Nội dung sáng kiến Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi mạnh dạn trình bày về các phươngpháp bồi dưỡng học sinh giỏi ở bộ môn Địa lí nhằm tìm ra những học sinh có nănglực thực sự đối vớ
Trang 1ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI MÔN ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THCS LAI THÀNH
Đồng tác giả:
1 Trần Văn Cộng – Hiệu trưởng
1 Vũ Thành Nam – Phó hiệu trưởng
2 Trương Thị Hằng – Giáo viên
3 Mã Thị Thêm – Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Lai Thành
Lai Thành, tháng 4 năm 2021
Trang 2Độc lập –Tự do-Hạnh phúc
Kính gửi :
- Hội đồng thẩm định Sáng kiến huyện Kim Sơn
- Hội đồng Sáng kiến Phòng GD&ĐT huyện Kim Sơn
Chúng tôi :
T
Ngày tháng năm sinh Nơi công tác Chức vụ
Trình độ chuyên môn
Tỉ lệ (%) đóng góp vào tạo ra sáng kiến
1 Trần Văn Cộng 12/4/1977 TrườngTHCS
Lai Thành
Hiệu trưởng
Đại Học 20
2 Vũ Thành Nam 01/12/1980 TrườngTHCS
Lai Thành
Phó hiệu trưởng
2 Nội dung sáng kiến
Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi mạnh dạn trình bày về các phươngpháp bồi dưỡng học sinh giỏi ở bộ môn Địa lí nhằm tìm ra những học sinh có nănglực thực sự đối với việc thi học sinh giỏi, đồng thời giúp các em có được phươngpháp học tập một cách tích cực nhất trong quá trình ôn thi học sinh giỏi
- Nhằm xác định rõ kế hoạch, nhiệm vụ và phương pháp dạy trên lớp của giáoviên để học sinh đi thi đạt kết quả cao nhất
- Xác định được phương pháp ôn luyện đội tuyển cho học sinh, tạo điểm nhấn, sứcvượt cho học sinh khi tham dự đội tuyển HSG môn Địa Lí
Trang 3- Giúp cho bản thân người dạy cũng như đồng nghiệp bổ sung kinh nghiệm dạy học
và ôn luyện bộ môn, góp phần đẩy mạnh phong trào tự học, tự nghiên cứu của giáoviên các môn xã hội nhất là môn Địa lí
- Tăng cường trao đổi học tập kinh nghiệm từ đồng nghiệp cùng đơn vị cũngnhư mong muốn sự đóng góp kinh nghiệm để đồng nghiệp, góp ý kiến nhằm nângcao chuyên môn và khả năng tự học, tự đào tạo thực hiện phương châm học thườngxuyên, học suốt đời
- Khích lệ cổ vũ phong trào học tập của học sinh trong đội tuyển, tạo tiền đềcho bồi dưỡng các đội tuyển cấp THPT
2.1 Giải pháp cũ thường làm
2.1.1 Nội dung của giải pháp
Trước đây, việc bồi dưỡng học sinh giỏi chủ yếu theo phương pháp truyềnthống, hoạt động “dạy” là trung tâm, giáo viên giữ vai trò là người truyền thụ kiếnthức, hoạ trò là người thụ động tiếp thu kiến thức theo sự giảng giải của giáo viên.Cấu trúc một chủ đề ôn luyện là sự sắp xếp một cách công thức, cứng nhắc, chi tiếtnhững việc làm của giáo viên và học sinh theo một trình tự nhất định Nội dung củagiáo án bồi dưỡng được giáo viên trích dẫn hay giảng giải từ những nội dung gợi ý,tìm hiểu trong SGK Người giáo viên tuân thủ SGK một cách cứng nhắc, coi đó làtài liệu tối quan trọng trong quá trình ôn luyện
Các phương ôn luyện mà trước đây giáo viên thường áp dụng trong quátrình bồi dưỡng:
- Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
Giáo viên thường sử dụng để trình bày, giải thích nội dung bài học một cáchchi tiết, dễ hiểu cho hoạc sinh tiếp thu Đối với học sinh qua nghe giảng giải thìhiểu được vấn đề Giáo viên thường sử dụng giửi pháp này khi tiến hành các nộidung các kiến thức cần nhớ trong bài học
- Làm việc với sách giáo khoa
Đây là phương pháp giáo viên sử dụng SGK làm tư liệu duy nhất để cho học sinh ôn tập Hệ thống câu hỏi, bài tập được lần lượt khai thác, giải quyết theo chủ định của người viết sách
- Phương pháp đàm thoại ( vấn đáp)
Đây là PP, giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, nhằm gợi mở cho họcsinh sáng tỏ những vấn đề mới, tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện
Trang 4những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích luỹ trong cuộc sống, nhằmgiúp học sinh cunr cố, mở rộng, đào sâu, tổng hợp, hệ thống hoá những tri thức đãtiếp cận được nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá, giúp học sinh tự kiểm tra việc lĩnhhội tri thức.
