Mục đích của việc giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường phổthông không chỉ cung cấp cho học sinh về kiến thức khoa học, giúp các emviết được những bài văn hay mà còn hình thành cho
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng thẩm định sáng kiến Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Ninh Bình
Nhóm tác giả sáng kiến
T Họ và tên
Ngày tháng năm sinh Nơi công tác Chức vụ
Trình độ chuyên môn
Tỉ lệ % đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến
Là đồng tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến:
1 TÊN SÁNG KIẾN VÀ LĨNH VỰC ÁP DỤNGTên sáng kiến:
DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI(Qua bài: ĐÂY THÔN VĨ DẠ - Hàn Mặc Tử)
Lĩnh vực áp dụng: lĩnh vực giáo dục Thời gian áp dụng: năm học: 2018 -2019, 2019 -2020, 2020-2021
2 MÔ TẢ SÁNG KIẾN2.1 Về nội dung
Trang 2Mục đích của việc giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường phổthông không chỉ cung cấp cho học sinh về kiến thức khoa học, giúp các emviết được những bài văn hay mà còn hình thành cho các em kĩ năng giaotiếp, kĩ năng sống, bồi đắp cho các em những tình cảm cao đẹp, giá trị thẩm
mĩ, giúp các em tiêp cận tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại…
a.Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp mới
Nội dung
-Dạy học từng tácphẩm riêng lẻ Họcsinh học tác phẩm nàochỉ nắm được nộidung và nghệ thuật cơbản của tác phẩm đó
-Dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại Từ
đó học sinh sẽ biết cách khai thác, tiếp cậncác tác phẩm khác cùng thể loại
Mục đích
- Chuyển tải kiến thức
về tác phẩm; giáo dụcphẩm chất, hình thànhnăng lực cho học sinh
- Hướng dẫ học sinh tìm hiểu các tác phẩmvắn học theo đặc trưng thể loại, giáo dụcphẩm chất, hình thành năng lực cho học sinh
- Giúp học sinh tích cực, chủ động trong việctiếp cận tác phẩm văn học – kể cả những tacphẩm ngoài chương trình
- Phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng,năng lực tạo lập văn bản…cho học sinh
Ưu điểm
Kiến thức trình bàylogic, có hệ thống
Học sinh học tập tích cực, giáo viên chuyểngiao nhiệm vụ học tập cho học sinh Dạy họcsinh cách tự thu thập kiến thức và tự rút ra bàihọc Hình thức học tập phong phú, đa dạng:học sinh học thầy, học bạn, học trên lớp, từthông tin đại chúng, từ tài liệu tra cứu trênInternet, học qua trải nghiệm thực tế
Nhược điểm
- Học sinh thụ động,kiến thức thiên về lýthuyết, không khích lệ
sự sáng tạo, kỹ năngthực hành kém, ápdụng vào đời sốngthực tế hạn chế Tiết
Với những học sinh học yếu, thụ động các em
sẽ khó tiếp cận với những tác phẩm ngoàichương trình
Trang 3học nhàm chán, đơnđiệu; học sinh thiếuhứng thú học tập.
- Về hình thức: Thông qua hoạt động dạy học trên lớp học sinh đượcphát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động tự giác và sáng tạo của bảnthân Các em được bày tỏ quan điểm, ý tưởng; được đánh gia và lựa chọn ýtưởng hoạt động; được thể hiện và tự khẳng định bản thân
- Về phương pháp: Nhóm ngữ văn đã lựa chọn những phương phápphù hợp khi tổ chức hoạt động dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loạinhư: phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp thuyết trình, trả lời câuhỏi, dạy học dự án…Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác: Ở chuyên
đề này, chúng tôi đã tạo điều kiện cho các em được hợp tác, phối hợp giữacác cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm,tránh hiện tượng ỷ lại
Từ đó, tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn; pháttriển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò: trước đây giáoviên giữ độc quyền đánh giá học sinh.Trong phương pháp tích cực, giáo viêncần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Ởchuyên đề này, chúng tôi đã tạo điều kiện cho các em được giám sát, phảnbiện, nhận xét hoạt động của nhóm bạn Việc kiểm tra, đánh giá không chỉdừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà cácem
b Hiệu quả xã hội đạt được
Trang 4*Với học sinh.
