Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém”. Công tác quản lý cán bộ có nhiều nội dung, trong đó đánh giá cán bộ là khâu khó và nhạy cảm nhất, ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, mối quan hệ,…của cán bộ và có tính quyết định các khâu khác trong công tác cán bộ. Để bố trí, sử dụng cán bộ có hiệu quả, phát huy hết năng lực, sở trường thì công tác đánh giá cán bộ là việc cực kỳ quan trọng. Đánh giá cán bộ chính xác là cơ sở cho việc bố trí, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, mỗi lần xem xét lại nhân lực, một mặt tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác sẽ tìm ra những cán bộ thiếu năng lực và tư cách... Công tác cán bộ cũng được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ và nhấn mạnh tiếp tục đẩy mạnh thực hiện: “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; thể chế hóa, cụ thể hóa các nguyên tắc về xây dựng Đảng; tiếp tục ban hành và thực hiện các quy chế, quy định trong công tác cán bộ bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và chặt chẽ giữa các khâu, liên thông giữa các cấp; có quy chế về đánh giá đúng đắn, khách quan đối với cán bộ, để có cơ sở sử dụng, bố trí cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy tuổi, chạy bằng cấp..... Công tác cán bộ bao gồm các khâu như: Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển.... Trong các khâu trên của công tác cán bộ thì khâu đánh giá cán bộ là cơ sở của tất cả các khâu trong công tác cán bộ. Công tác đánh giá cán bộ không chỉ căn cứ vào thành tích cũ, quá trình công tác, trình độ học lực, thành phần lý lịch, mà đã chú trọng hơn về tiêu chuẩn cán bộ, nhất là về phẩm chất chính trị, năng lực, kiến thức, lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao làm thước đo chủ yếu. Tuy nhiên, công tác đánh giá cán bộ vẫn là một khâu rất khó khăn và còn nhiều yếu kém, những yếu kém này đã được chỉ rõ tại Đại hội XII của Đảng. Đồng thời, thực tế đã cho thấy nhiều vụ án đã được đưa ra xét xử có liên quan đến sự yếu kém, sai sót trong công tác đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ.
Trang 1kỳ quan trọng Đánh giá cán bộ chính xác là cơ sở cho việc bố trí, bổ nhiệm, đềbạt cán bộ Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, mỗi lần xem xét lại nhânlực, một mặt tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác sẽ tìm ra những cán bộthiếu năng lực và tư cách
Công tác cán bộ cũng được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của
Đảng chỉ rõ và nhấn mạnh tiếp tục đẩy mạnh thực hiện: “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; thể chế hóa, cụ thể
hóa các nguyên tắc về xây dựng Đảng; tiếp tục ban hành và thực hiện các quychế, quy định trong công tác cán bộ bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và chặtchẽ giữa các khâu, liên thông giữa các cấp; có quy chế về đánh giá đúng đắn,khách quan đối với cán bộ, để có cơ sở sử dụng, bố trí cán bộ, ngăn chặn, đẩylùi tình trạng chạy chức, chạy tuổi, chạy bằng cấp
Công tác cán bộ bao gồm các khâu như: Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng,đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển Trong các khâu trêncủa công tác cán bộ thì khâu đánh giá cán bộ là cơ sở của tất cả các khâu trongcông tác cán bộ Công tác đánh giá cán bộ không chỉ căn cứ vào thành tích cũ,quá trình công tác, trình độ học lực, thành phần lý lịch, mà đã chú trọng hơn vềtiêu chuẩn cán bộ, nhất là về phẩm chất chính trị, năng lực, kiến thức, lấy hiệuquả thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao làm thước đo chủ yếu Tuy nhiên,công tác đánh giá cán bộ vẫn là một khâu rất khó khăn và còn nhiều yếu kém,những yếu kém này đã được chỉ rõ tại Đại hội XII của Đảng Đồng thời, thực tế
đã cho thấy nhiều vụ án đã được đưa ra xét xử có liên quan đến sự yếu kém, saisót trong công tác đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ
Là công chức đang công tác tại UBND xã X Tôi nhận thấy rằng công tácđánh giá cán bộ, công chức tại Đảng ủy, HĐND - UBND xã X trong những nămqua đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tiến bộ, tích cực giúp cho cán bộ, côngchức tại xã X nhận ra được ưu, khuyết điểm của mình Tuy nhiên, bên cạnh đócông tác đánh giá cán bộ, công chức cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế cần được đưa
ra làm rõ để khắc phục Chính vì những lý do trên tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất
Trang 2lượng đánh giá cán bộ, công chức tại Đảng ủy, HĐND - UBND xã X, thành phố Y trong giai đoạn hiện nay”, làm khóa luận tốt nghiệp lớp Trung cấp Lý luận
Chính trị - Hành chính khóa 1 thành phố Y
2 Phạm vi, thời gian nghiên cứu
Phạm vị nghiên cứu: Công tác đánh giá cán bộ là một vấn đề rộng lớn và
quan trọng, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về công tác đánh giá cán bộcủa các cấp Trong phạm vi đề tài này, khóa luận chỉ đi sâu vào nghiên cứucông tác đánh giá cán bộ, công chức tại Đảng ủy, HĐND - UBND xã X, thànhphố Y trong giai đoạn hiện nay
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2015 đến năm 2019.