- Dạy học đọc chép
Đây cũng là phương pháp rất phổ biến đối với một số giáo viên trong quátrình ôn luyện Giáo viên đọc cho học sinh chép những nội dung mang tính “ họcthuộc lòng” Trong cách này học sinh tiếp thu một cách hoàn toàn thụ động, mộtchiều
- Dạy theo cách “nhồi nhét”
Đây cũng là hiện tương phổ biến, đặc biệt là đối với những giáo viên khôngchủ động xây dựng được kế hoạch ôn luyện, thời gian ôn luyện Khi sắp đến thờiđiểm diễn ra cuộc thi, giáo viên cho học sinh học tăng cường “ nhồi nhét” càngnhiều càng tốt để đảm bảo hết nội dung trước khi dự thi
- Học sinh học thụ động, thiếu sáng tạo
Với các cách dạy học như trên, học sinh tất nhiên chỉ tiếp thu một cách thụđộng Tính chất thụ động thể hiện, học sinh thiếu hứng thú, học thuuocj lòng, ghinhớ máy móc, mà không biết tìm tòi suy nghĩ sáng tạo
- Học sinh không biết tự học
Học sinh học thụ động thi không biết sáng tạo, không có nhu cầu tự tìmhiểu, nghiên cứu, không biết chủ động nghiên cứu tài liệu, tra cứu thông tin trêninternet, không biết trọng tâm , không biết từ các đã biết suy ra cái chưa biết Chỉcần đề thi thay đổi câu hỏi, học sinh sẽ lúng túng không biết cách trả lời
2.1.2 Nhược điểm của giải pháp cũ
Một số nội dung trong sách giáo khoa đã quá cũ, nhữngsố liệu sử dụng trongSGK hầu như không được cập nhật Mặc dù SGK năm nào cũng được tái bảnnhưng học sinh vẫn phải tiếp cận với những số liệu có từ gần 10 năm trước Có thể
kể ra một vài ví dụ như SGK Địa lý lớp 9 tái bản tháng 3/2016 vẫn ghi dân số nước
ta 79,7 triệu người trong khi từ năm 2014, dân số nước ta đã đạt ngưỡng 96,6 triệungười
Các số liệu của nền kinh tế nước ta trong chương trình Địa lý lớp 9 như nôngnghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp đều từ năm 2002… Atlat Địa lí ViệtNam có thức thời hơn khi cập nhật đến năm 2007 Tức là các số liệu đều cập nhậtcách đây trên 10 năm Khi đưa ra tỉ trọng của các ngành công nghiệp, nông
Trang 5nghiệp lại dùng số liệu cách đây hơn 10 năm làm cho học sinh không thấy được
sự thay đổi về cán cân giữa các ngành, trong đó ngành công nghiệp, dịch vụ ngàymột phát triển mạnh mẽ.Tuy nhiên, SGK hàng năm không thể viết lại hoặc sửachữa thay vào đó các số liệu phù hợp để in mới Để giúp giáo viên và học sinh cóthêm tài liệu, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã biên soạn và xuất bản cuốn “Các
số liệu về kinh tế - xã hội Việt Nam” làm tài liệu tham khảo phục vụ việc giảng dạy
và học tập Địa lí trong nhà trường, đáp ứng thực tiễn giảng dạy Tuy nhiên số liệutrong cuốn này cũng mới chỉ cập nhật đến năm 2014, trong khi các đề thi chọnHSG những năm gần đây đều yêu cầu phân tích dựa trên những số liệu mới hơn
Theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, giáo viên trong quá trình giảng dạy cần phảicập nhật số liệu, bổ sung thêm những nhận định, đánh giá cho phù hợp Hằng năm,trong các lớp tập huấn bồi dưỡng cho giáo viên Địa lí, bên cạnh việc bồi dưỡngnăng lực chuyên môn, sư phạm, Bộ GD&ĐT đều nhấn mạnh về việc cập nhật này.Vấn đề địa lý kinh tế - xã hội có đặc thù riêng là luôn luôn thay đổi, giáo viên cầnphải cập nhật thông tin Đối với giáo viên, khi tham gia bồi dưỡng HSG phần nàybắt buộc phải tham khảo rất nhiều tài liệu từ nhiều phương tiện, phải tự mày mò do