- Chuyên đề giúp học sinh tiếp cận tác phẩm một cách chủ động, chỉcần các em nắm được đặc trưng thể loại các em sẽ tìm hiểu được những tácphẩm khác Sau 03 năm áp dụng (2018 -2019, 2019 -2020, 2020-2021) chấtlượng giáo dục nâng cao rõ rệt: HSG cấp tỉnh tăng thêm 02 giải nhì, xếp loạihọc lực tăng 0,56% , thi THQG tăng 0,6% so với những năm học trước
- Dạy học kiến thức: Cùng một hoạt động học,học sinh tích hợp đượckiến thức li luận về đặc trưng thể loại tác phẩm văn học Đây được coi làchìa khóa tìm hiểu tác phẩm
- Giáo dục kĩ năng: buộc học sinh phải tìm hiểu tư liệu và tự tiếp cậnnhững tác phẩm văn học khác cùng thể loại Học sinh học không phải để đốiphó với thi cử mà học để thực hành, để trải nghiệm, ứng dụng Vì vậy thôngqua hoạt động,chúng tôi nhận thấy khá nhiều học sinh bộc lộ rõ năng lực, sởtrường của mình Giáo viên chỉ gợi ý, định hướng, Qua đây, học sinh thực
sự được phát huy tính tích cực chủ động của các em
=>Như vậy, qua hoạt động học chúng tôi đã đạt được hai mục đích:dạy học kiến thức khoa học và giáo dục kĩ năng cho học sinh
* Với giáo viên:
- Tổ chức dạy học tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại,giáo viênvừa đảm bảo kiến thức chuyên môn vừa rút ngắn thời gian dạy học vừa khơihứng thú học tập, dễ phát hiện năng lực của HS, nâng cao chất lượng dạyhọc và giáo dục
- Nâng cao hiệu quả trong phối kết hợp làm việc giữa các giáo viên
- Dạy học tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại, giáo viên khôngphải là người cung cấp lí thuyết cho học sinh mà là người hướng dẫn họcsinh gắn lí thuyết với thực tiễn Từ đó tạo cho học sinh sự hứng thú, niềmđam mê và yêu thích môn học hơn Giáo viên không phải là người giaogiảng đạo đức mà để học sinh tự trải nghiệm, tự nhận thức, từ đó học sinhmới có những bài học sâu sắc thấm thía
- Chuyên đề cũng là cơ hội để cho các đồng chí giáo viên được nghiêncứu, thảo luận, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm trong việc thiết kế bài giảngsao cho phù hợp với đối tượng và mục đích dạy học, giáo dục
Trang 5-> Từ đó góp phần thực hiện tốt đổi mới phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập củahọc sinh trong giai đoạn hiện nay
* Với phụ huynh học sinh:thấy rõ hiệu quả học tập của con em quaphong thái tự tin, thái độ say mê, chất lượng học tập từ đó đặt niềm tin vàothầy cô và nhà trường
2.2 Điều kiện và khả năng áp dụng
+ Về phía tổ nhóm chuyên môn: Tích cực đổi mới hình thức sinh hoạt
tổ nhóm chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài dạy, mạnh dạn giao việccho giáo viên, chú trọng đến việc đổi mới phương pháp dạy- học
XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ CƠ SỞ
Hoa Lư, ngày 08 tháng 05 năm 2020
Người nộp đơn
Trang 6Đỗ Thị Liệu
Đoàn Thị Thu Hạnh
Đỗ Thị Bích Thủy Đinh Thị Mai Xuyên Bùi Thị Phương
Trang 7Hình thức tổ chức tác phẩm văn học được xác định trong loại(loại hình,
chủng loại) và thể(thể tài, thể loại) Loại là phương thức tồn tại chung; thể là sựhiện thực hóa của loại Phần lớn các nhà nghiên cứ đều tán thành phân các tácphẩm văn học làm ba loại lớn: trữ tình (lấy cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng con ngườilàm đối tượng thể hiện chủ yếu), tự sự (dùng lời kể, miêu tả để xây dựng cốttruyện, khắc họa tính cách nhân vật, dựng lên những bức tranh về đời sống) vàkịch (thông qua lời thoại và hành động của nhân vật mà tái hiện những xung đột xã