3 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá lại chất lượng cán bộ, côngchức tại Đảng ủy, HĐND - UBND xã X, thành phố Y, từ đó thấy được nhữngđiểm mạnh cần được duy trì, phát huy Đồng thời chỉ ra những hạn chế, nguyênnhân để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đánhgiá cán bộ, công chức tại Đảng ủy, HĐND - UBND xã góp phần quan trọng để
xã X, thành phố Y hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị được giao
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đưa ra hệ thống các khái niệm về cán bộ, công chức, người lao động ; tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công tác đánh giá cán bộ; nhữngnguyên tắc cơ bản trong công tác đánh giá cán bộ
Khái quát đặc điểm tình hình xã X, thành phố Y; thuận lợi và khó khăntrong công tác đánh giá cán bộ, công chức tại Đảng ủy, HĐND - UBND xã X,thành phố Y Đánh giá thực trạng công tác đánh giá cán bộ, công chức trongthời gian qua tại xã X, thành phố Y Từ đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu đểgóp phần nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ, công chức tại Đảng
ủy, HĐND - UBND xã X, thành phố Y thời gian tiếp theo
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duyvật lịch sử, đồng thời còn sử dụng phương pháp lý luận gắn với thực tiễn, logiclịch sử, phân tích tổng hợp và phương pháp khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn đểrút ra những bài học có tính quy luật về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nóichung và đội ngũ cán bộ chủ chốt hiện nay
B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 31.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm cán bộ
Theo Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12: Cán bộ là công dân ViệtNam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳtrong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
ở Trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấptỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấphuyện), ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là cấp cơ sở); trong biên chế và hưởnglương từ ngân sách Nhà nước
1.1.2 Khái niệm công chức
Theo Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12: Công chức là công dân ViệtNam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quancủa Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội từ trung ươngđến cơ sở; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân mà không phải là sĩquan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vịthuộc Công an Nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp vàtrong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sảnViệt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sựnghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối vớicông chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lươngđược bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp
luật (Trích Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 có hiệu lực ngày 01/01/2010).