đó mất rất nhiều thời gian và công sức, tốn kém nhiều tiền bạc.Nhưng không phảinơi nào cũng có đủ điều kiện để cập nhật thông tin, hoặc không thể tiếp cận đượcvới nguồn cung cấp số liệu chính thống
Học sinh không chủ động, không biết cách trong việc tra cứu số liệu ở cácnguồn tài liệu khác hây trên các website chính thống
Việc sử dụng, kết hợp giữa lý thuyết và khai thác Átlat rất đơn điệu, khôngbiết cách khai thác hết nội dung thể hiện trên Atlát để đưa vào bài làm
Việc nhận biết, vẽ các dạng biểu đồ, phân tích bảng số liệu, nhận xét, giảithích qua các nguồn thông tin còn hạn chế
2.2 Giải pháp mới cải tiến
Mỗi môn học trong trường THCS có những đặc trưng riêng về phương phápcũng như kỹ năng làm bài Qua thực tiễn bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi lớp 8, 9trường THCS Lai Thành tôi đã rút ra được các bước tiến hành như sau:
2.2.1 Bước 1: Chọn học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi lớp 8, 9
Tuy là bộ mônít được học sinh và phụ huynh quan tâm, song nếu được quyềnchọn lựa như các bộ môn xã hội khác như: Lịch sử, … thì bản thân tôi nhận thấyviệc chọn học sinh yêu thích có năng khiếu học giỏi bộ môn Địa lí dễ dàng hơn Dovậy trong quá trình giảng dạy trên lớp giáo viên cần có phương pháp để thu hút họcsinh bằng cách chấm chữa bài kiểm tra của học sinh, giáo viên bộ môn phải: chuẩn
bị chu đáo bài dạy, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, có hệ thống câu hỏi
Trang 6đưa ra phù hợp với mọi đối tượng nhằm phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạocủa học sinh trong giờ học, nhằm cung cấp kiến thức cơ bản ở mỗi bài học cho họcsinh Đồng thời có những hệ thống câu hỏi nâng cao nhằm phát hiện những họcsinh có năng khiếu học giỏi bộ môn Từ đó tiếp tục bồi dưõng nâng cao kiến thức
để phát triển tài năng sẵn có của học sinh
Tổ chức tốt các giờ học trên lớp, gây hứng thú học tập của bộ môn cho họcsinh trong mỗi giờ học Khi học sinh yêu thích học tập bộ môn sẽ có ý thức thamgia đội tuyển Yêu cầu đối với học sinh đội tuyển như sau:
+ Đối tượng học sinh phải thực sự ham thích học, có ý thức đam mê nghiêncứu, có năng khiếu đặc biệt về khả năng học tập
+ Có những kiến thức địa lý cơ bản, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi.Chính điều này là cốt lõi Nếu được sự dìu dắt chỉ bảo của giáo viên trong quá trìnhbồi dưỡng, các em dễ dàng thắp sáng lên tiềm năng của mình và có những nhạy béntrong việc khám phá từ những khía cạnh sâu sắc của đề thi liên quan đến việc tìmtòi, sáng tạo tư duy địa lý
2.2.2 Bước 2: Khi đã thành lập đội tuyển 8,9 cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra chặt chẽ và động viên đối tượng học sinh tham gia đội tuyển từ các giờ