hội) Loại trữ tình có các thể: thơ ca, khúc ngâm…Loại tự sự có các thể: truyện, kí…Loại
kịch có các thể: chính kịch, bi kịch, hài kịch…
Loại thể văn học thuộc về ý thức, về cách thể hiện cuộc sống trong văn họccũng như cách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ thể Tácphẩm văn học tồn tại trong những hình thức của các loại thể văn học Không có tácphẩm nào tồn tại ngoài hình thức quen thuộc của loại thể Phân tích một tác phẩm
về nội dung cũng như nghệ thuật không thể xem nhẹ đặc trưng loại thể
Theo Trần Thanh Đạm, loại thể bao gồm loại (loại hình) và thể (thể tài).Theo Nguyễn Thị Dư Khánh, loại thể gồm loại (loại hình) và thể (thể thơ, thể văn)
Từ đây, chúng ta có thể hiểu một cách thống nhất về loại thể Chúng gồm cácnhóm lớn nhất là loại, mỗi loại có những nhóm nhỏ hơn là thể (hoặc thể loại, thểtài)
Sáng tác văn học hết sức đa dạng, phong phú, vì thế để thưởng thức, nghiên cứu,phê bình, nắm bắt các qui luật của văn học, người ta có nhu cầu phân loại các thểloại của các tác phẩm văn học Đó là một công việc vì hai nguyên nhân Một là
bản thân thể loại rất phức tạp và hai là có nhiều cách phân loại khác nhau.
Các thể loại văn học đã nhiều lại luôn ở trong sự vận động, thay đổi, pha trộn vàonhau Trong tiến trình đời sống, một số thể loại do không thích hợp đã bị loại bỏ, một sốthể loại mới nảy sinh và thay thế Các hiện tượng đó làm khó cho công việc phân loại.Tiêu chí phân loại cũng rất nhiều Phân loại về ngôn ngữ, về phương thức cấu tạo hìnhtượng, về dung lượng dài ngắn Các tiêu chí làm cho việc phân loại không khỏi chồngchéo, và nhìn chung sự phân loại chỉ có thể mang tính chất tương đối
Cho đến nay phổ biến vẫn tồn tại cách chia ba và cách chia bốn Cách chia ba
có từ thời cổ đại, từ thời Aristote, văn học được chia làm ba loại theo phương thức,phương tiện biểu đạt của chúng: tự sự, trữ tình, kịch Cách chia bốn xuất hiệnmuộn hơn, chia văn học làm bốn loại: thơ ca, tiểu thuyết, kịch, kí (tản văn) Vàothế kỉ XIX, nhà lí luận văn học Nga là Belinski cũng chia tác phẩm văn học thành
ba loại: tự sự, trữ tình, kịch Ông cho rằng, “chia thơ ca (văn học) làm ba loại: tự
sự, trữ tình, kịch là xuất phát từ ý nghĩa của việc nhận thức chân lí, cũng tức là trêntinh thần nhận thức- xuất phát từ mối quan hệ qua lại giữa chủ thể với đối tượng-
Trang 8khách thể nhận thức Thơ trữ tình biểu hiện phương diện chủ quan của một con
người, đem con người bên trong phơi bày ra trước mắt chúng ta, do đó toàn bộ là
cảm xúc, tình cảm, âm nhạc Thơ tự sự là miêu tả khách quan một sự kiện đã hoànthành, là nhà nghệ sĩ đã chọn cho chúng ta một điểm thích hợp nhất để bày tỏ tất cảmọi phương diên, làm thành một bức tranh cho chúng ta xem Thơ kịch là sự điềuhòa hai phương diện trên, chủ quan, trữ tình và khách quan, tự sự Trình bày ratrước mắt chúng ta, không phải là sự kiện đã hoàn thành, mà là đang thực hiện;không phải nhà thơ đang thông báo sự việc cho ta, mà là từng nhân vật xuất hiện
