1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng được thực hiện như thế nào ở Việt Nam

11 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 21,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được xem là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện trong xã hội dân chủ, nam nữ bình quyền, xã hội dân chủ xuất hiện từ thời kỳ cận đại

Trang 1

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Chủ đề: Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng được thực hiện như thế nào ở

Việt Nam

MỞ ĐẦU

Hiện nay, ở Việt Nam, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được xem

là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện trong xã hội dân chủ, nam nữ bình quyền, xã hội dân chủ xuất hiện từ thời kỳ cận đại Vì vậy, cần tập trung nghiên cứu đề tài

“Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng được thực hiện như thế nào ở Việt

Nam”.

NỘI DUNG

I Những lý luận cơ bản về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành và phát triển nguyên tắc của luật hôn nhân và gia đình

a) Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về hôn nhân và gia đình – cơ sở lý luận của việc hình thành và phát triển nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình VN

Chủ nghĩa Mác - Lê nin nhìn nhận hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội có quá trình phát sinh, phát triển, do các điều kiện kinh tế - xã hội quyết định Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, Mác và Enghen đã phân tích: lịch sử gia đình là lịch sử của quá trình xuất hiện chế độ quần hôn, chuyển sang gia đình đối ngẫu, phát triển lên gia đình một vợ một chồng - là quá trình không ngừng hoàn thiện hình thức gia đình, trên

cơ sở sự phát triển của các điều kiện sinh hoạt vật chất của con người

Lúc này, hôn nhân mới có điều kiện thể hiện đúng bản chất của nó là hôn nhân một vợ một chồng đích thực, phát sinh và tồn tại trên cơ sở tình yêu chân

Trang 2

chính giữa nam và nữ, bình đẳng nhằm xây dựng gia đình để cùng nhau thỏa mãn nhu cầu về tinh thần và vật chất

b) Quan điểm, đường lối của Đảng về hôn nhân và gia đình – nền tảng của nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Ở Việt nam, Xuất phát từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về hôn nhân và gia đình tiến bộ, những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa được hình thành trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và nó trở thành nền tảng của mọi chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ

Ở nước ta, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, nhiệm vụ, mục tiêu được đặt ra

là phải xóa bỏ tận gốc rễ những tàn dư, hủ tục lạc hậu do chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến để lại, chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của hôn nhân và gia đình tư sản, đồng thời xây dựng những quan hệ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa Trong những giai đoạn khác nhau, Đảng và nhà nước có những chủ trương, chính sách về hôn nhân và gia đình phù hợp, nhằm tập trung thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu nói trên

2 Khái quát chung về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

a) Khát quát chung về gia đình một vợ một chồng

Hôn nhân đối ngẫu không phải hôn nhân một vợ một chồng Hôn nhân một vợ một chồng là hôn nhân mới trong lịch sử đặc trưng cho một chế độ xã hội khác Chế độ một vợ một chồng “không phải kết quả giữa tình yêu trai gái…Gia đình cá thể là hình thức gia đình đầu tiên không căn cứ vào các điều kiện tự nhiên mà căn cứ vào các điều kiện kinh tế, vào sự thằng lợi của chế độ tư hữu đối với chế độ công hữu lúc ban đầu, được hình thành một cách tự phát” Hôn nhân và gia đình của chế độ một vợ một chồng mà đầu tiên là gia đình cá thể và các biến thể của nó trong các xã hội có giai cấp đối kháng( chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản) không phải là sự liên kết trên cơ sở tình cảm mà dựa trên cơ

sở tài sản Chỉ có trong các giai cấp bị áp bức, bởi vậy chỉ có trong giai cấp vô

Trang 3

sản thì thì tình yêu nam nữ mới trở thành một quy tắc trong cá quan hệ đối với người phụ nữ

b) Bản chất của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam

Với quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng giữa nam và nữ, xóa bỏ hoàn toàn chế độ đa thể, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã trở thành nguyên tắc quan trọng được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của nước ta và được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật HN&GĐ, từ luật HN&GĐ năm 1959, luật HN&GĐ năm 1986 đến luật HN&GĐ năm 2000 Tại khoản 1 – điều 2 luật HN&GĐ năm 2014 ghi nhận: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng,

vợ chồng bình đẳng” là nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân gia đình

Bản chất của hôn nhân tự nguyện trên cơ sở tình yêu nam nữ là hôn nhân một vợ một chồng Mặt khác, chế độ một vợ một chồngđảm abro tình yêu giữa

họ thực sự bền vững, duy trì và củng cố hạnh phúc gia đình Hôn nhân một vợ một chồng là điều quan trọng làm cho cuộc sống chung vợ chồng lâu dài, bền vững và thực sự hạnh phúc

II Quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam qua các thời kỳ

1 Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trước khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1959

Để điều chỉnh những quan hệ hôn nhân và gia đình, Nhà nước non trẻ của chúng ta đã dựa vào các quy định trong các văn bản pháp luật của chế độ cũ còn phù hợp với quan điểm, chính sách của Đảng và quy định của Hiến pháp 1946 Đến năm 1950, những nguyên tắc của pháp luật hôn nhân và gai đình được thể hiện rõ ràng trong Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 và Sắc lệnh số 159-SL

Trang 4

ngày 17/11/1950 Thời kỳ này, pháp luật hôn nhân và gia đình vẫn còn trong giai đoạn sơ khai, với một số ít quy phạm pháp luật

Các văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình chưa có sự phân định những quy định chung và những quy định cụ thể, nhưng thông qua những quy định cụ thể này, chúng ta có thể thấy pháp luật đã quán triệt những nguyên tắc:

- Nguyên tắc hôn nhân tự do, tự nguyện

- Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người phụ nữ

- Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái

Ở đây chưa đề cập đến nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhưng đã bao hàm được những tư tưởng dân chủ tiến bộ của chế độ hôn nhân và gia đình mới do Đảng và Nhà nước ta xây dựng

2 Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng sau khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1959

Luật hôn nhân và gia đình 1959 đã được xây dựng trên cơ sở bốn nguyên tắc cơ bản sau đây:

- Nguyên tắc hôn nhân tự do và tiến bộ

- Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

- Nguyên tắc nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong gia đình

- Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái

Nhằm thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình mới, Luật hôn nhân và gia đình 1959 đã quy định nguyên tắc mới: nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Trước đây, mặc dù đã xác định được nhiệm vụ là xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, phản dân chủ của pháp luật hôn nhân và gia đình phong kiến, nhưng Nhà nước

ta chưa có quy định về việc thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng Đây là một hạn chế của pháp luật thời kỳ trước đó Việc Luật hôn nhân và gia đình 1959

Trang 5

quy định nguyên tắc một vợ một chồng bảo đảm cho hạnh phúc gia đình bền vững, đồng thời phù hợp với đạo đức xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc này còn được thể hiện trong quy định về điều kiện kết hôn “cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác…” (Điều 5, Luật Hôn nhân gia đình 2014)

Luật hôn nhân và gia đình năm 1986

Khi xây dựng Luật hôn nhân và gia đình 1986, nhà lập pháp đã có sự phân định nhóm những quy định chung và nhóm các quy định chuyên biệt Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được quy định trong Chương I (những quy định chung) trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã được kế thừa phát triển nguyên tắc này của Luật hôn nhân và gia đình 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã bổ sung thêm những nội dung của nguyên tắc này cho đầy đủ Ví dụ: trong nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, nếu như Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 chủ yếu quy định “cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác” thì Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định đầy đủ hơn “cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác”

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Kế thừa và phát triển những nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình

1986, Luật hôn nhân và gia đình 2000 tiếp tục thực hiện những nguyên tắc của Luật cũ còn phù hợp, nhưng có sự sắp xếp lại cho khoa học hơn, đồng thời bổ sung một số nội dung mới làm cơ sở cho việc thực hiện và bảo vệ các quan hệ hôn nhân và gia đình đầy đủ cùng với sự vận động của các quan hệ kinh tế - xã hội, pháp luật hôn nhân và gia đình - một bộ phận thuộc thượng tầng kiến trúc, không ngừng được hoàn thiện

Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Trang 6

Không có sự khác biệt quá nhiều so với Luật hôn nhân gia đình của những thời kỳ trước Luật hôn nhân gia đình 2014 kế thừa và phát triển nguyên tắc một

vợ một chồng Quy định tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình: “ Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng…”

III Thực tiễn áp dụng nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam

1 Thực tiễn áp dụng

Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn bị vi phạm khá nghiêm trọng

ở nhiều địa phương, đặc biệt có nhiều trường hợp một người đàn ông chung sống với rất nhiều vợ Việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng

Những khó khăn, vướng mặc trong việc đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình

2 Giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng theo luật 2015

a) Người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

* Người đang có vợ, đang có chồng mà kết hôn với người khác

Việc kết hôn của người đang có vợ, có chồng với người khác mặc dù có đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn nhưng đã vi phạm về điều kiện kết hôn (khoản 3 điều 8) và thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn giữa người đang có vợ, có chồng với người khác là kết hôn trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và phải bị xử hủy Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xem xét và ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật trên cơ sở người có quyền yêu cầu theo quy định của pháp luật

Về nguyên tắc, Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật với các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 10 Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố hủy kết hôn giữa người đang có vợ, có chồng với người khác thì quan hệ giữa hai bên sẽ không có

Trang 7

giá trị pháp lý và không được coi là có quan hệ vợ chồng kể từ thời điểm kết hôn cho đến khi có yêu cầu Tòa án hủy theo khoản 1 điều 12 Đối với hôn nhân hợp pháp thì khi cảm thấy đời sống hôn nhân không thể duy trì được thì hai bên có thể yêu cầu tòa án cho ly hôn theo thủ tục chung Về nguyên tắc, các trường hợp kết hôn vi phạm khoản 1 điều 10 thì Tòa giải quyết theo hướng hủy kết hôn trái pháp luật Tuy nhiên, cần chú ý tới Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP tại mục 2 điểm d3:

- Khi một người đang có vợ, có chồng nhưng tình trang trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mà đã kết hôn với người khác thì lần kết hôn sau

là kết hôn trái pháp luật, thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 điều 5, vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng Các giai đoạn về sau có thể tuân theo chế định kết hôn – ly hôn theo luật định

- Trường hợp cán bộ, bộ đội ở miền Nam đã có vợ, có chồng ở miền Nam tập kết ra Bắc lấy vợ hoặc lấy chồng ở miền Bắc Theo Thông tu 60/DS-TAND trường hợp này là ngoại lệ Sở dĩ quy định như vậy là do thời kỳ chiến tranh khốc liệt, đất nước bị chia cắt làm đôi nên nhu cầu tình cảm trong việc xác lập hôn nhân mới là chính đáng, pháp luật vẫn thừa nhận cả hai quan hệ hôn nhân

mà không nhất thiết phải xử hủy hôn nhân sau, nhằm đảm bảo quyền lợi chính đang của các bên trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh

* Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác

Việc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ hoặc có chồng có thể được gia đình chấp thuận hoặc không chấp thuận; có thể tố chức lễ cưới hay không tổ chức Hai bên chung sống với nhau có thể công khai, được hàng xóm coi như vợ chồng và có con chung, có tài sản chung hoặc không có tính chất công khai mà lén lút, nên những người xung quanh không phát hiện ra Việc người đang có vợ hoặc đang có chồng chung sống như vợ chồng với người khác

Trang 8

là chung sống trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, xâm phạm đến quan hệ hôn nhân hợp pháp được nhà nước bảo hộ

b) Nam nữ sống chung như vợ chồng được coi là quan hệ vợ chồng nhưng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Xem xét ở yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan Mặt khách quan, họ chung sống với nhau công khai, cùng gánh vác nghĩa vụ và trách nhiệm, quyền đối với nhau, được họ hàng và xã hội thừa nhận Mặt chủ quan, hai bên chung sống dựa trên cơ sở tình yêu thương

* Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 ngày luật năm 1986 có hiệu lực, mà chưa đăng ký kết hôn và hiện vẫn đang chung sống với nhau như vợ chồng, chưa đăng ký kết hôn và hiện vẫn đang chung sống với nhau như vợ chồng

Trong trường hợp này, việc đăng ký kết hôn được nhà nước khuyến khích,không bắt buộc và không bị hạn chế về mặt thời gian Cho dù nam, nữ có đăng ký kết hôn hay không thì vẫn được công nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp bởi trên thực tế họ đã vào tuổi ông, bà Và quan hệ vợ chồng của họ được pháp luật công nhân kể từ ngày xác lập (ngày họ chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhân kể từ ngày đăng ký kết hôn

Theo Thông tư liên tịch 01 nam nữ chung sống với nhau được coi là có giá trị pháp lý khi họ thỏa mãn các điều kiện:

- Đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại điều 9 và điều 10 và thuộc các trường hợp: có tổ chức lễ cưới, việc chung sống được gia đình chấp nhận, việc chung sống được người khác tổ chức chứng kiến, họ thực sự chung sống với nhau, giúp đỡ, chăm sóc nhau xây dựng gia đình chung

Theo quy định của luật, người đang chung sống như vợ chồng được coi là

có quan hệ vợ chồng, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng khi họ kết hôn hoặc lại chung sống như vợ chồng với người thứ ba Bởi, mặc dù trong quan

