1 ml/10 kg thể trọng/ngày, tiêm bắp cổ
Kết hợp với chăm sóc, hộ lý và vệ sinh chuồng trại tốt
Liệu trình điều trị từ 3 - 5 ngày
* Điều trị viêm vú bằng phác đồ điều trị sau:
+ Cục bộ: Vắt cạn sữa ở vú viêm, chườm nước đá lạnh kết hợp xoa bóp nhẹ vài lần/ngày cho vú mềm dần
+ Toàn thân: Tiêm Analgin: 1 ml/10 kg thể trọng/1 lần/ngày Tiêm Amox-LA 1 ml/10 kg thể trọng/ngày, tiêm bắp cổ
Điều trị liên tục trong 3 ngày
* Xử lý hiện tượng đẻ khó như sau:
+ Những trường hợp đã vượt quá thời gian rặn đẻ cho phép, cần phải tiêm Oxytocin 2 ml/con Trường hợp không có kết quả, cần thiết phải can thiệp bằng cách: Rửa tay bằng nước sát trùng tỷ lệ 1/3200 rồi bôi trơn tay thao tác, từ từ đưa tay đã bôi trơn bằng valueline vào tử cung theo cơn rặn của lợn
Trang 30mẹ để kiểm tra thai, thường là sờ thấy thai quá to, nằm ngay ở khung xương chậu Khi sờ được đầu thai ta dùng ngón trỏ và ngón giữa kẹp hai bên tai của thai, các ngón còn lại tạo thành một vòng kín qua đầu thai rồi từ từ kéo thai ra ngoài theo cơn rặn của lợn mẹ Trường hợp sờ thấy phần sau của thai thì ta dùng ngón trỏ và ngón giữa kẹp chặt vào khớp chân sau của lợn con rồi kéo thai ra ngoài theo cơn rặn của lợn mẹ Nếu vẫn không có kết quả thì phải phẫu thuật để kéo thai ra
Sau khi can thiệp phẫu thuật phải thụt rửa âm đạo, sát trùng vết mổ và dùng kháng sinh có thành phần Amoxicillin liều 1 ml/10 kg thể trọng/ngày chống viêm nhiễm tử cung, âm đạo
+ Tiêm vitamin ADE-B Complex liều 1ml/25 - 30 kg thể trọng để trợ sức cho lợn
2.2.2.2 Quy trình chăn nuôi lợn con theo mẹ
Đàn lợn con tại trại được chăm sóc nuôi dưỡng theo quy định và quy trình được chia làm giai đoạn: Lợn con từ 1 - 4 ngày tuổi, lợn con từ 5 - 21 ngày tuổi Cần kết hợp với cán bộ kỹ thuật của trại, chỉ đạo công nhân, chăn nuôi hợp lý, khoa học với từng giai đoạn, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cụ thể như sau:
- Lợn con từ 1 - 4 ngày tuổi:
Lợn con sau đẻ 24 h sẽ được mài nanh, cho uống thuốc phòng cầu trùng Pigcoc (toltraruzil) lần 1, bấm số tai
Lợn con 3 ngày tuổi: tiêm sắt 1ml/con, cắt đuôi, uống thuốc phòng cầu trùng (lần 2)
Trường hợp có lợn con bị tiêu chảy ta cho uống cầu trùng 1 lần/ngày
- Lợn con từ 5 - 21 ngày tuổi:
Lợn con bắt đầu được cho tập ăn sớm (lắp máng ăn trong ô chuồng lợn con và cho một nắm thức ăn để lợn làm quen với thức ăn, sau khi lợn đã ăn được ta tăng dần lượng thức ăn
Trang 31Lợn con được 5 - 6 ngày tuổi ta bắt đầu thiến con đực
Lợn con sau khi được 7 - 10 ngày tuổi, tiến hành tiêm vắc xin phòng bệnh do vi khuẩn Mycoplasma
Lợn con sau khi được 14 - 16 ngày tuổi, tiến hành tiêm vắc xin phòng bệnh Circo
Trong thời gian này hàng ngày lợn được điều trị hội chứng tiêu chảy và các bệnh khác (thiếu sắt, xù lông , …)
* Điều trị hội chứng tiêu chảy lợn con:
+ Tiêm kháng sinh Enrofloxacin: 1 ml/20 kg thể trọng, kết hợp với Atropin: 1 ml/10 kg thể trọng
+ Điều trị liên tục 3 - 5 ngày
* Điều trị bệnh cầu trùng lợn con bằng phác đồ điều trị sau:
+ Cho uống dung dịch thuốc Pigcoc (toltraruzil) với liều 1ml/con
2.2.3 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ
2.2.3.1 hội chứng tiêu chảy ở lợn con
a Nguyên nhân
- Bệnh do vi khuẩn E coli, Gram (-) gây nên, thuộc họ vi khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae gây ra
- Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái không đúng kỹ thuật
- Do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột
- Do khẩu phần ăn của lợn mẹ thay đổi
- Do công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại kém
b Triệu chứng
Lợn con thường kém ăn, ủ rũ, kém vận động, mắt, miệng, hậu môn nhợt nhạt, lợn bị tiêu chảy phân lỏng màu trắng có mùi hôi tanh khó chịu, sau chuyển hơi vàng, khắm, phân bết sau hậu môn, lợn đi lại không vững gầy sút nhanh