Từ truyền thống trên, trong lí luận văn học phương Tây thịnh hành cách chiavăn học làm ba loại Theo truyền thống đó, loại tự sự bao gồm các thể loại sử thi(anh hùng ca), thơ tự sự (truyện thơ), tiểu thuyết…; loại trữ tình bao gồm các thểloại như thơ trữ tình, văn xuôi trữ tình; loại kịch bao gồm bi kịch, hài kịch, chính
kịch…
Dựa theo tiêu chí loại hình nội dung thể loại, nhà nghiên cứu Nga G.Pospelov lại chia ra các loại thần thoại sử thi, thế sự và đời tư Dựa theo tiêu chímiêu tả cuộc sống đã hoàn thành và chưa hoàn thành, nhà nghiên cứu M Bakhtinđưa ra các thể loại văn học sử thi và các thể loại tiểu thuyết
Ở Trung Quốc và Việt Nam từ xưa, do quan niêm văn sử bất phân, người tachia văn học ra làm hai loại chính theo hình thức ngôn từ là thơ và văn Các tuyển
tập văn học lớn trong lịch sử văn học cũng chia ra như thế, ví dụ như Hoàng Việt
thi tuyển, Hoàng Việt văn tuyển do Bùi Huy Bích (1744-1818) soạn Cho đến
những năm 60 thế kỉ XX xuất hiện bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam do nhiều học giả chủ trì, sau đó xuất hiện bộ Thơ văn Lí Trần do Viện Văn học chủ trì Các tên
sách đều cho thấy quan niệm chia hai mảng văn thơ rất thịnh hành
3.1.2 Những mâu thuẫn và tồn tại
Các cách phân loại đã trình bày ở trên đều có những ưu điểm và nhược điểm,
nói chung đều có tính chất tương đối Đó là vì, một là mọi khái quát về loại thể văn học xưa nay nói chung không bao giờ đầy đủ Thứ hai không một tiêu chí phân loại
văn học nào có thể loại trừ được các tiêu chí khác Thứ ba, các thể và các loại vănhọc không ngừng xâm nhập vào nhau, tạo thành các loại trung gian Chọn cách nàođều nhằm một mục đích tiện lợi nào đó trong việc giảng dạy
Theo chúng tôi thì việc chia ba loại: tự sự, trữ tình, kịch là tương đối ổn định Ở mỗi loại có các thể nhỏ:
- Loại tự sự
Trang 9+ Tự sự dân gian: gồm các thể thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười + Tự sự cổ trung đại và hiện đại: gồm các thể truyền kì, tiểu thuyết, truyện vừa, kí.
- Loại trữ tình
+ Trữ tình dân gian: gồm các thể tục ngữ, ca dao, dân ca, vè, câu đố
+ Trữ tình trung đại và hiện đại: gồm các thể thơ cổ thể truyền thống và thơ tự do
- Loại kịch
+ Sân khấu dân gian: gồm các thể chèo, tuồng, múa rối
+ Kịch hiện đại: gồm các thể bi kịch, hài kịch, chính kịch
Cách phân loại trên là cần thiết khi bước đầu tiếp cận các tác phẩm văn họctrong nhà trường Tuy nhiên, trong thực tế, một số tác phẩm thuộc thể loại nàynhưng lại mang tính chất của loại khác Tức là tồn tại vấn đề “chất của loại” trongthể Chẳng hạn như một truyện ngắn giàu chất trữ tình, một bài thơ giàu chất tự sự,hay một truyện ngắn giàu chất kịch… Chúng ta cần thận trọng với ba loại tính chất(tính chất trữ tình, tính chất tự sự, tính chất kịch) ở từng tác phẩm Nói cách khác,chúng ta cần chú ý đến “chất của loại” trong thể khi phân tích tác phẩm văn học
Vì chính “tính chất loại thể” làm ra diện mạo tinh thần của tác phẩm Nó giúp tatiếp nhận “đúng”, “trúng” với tác phẩm cụ thể Làm thành “loại” và thể hiện “loại”phải nhờ các “thể” Nhưng không ít “thể” của tác phẩm thuộc loại này nội dung lại
mang tính chất ở loại kia Ví dụ như truyện Chữ người tử tù, Chí Phèo vừa giàu