Trang 9

hệ đầu tiền, giữa nam và nữ chỉ chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn, nhưng nó đã thỏa mãn các yếu tố của một cuộc hôn nhân, được pháp luật công nhận và bảo hộ như các quan hệ vợ chồng pháp luật khác Vì thế, giữa nam

và nữ chung sống như vợ chồng được coi là có quan hệ vợ chồng nên cũng có những quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, nên phải tuân tủ nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Do đó, khi một người đang chung sống như vợ chồng được nhà nước thừa nhận có quan hệ vợ chồng, mà kết hôn với người khác thì lần kết hôn đó là vi phạm điều kiện kết hôn, vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng, và bị coi là kết hôn trái pháp luật Lần kết hôn sau của người đang chung sống như vợ chồng được thừa nhận là có quan hệ vợ chồng sẽ bị tòa án tuyên bố hủy

IV Thực tiễn giải quyết và một số bất cập

1 Thực tiễn giải quyết

Ở nước ta, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là một nguyên tắc hiến định và dần trở thành nguyên tắc của cuộc sống gia đình, là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh, phát triển bền vững Tuy nhiên trong thực tế, tình trạng ngoại tình, nam nữ chung sống như vợ chồng ngày càng phổ biến ở nhiều địa phương, nhất là các thành phố lớn

Việc giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong thực tế có nhiều vấn đề còn tồn tại Cụ thể:

Thứ nhất, các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng xảy ra trong thực tế rất nhiều, trong khi các vụ việc được giải quyết trước pháp luật là rât nhỏ, thông thường các bên tự thỏa thuận giải quyết cho hành vi vi phạm, các bên vẫn tiếp tục chung sống với nhau

Thứ hai, khi người có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật hoặc không công nhận quan hệ vợ chồng đối với một quan hệ nam nữ Tòa án không ra quyết định đó ngay mà sẽ tiến hành điều tra xem quan hệ nam

Trang 10

nữ đó có dấu hiệu vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Do tính chất của quan hệ vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là quan hệ riêng tư, mang tính tình cảm, cá nhân nên các quan hệ này thường ít bộc lộ ra bên ngoài Không những thế, các đương sự thường có tâm lý muốn che đậy, giấu diếm phần

vì họ ngại dư luận xã hội, muốn giữ cho gia đình yên ấm, con cái hòa thuận, phần vì “xấu chàng hổ ai ”

2 Những bất cập trong việc giải quyết các trường hợp vi phạm

Liên quan đến việc xác nhận các bên đăng ký kết hôn có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, cụ thể là họ có quan hệ huyết thống trong phạm

vi ba đời hay đã từng có quan hệ thích thuộc trực hệ hay không Thông thường khi đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải nộp tờ khải theo mẫu quy định và xuất trình chứng minh thư, nhưng những thủ tục trên không đủ chứng mình là giữa họ không có họ trong phạm vi ba đời hoặc chưa từng có quan hệ thích thuộc về trực

hệ với nhau Bởi việc xác định các mối quan hệ giữa cá nhân với nhua, đặc biệt

là quan hệ giữa bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, con riêng của vợ hoặc chồng vời bố dượng, mẹ kế… trong thực tế là vấn đề mang tính tế nhị và phức tạp

Thứ ba, khi công cụ pháp lý bị lãng quên, tính khả thi của các hình thức

xử lý vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tỏng HNGĐ thực tế là chưa cao

V Một số giải pháp khắc phục vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở nước ta hiện nay

Thứ nhất, về mặt lý luận, tăng cường hoàn thiện các quy định pháp luật về việc giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng,

để giải quyết các trường hợp vi phạm thực sự mang lại hiệu quả cao

Thứ hai, xác định rõ trách nhiệm, tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực Hôn nhân gia đình, phối hợp với các cơ quan chức năng trong

Ngày đăng: 22/03/2022, 15:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật HNGĐ Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007 Khác
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giỏo trỡnh lịch sử nhà nươớc và phỏp luật Việt Nam, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2005 Khác
3. C. Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, tập VI, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tươ hữu và của nhà nươớc (từ tr. 24 - 273), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984 Khác
4. Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 Khác
5. Luật HNGĐ Việt Nam năm 1959 6. Luật HNGĐ Việt Nam năm 1986 7. Luật HNGĐ Việt Nam năm 2000 8. Luật HNGĐ Việt Nam năm 2014 Khác
9. Một số văn bản pháp luật như nghị định, công văn, thông tư của Chính Phủ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w