1.1.3 Khái niệm cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn
Theo Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12: Cán bộ xã, phường, thị trấn(sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theonhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bíthư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là côngdân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc
Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Theo nghị định Số: 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ,chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạtđộng không chuyên trách và nghị định Số: 34/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một sốquy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp
xã, ở thôn, tổ dân phố:
Trang 4Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch,Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụngđối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chứcHội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởngQuân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối vớiphường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội
Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo Quyết định phân loại đơn vịhành chính xã, phường, thị trấn Cụ thể như sau: Loại 1: tối đa 23 người; Loại 2: tối
đa 21 người; Loại 3: tối đa 19 người
1.1.4 Tiêu chuẩn cán bộ, công chức
Tiêu chuẩn cán bộ là sự cụ thể hoá những yêu cầu khách quan của đường lối,nhiệm vụ chính trị của Đảng thành những tiêu chí đòi hỏi đội ngũ cán bộ của Đảng vàNhà nước cần phải có Về phẩm chất chính trị đó là lòng trung thành với Tổ quốc vàchủ nghĩa xã hội, là sự nhất trí và quyết tâm thực hiện đường lối, chính sách củaĐảng, là sự vững vàng về lập trường, quan điểm chính trị trước những tình huốngkhó khăn, phức tạp, ở những bước ngoặt của cách mạng; về đạo đức, lối sống, ý thức
tổ chức kỷ luật; về trình độ, nghiệp vụ chuyên môn
Tiêu chuẩn cán bộ được quy định cụ thể tại: Luật cán bộ, công chức số22/2008/QH12; Nghị định Số: 92/2009/NĐ-CP; Nghị định Số: 34/2019/NĐ-CP;Nghị định Số: 112/2011/NĐ-CP và một số Thông tư; Hướng dẫn khác
đề bạt, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ cũngnhư giúp cán bộ phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, tiến bộ không ngừng trongviệc nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và hiệu quả công táccủa cán bộ
Trang 5Các tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức được quy định cụ thể tại Nghị định số56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về đánh giá và phân loại cán bộ, côngchức, viên chức (Nghị định số 56/2015/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành kể từ ngày01/8/2015; được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 27/7/2017 củaChính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP (Nghị định số88/2017/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2017.
1.1.6 Năng lực cán bộ nói chung
Năng lực của cán bộ là năng lực quán triệt tổ chức thực hiện đường lối, chính sáchcủa Đảng, hoàn thành với hiệu quả cao nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó.Người cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm thì tư duy độc lập, ý kiến sắc sảo Xác định rõtầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ trình độ, năng lực vàphẩm chất đáp ứng yêu cầu mới, Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm và banhành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, cần thiết, như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ
ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997);Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tậptrung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và
uy tín, ngang tầm nhiệm vụ (Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018); Hiến pháp năm2013; Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015; Luật Tổchức chính quyền địa phương năm 2015 và nhiều văn bản hướng dẫn, đã tạo cơ sở pháp lý
để từng bước xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ các cấp
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đánh giá cán bộ
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiệnhội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế và đa phương hoá, đa dạng hoá cácquan hệ đối ngoại… Mặt khác, các thế lực thù địch luôn dùng mọi thủ đoạn đểđánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng, vào cương lĩnh, đường lối, vào nguyên tắc
tổ chức của Đảng, vào đội ngũ cán bộ, đảng viên… Do vậy, nhận xét, đánh giá cán
bộ chính xác là vấn đề cấp thiết, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ phát triển, xâydựng Đảng, Nhà nước Việt Nam vững mạnh
Xây dựng đội ngũ cán bộ là một nội dung lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh.Suốt cuộc đời, Người không ngừng chăm lo bồi dưỡng, huấn luyện đội ngũ cán bộcho Đảng đủ đức và tài để phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây
dựng CNXH Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công