ở trên lớp đến kiểm tra kĩ năng kiến thức - kĩ năng học bài ở nhà
- Giáo viên cần có sổ nhật ký theo dõi ghi chép đánh giá từng phần cụ thể kếhoạch đã đạt được, mặt mạnh, mặt còn hạn chế của đối tượng đã lựa chọn Từ đó,tìm ra phương pháp ôn phù hợp để tháo gỡ dần những tồn tại hạn chế cho các em
- Giáo viên thường xuyên đánh giá, kiểm tra và có thông báo chi tiết cụ thểbằng việc trả và chấm bài cho học sinh trong đội tuyển
2.2.3 Bước 3: Giáo viên chuẩn bị các nội dung ôn thi cho học sinh theo chuyên đề đã được tập huấn kết hợp với phương pháp khai thác Atlat
Ví dụ: Các chuyên đề có thể ứng dụng cụ thể như:
Chuyên đề 1: Địa hình
Các trang Át lát sử dụng: + Trang 4, 5: Hành chính, hình thể
+Trang 8: Địa chất, khoáng sản
+ Trang 13,14: Các miền tự nhiên
+ Trang 26, 27, 28, 29: Trang các vùng
Cách đọc một khu vực địa hình đồi núi
Trang 7Gợi ý cách đọc:
- Giới hạn
- Độ cao trung bình
- Hướng nghiêng địa hình
- Hướng sơn văn
- Các dạng địa hình chính
- Giá trị kinh tế
Bài tập ứng dụng 1: Dựa vào Atlat hãy phân tích đặc điểm địa hình của Vùng
núi Đông Bắc(Xem phụ lục 1, trang 29)
* Đối với phần đồng bằng nên đọc và so sánh theo các tiêu chí sau:
+Trang 8: Địa chất, khoáng sản
+ Trang 13,14: Các miền tự nhiên
+ Trang 26, 27, 28, 29: Trang các vùng
Dạng 1: Cách phân tích trạm khí hậu
* Giới thiệu khái quát về trạm khí hậu (nằm ở vùng nào, tọa độ, độ cao )
* Chế độ nhiệt:
- Nhiệt độ trung bình năm (minh họa- giải thích)
- Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất (tháng mấy, 0C) giải thích
- Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất (tháng mấy, 0C) giải thích
- Biên độ chênh lệch nhiệt: 0C giải thích
- Số tháng có nhiệt độ trung bình trên 200C (Miền Bắc)
Trang 8- Đường biến trình nhiệt
* Chế độ mưa
- Lượng mưa trung bình năm (minh họa – giải thích)
- Mùa mưa:
+ Thời gian:
+ Tổng lượng mưa chiếm ?%
+ Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng, lượng mưa
- Mùa khô:
+ Thời gian:
+ Tổng lượng mưa chiếm ?%
+ Tháng có lượng mưa ít nhất là tháng, lượng mưa
- Chênh lệch mưa giữa các tháng mùa mưa – mùa khô, tháng mưa lớn nhất – nhỏ nhất
+ Phân tích đặc điểm chế độ nhiệt nước ta
+ Phân tích bản đồ nhiệt độ TB năm, nhiệt độ tháng 1, tháng 7
+ Chứng minh chế độ nhiệt nước ta có sự phân hóa theo chiều Bắc-Nam
Dàn ý
- Khái quát chung
- Đặc điểm chung chế độ nhiệt nước ta
Trang 9+ Phân hóa theo mùa:
Miền Bắc có hai mùa nóng, lạnh (minh họa và giải thích)Miền Nam nhiệt độ cao quanh năm (minh họa và giải thích)+ Phân hóa theo chiều Bắc – Nam
(Phân tích qua nền màu) nhiệt độ trung bình năm, tháng 1, tháng 7, biên độnhiệt, số tháng có nhiệt độ < 200C (minh họa và giải thích)
(Phân tích qua trạm KH) nhiệt độ trung bình năm, tháng 1, tháng 7, biên độnhiệt, số tháng có nhiệt độ < 200C (minh họa và giải thích)
+ Phân hóa Đông – Tây
+ Phân hóa theo độ cao
Cách trình bày và giải thích đặc điểm phân bố dân cư một vùng
- Khái quát vùng: Diện tích, dân số; gồm bao nhiêu tỉnh, thành phố, giới hạn.