chất trữ tình, vừa giàu kịch tính Nếu chỉ chú ý vào thể mà quên đi tính chất loạitrong thể trong tác phẩm, chúng ta rất dễ phân tích tác phẩm một cách rập khuôn,sai lệch Như vậy, chúng ta cần quan tâm và tìm ra các phương pháp, biện phápthích hợp để giải quyết những tồn tại và mâu thuẫn này trong quá trình dạy học tác
3 2 Vấn đề dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
3.2.1 Người dạy bị chi phối bởi “thể” nhiều hơn “tính chất của loại trong thể”
Qua thực tế dự giờ của một số đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy rằng, cho
đến nay, giáo viên dạy học tác phẩm văn chương phần lớn chỉ quan tâm đến thểloại, không quan tâm hoặc quan tâm chưa đúng mức “tính chất của loại trong thể”.Ngay cả sách tham khảo, những tài liệu hướng dẫn cũng chưa chú ý đến loại thểtrong quá trình phân tích tác phẩm văn học, đặc biệt là vấn đề “chất của loại” trongthể
Ví dụ, dạy bài Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), giáo viên khai thác “chuyện
tình” giữa Hàn Mặc Tử và Hoàng Thị Kim Cúc, biến bài thơ thành bài minh họa
Trang 10cho một “chuyện tình” Chúng ta biết, đó là một bài thơ trữ tình Do đó, điều quantrọng là phải chú ý phân tích cảm xúc, tâm trạng, cảm hứng của nhân vật trữ tình,chú ý khai thác hình ảnh, vần, nhịp điệu… trong tác phẩm “Chuyện tình” giữa tácgiả và Hoàng Thị Kim Cúc chỉ là một yếu tố để ta hiểu thêm về tác phẩm chứkhông phải là căn cứ để phân tích tác phẩm.
Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do giáo viên chưa xác định loạithể của tác phẩm hoặc chưa chú ý đến đặc điểm của loại thể của tác phẩm Việckhông xác định loại thể của tác phẩm cũng như chưa chú ý đến đặc điểm của loạithể của tác phẩm khi phân tích tác phẩm văn chương cũng giống như việc khôngxác định giới tính hoặc chưa chú ý đến đặc điểm giới tính khi phân tích, nhận xét,đánh giá một con người Tình trạng này khiến cho việc phân tích, nhận xét, đánhgiá mang tính rập khuôn, võ đoán
3.2.2 Việc xác định loại thể là vấn đề mấu chốt trong dạy học tác phẩm văn chương
Không xác định rõ “chất của loại” trong thể dễ dẫn đến tình trạng khi thấythơ, ta dạy thơ trữ tình, khi gặp truyện, ta dạy học theo tinh thần văn xuôi tự sự Xarời bản chất loại thể của tác phẩm chính là xa rời tác phẩm cả về linh hồn và thểxác Vì thế, có thể nói, xác định loại thể là vấn đề mấu chốt trong việc dạy học tácphẩm văn chương
Trước khi tìm hiểu một tác phẩm, chúng ta cần xác định loại thể, xác định
“chất của loại” trong thể trong tác phẩm Để nhận biết “chất của loại” trong thểtrong một tác phẩm, chúng ta cần chú ý đến đặc điểm của loại Sau đây là một sốđặc điểm của loại tự sự, trữ tình và kịch
- Loại tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan (tương đối) của qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó
nó-Tác phẩm tự sự hầu như không bị hạn chế bởi không gian và thời gian Nó có thể
kể về những khoảnh khắc hay những sự kiện xảy ra hàng trăm năm Tầm bao quátcuộc sống trong tác phẩm rộng lớn Nhịp điệu trong tác phẩm nhìn chung là khoanthai
Nhân vật tự sự được khắc họa đầy đặn nhiều mặt: bên trong, bên ngoài, cả điều nói ra và không nói ra, cả ý nghĩ và cả cái nhìn, cả cảm xúc, tình cảm, ý thức
và vô thức, cả quá khứ, hiện tại và tương lai
Trang 11Hệ thống chi tiết nghệ thuật của tác phẩm tự sự phong phú, đa dạng, bề bộn hơn hai loại trữ tình và kịch.
Tác phẩm tự sự nào cũng có hình tượng người trần thuật của nó Hình tượngngười trần thuật, kể chuyện rất đa dạng: khách quan, ngôi thứ nhất, thông suốt,thông suốt có chọn lựa… và cũng có khi người kể chuyện như một nhân vật… khinhập thân, khi gián cách, khi đứng ngoài, khi hòa nhập… ít nhiều ta vẫn nhận rathái độ của họ
Lời văn của loại tự sự có thể là văn vần hay văn xuôi nhưng luôn hướngngười đọc ra thế giới đối tượng, khác hẳn lời trữ tình hướng sự chú ý tới cảm xúc,
ý định chủ quan của người nói, khác hẳn lời thoại trong kịch
Lời nói của nhân vật tự sự là một thành phần, một yếu tố của văn tự sự Nó xuất hiện gắn liền với sự miêu tả Trong tự sự, không có chỗ cho những lời thổ lộ trữ tình độc lập, hay tự biểu hiện một cách trực tiếp, cái đó chủ yếu dành cho nhân vật Chính vì vậy mà trong tự sự vẫn chấp nhận ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa, nửa trực tiếp, nủa gián tiếp
Văn tự sự có chức năng tái hiện, phân tích sự vật qua miêu tả và thuyết minh Việc khẳng định loại tự sự phải căn cứ trên cả nội dung và nghệ thuật Nó cũng mang những chủ đề: lịch sử dân tộc, thế sự đạo đức và đời tư
- Loại trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người Trong tác phẩm trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm Tác giả có thể biểu hiện cảm xúc
cá nhân mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự kiện nào Tác phẩm trữ tình biểu hiện cảm xúc chủ quan của nhà thơ nhưng điều đó cũng được xác lập trong mối quan hệ giữa con người và thực tại khách quan bởi vì mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người bao giờ cũng đều là cảm xúc về cái gì, tâm trạng trước vấn đề gì Do đó, hiện tượng cuộc sống vẫn được thể hiện trong tác phẩm trữ tình Tác phẩm trữ tình vẫn coi trọng việc miêu tả các sự vật, hiện tượng trong đời sống khách quan bằng các chi tiết chân thật, sinh động
Những chi tiết chân thật, sinh động trong đời sống dễ khêu gợi những tình cảm sâusắc, mới mẻ Có điều những chi tiết trong tác phẩm trữ tình bao giờ cũng hết sức
cô đọng, súc tích
Tác phẩm trữ tình bao giờ cũng mang đậm dấu ấn riêng của nhà thơ Ðó là những nỗi niềm chủ quan thầm kín nhưng khi sáng tác nhà thơ luôn luôn nâng mình lên thành người mang tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ cho một loại người, một thế hệ và cả những chân lí phổ biến Người ta thường nói đến từ chân trời của cái
"tôi" đến chân trời của cái "ta", "từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả" cũng trên ý nghĩa này
Trang 12Trong tác phẩm trữ tình có nhân vật trữ tình và nhân vật trong tác phẩm trữ tình Nhân vật trong tác phẩm trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tâm sự, cảmxúc, suy nghĩ của mình, là nguyên nhân trực tiếp khêu gợi nguồn cảm hứng cho tác giả Nhân vật trữ tình không phải là đối tượng để nhà thơ miêu tả mà chính là những cảm xúc, ý nghĩ, tình cảm, tâm trạng, suy tư về lẽ sống và con người được thể hiện trong tác phẩm Phần lớn nhân vật trữ tình xuất hiện với tư cách là những tình cảm, tâm trạng, suy tư của chính bản thân nhà thơ Tuy nhiên, có nhiều trường hợp nhân vật trữ tình không phải là hiện thân của tác giả Do tính chất tiêu biểu, khái quát của nhân vật trữ tình nên nhà thơ có thể tưởng tượng, hóa thân vào đối tượng để xây dựng nhân vật trữ tình theo qui luật điển hình hóa trong sáng tạo nghệ thuật Có thể coi đây là những nhân vật trữ tình nhập vai.