- Đặc điểm phân bố
+ Mật độ dân số phổ biến của vùng (so với cả nước, so với vùng khác)
+ Phân bố không đồng đều:
Giữa các khu vực: Nơi đông (mật độ), nơi thưa (mật độ) Trong nội bộ từng khu vực, giữa các tỉnh,giữa thành thị và nông thôn (nếu có)
+ Có sự phân hóa rõ rệt: Những nơi đông nhất, thưa nhất.
- Giải thích: dựa và sự khác biệt của các nhóm nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, ….
Bài tập ứng dụng 4: Dựa vào Atlat kết hợp kiến thức đã học hãy trình bày và
giải thích đặc điểm phân bố dân cư ở Đồng bằng sông Cửu Long(Xem phụ lục 4, trang 36)
Trang 10+ Ngành giao thông vận tải
+ Ngành thông tin liên lạc
+ Ngành du lịch
+ Ngành thương mại
Mồi ngành cho học sinh dựa vào Atlat tìm hiểu các nội dung:
- Điều kiện phát triển
Trang 11ôn phần điều kiện dễ dàng hơn, hình thành được hệ thống kiến thức dễ nhớ, lôgic.
2.2.4 Bước 4: Rèn cho học sinh kỹ năng về xử lí các bảng số liệu, nhận xét và lựa chọn vẽ các biểu đồ thích hợp
2.4.1 Lựa chọn và vẽ biểu đồ
Trong đề thi học sinh giỏi tỉnh môn Địa lý, bài tập về kỹ năng xử lý số liệu
và lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp là nội dung quan trọng Trong nhiều trường hợpcần xử lí số liệu với những tính toán phức tạp, chúng ta phải hướng dẫn học sinh:Trước tiên cần dựa vào số liệu nào? Xử lí chúng ra sao, có chuyển từ số liệu tuyệtđối sang số liệu tương đối không? Vì sao phải như vậy, nếu vẽ biểu đồ hình tròn thìbán kính bao nhiêu
Trong các tài liệu Địa lí, các số liệu nhiều khi còn tập hợp thành các bảng,biểu Việc hướng dẫn học sinh cần chú ý đọc tiêu đề của bảng, biểu, đọc đề mụccủa các cột, đơn vị thời điểm đi kèm số liệu và cả bảng chú giải
Hướng dẫn học sinh chuyển từ bảng số liệu sang biểu đồ Chú ý hướng dẫnhọc sinh bảng số liệu nào thì vẽ với loại biểu đồ nào
Một số biểu đồ cơ bản, thường gặp:
+ Biểu đồ cột ( cột đơn, cột ghép) Khi đề bài yêu cầu thể hiện sự biến động của một đối tượng qua nhiều năm hoặc so sánh các đối tượng khi có cùng đơn vị trong một năm Ví dụ như biểu đồ so sánh dân số, diện tích của 1 số tỉnh, biểu đồ
so sánh sản lượng điện của 1 địa phương qua nhiều năm
Trang 12Biểu đồ cột chồng: Thể hiện tốt nhất quy mô và cơ cấu của đối tượng (theo tỷ lệ %
tuyệt đối)
Trang 13+ Biểu đồ hình cột hoặc thanh ngang: Được sử dụng để biểu hiện động thái phát triển so sánh tương quan về độ lớn các đại lượng (Nhưng cũng có khi thể hiện
cơ cấu thành phần của một tổng thể)
Trang 14+ Biểu đồ hình tròn : Thường được sử dụng cơ cấu thành phần của một tổngthể.
Trang 15Cơ cấu doanh thu du lịch lữ hành phân theo thành phần kinh tế của nước ta năm
Trang 16+ Biểu đồ miền: Được biểu hiện cơ cấu (từ 4 năm trở lên) hoặc động thái phát triển
của các đối tượng địa lý
Ví dụ: Bảng 2 Số liệu về diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng năm và
cây công nghiệp lâu năm của nước ta qua các năm (đơn vị: nghìn ha)