Lời văn trong tác phẩm trữ tình đòi hỏi bộc lộ những tình cảm mạnh mẽ, những ý tập trung, hàm súc do đó nó phải tìm cho mình những lời văn phù hợp với yêu cầu gây ấn tượng mạnh, không phải chỉ bằng ý nghĩa của từ mà còn bằng
cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ nữa Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người khẳng định đặc điểm quan trọng nhất của lời văn trong tác phẩm trữ tình là giàu nhạc tính Nhạc tính này, do đặc điểm ngôn ngữ của từng dân tộc, được
biểu hiện khác nhau
- Loại kịch có hai loại: kịch bản văn học và nghệ thuật sân khấu kịch Nghệthuật sân khấu kịch mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều hoạt động của diễnviên, đạo diễn, hóa trang, ánh sáng, âm thanh… Kịch bản văn học chỉ là một yếu
tố, dù đó có thể là một trong những yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của kịch
Kịch bản văn học được viết ra chủ yếu là để diễn trên sân khấu trước một tậpthể khán giả trong một thời gian nhất định nên nhà văn không thể xây dựng kịch bản với một thời gian quá dài với nhiều nhân vật qua những không gian rộng lớn như trong tiểu thuyết Ngoài ra, nhân vật còn phải “sân khấu hóa” tất cả những gì được miêu tả Những sự kiện, diễn biến của cốt truyện phải được xây dựng thế nào cho phù hợp với việc thể hiện một cách trực tiếp trên sân khấu thông qua hành động, ngôn ngữ của diễn viên Như vậy, có thể nói, kịch bản là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh nhưng đồng thời gắn bó chặt chẽ với nghệ thuật sân khấu Chính nghệ thuật này đã qui định những đặc điểm của kịch bản văn học
Kịch bắt đầu từ xung đột Đó là sự phát triển cao nhất sự mâu thuẫn của haihay nhiều lực lượng đối lập thông qua một sự kiện hay một diễn biến tâm lí cụ thểđược thể hiện trong mỗi màn, mỗi hồi kịch Có thể có rất nhiều loại xung đột khác
Trang 13nhau Có xung đột biểu hiện của sự đè nén, giằng co, chống đối giữa các lực lượng,
có xung đột được biểu hiện qua sự đấu tranh nội tâm của một nhân vật, có xungđột là sự đấu trí căng thẳng và lí lẽ để thuyết phục đối phương giữa hai lựclượng…
Xung đột kịch được triển khai thông qua các hành động Hành động là cơ sởcủa tác phẩm kịch Hành động là những hoạt động bao gồm cả ngôn ngữ, cử chỉ,thái độ, quan hệ…của con người trong cuộc sống xung quanh Trong kịch, hànhđộng được thể hiện qua suy nghĩ của nhân vật, qua hành vi, động tác, ngôn ngữ củahọ
Ðiểm khác nhau cơ bản giữa tác phẩm kịch với tác phẩm tự sự là kịch không
có nhân vật người kể chuyện
Tác phẩm kịch được viết ra chủ yếu là để diễn trên sân khấu, bị hạn chế bởi không gian và thời gian nên số lượng nhân vật không thể quá nhiều như trong các tác phẩm tự sự và cũng không được khắc họa tỉ mỉ, nhiều măt Do đó, tính cách nhân vật trong kịch tập trung, nổi bật vàxác định nhằm gây ấn tượng mãnh liệt và sâu sắc cho khán giả
Nhân vật của kịch thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm Do đặctrưng của kịch là xung đột nên khi đứng trước những xung đột đó, con người bắtbuộc phải hành động và vì vậy, con người không thể không đắn đo, suy nghĩ, cânnhắc, băn khoăn, dằn vặt…Dĩ nhiên đặc trưng này cũng được thể hiện trong cácloại văn học khác nhưng rõ ràng được thể hiện tập trung và phổ biến nhất trongkịch
Một phương tiện rất quan trọng để bộc lộ hành động kịch là ngôn ngữ.Trong kịch không có nhân vật người kể chuyện nên không có ngôn ngữ người kểchuyện Vở kịch được diễn trên sân khấu chỉ có ngôn ngữ nhân vật Có thể nói đến
ba dạng ngôn ngữ nhân vật trong kịch: đối thoại, độc thoại và bàng thoại Ðối thoại
là nói với nhau, là lời đối đáp qua lại giữa các nhân vật Các lời đối thoại trongkịch sắc sảo, sinh động và có tác dụng hỗ tương với nhau nhằm thể hiện kịch tính.Ðộc thoại là lời nhân vật tự nói với mình, qua đó bộc lộ những dằn vặt nội tâm vànhững ý nghĩa thầm kín Bàng thoại là nói với khán giả Có khi đang đối đáp vớimột nhân vật khác, bỗng dưng nhân vật tiến gần đến và hướng về khán giả nói vàicâu để phân trần, giải thích một cảnh ngộ, một tâm trạng cần được chia sẻ
một điều bí mật