Trang 6việc”,“công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, nên trong công tác cán bộ “phải hiểu và đánh giá đúng cán bộ”; “phải trọng nhân tài”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề đánh giá cán bộ,Người cho rằng, để nhận xét được cán bộ tốt thì Đảng phải thường xuyên thực
hành đánh giá cán bộ và phải có phương pháp đánh giá đúng Người viết: “Kinh nghiệm cho ta biết mỗi lần xem xét lại nhân tài, một mặt thì tìm thấy những nhân tài mới, một mặt khác thì những người hủ hoá cũng lòi ra’’ Để việc nhận xét,
đánh giá cán bộ được chính xác, từ đó phát hiện, sử dụng đúng người có đức, cótài, đồng thời ngăn ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng, đề bạt nhữngphần tử cơ hội, bất tài cần phải có nguyên tắc, quy trình, quy chế chặt chẽ bảo đảmcho công tác đánh giá cán bộ đạt độ chính xác cao nên:
Thứ nhất, cần nắm vững quan điểm của Đảng về tiêu chuẩn cán bộ Tiêu
chuẩn cán bộ là sự cụ thể hoá những yêu cầu khách quan của đường lối, nhiệm vụchính trị của Đảng thành những tiêu chí đòi hỏi đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhànước cần phải có Về phẩm chất chính trị đó là lòng trung thành với Tổ quốc vàchủ nghĩa xã hội, là sự nhất trí và quyết tâm thực hiện đường lối, chính sách củaĐảng, là sự vững vàng về lập trường, quan điểm chính trị trước những tình huốngkhó khăn, phức tạp, ở những bước ngoặt của cách mạng Năng lực của cán bộ lànăng lực quán triệt tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, hoàn thànhvới hiệu quả cao nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó
Đánh giá cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn hoá từng chức danh cán bộ chứ khôngchỉ qua lời nói hoặc nhìn vào bằng cấp, học hàm, học vị
Thứ hai, đánh giá cán bộ phải khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát
triển Nguyên tắc trên đòi hỏi khi xem xét con người không được phiến diện, chủquan cảm tính, không được định kiến Xem xét con người phải nhìn từ nhiều phía,
từ nhiều sự việc cụ thể và cả một quá trình công tác phấn đấu Vì vậy phải đánhgiá cán bộ một cách toàn diện, tìm ra điểm mạnh để phát huy và hạn chế cái yếucủa cán bộ
Thứ ba, có thái độ đúng, công tâm, vô tư Người lãnh đạo và người làm công
tác cán bộ có tấm lòng trong sáng, vì lợi ích chung của Đảng, của Nhân dân,không vì lợi ích cá nhân, cục bộ thì nhìn người mới rõ
1.3 Quan điểm của Đảng ta về công tác đánh giá cán bộ
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minhluôn quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, có đầy đủ phẩm chất,
Trang 7năng lực và coi đó là vấn đề có tầm quan trọng chiến lược, nhân tố quyết định sựthành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng và sựnghiệp cách mạng Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa; nhiệm vụ chính trị mới rất nặng nề, khó khăn và phứctạp, đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ ngang tầm, góp phầnthực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hộichủ nghĩa.
Trong công tác cán bộ phải thể chế hóa thành các quy chế, quy trình, nhằmđảm bảo thống nhất nhận thức và cách tiến hành các hoạt động công tác cán bộtrong phạm vi toàn quốc Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của côngtác cán bộ, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động, có tầm nhìn xa,đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài Cần làm tốt việc phát hiện, lựa chọn,rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo Cần làm tốt côngtác đánh giá cán bộ hằng năm, trước hoặc sau kết thúc nhiệm kỳ, chuyển công tác,căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ, hiệu quả công việc thực tế, có tính đến môi trường,điều kiện công tác, mức độ tín nhiệm của Nhân dân
Quán triệt và nghiêm túc thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ.
Xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng,khâu trọng yếu trong quy trình lãnh đạo của Đảng Đảng phải xây dựng đội ngũcho các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội Đại hội XII của Đảng chỉ
rõ: “Quán triệt và nghiêm túc thực hiện quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ” Vì thế, Đảng phải trực tiếp nắm vấn đề cán bộ, từ việc định ra
đường lối, chính sách cán bộ đến việc quyết định bố trí cán bộ lãnh đạo chủ chốttrong các cơ quan Nhà nước và đoàn thể Nhân dân, chuẩn bị cán bộ cho cả hệthống chính trị, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; thông qua các tổ chức đảng
để thực hiện đường lối, chính sách cán bộ Đảng phân công, phân cấp quản lý cán
bộ cho các cấp ủy và các tổ chức đảng, đồng thời thường xuyên kiểm tra việc thựchiện công tác cán bộ của các ngành, các cấp, coi đây là một việc quan trọng bậcnhất của lãnh đạo
Phòng hành và thực hiện nghiêm các quy định, quy chế, cơ chế về cán bộ và công tác cán bộ.
Trang 8Chủ trương, nguyên tắc, quan điểm, giải pháp về công tác cán bộ phải đượcthể chế, cụ thể hóa bằng quy chế, quy định, quy trình bảo đảm dân chủ, chặt chẽ.Đẩy mạnh dân chủ hóa công tác cán bộ, quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền củamỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ công chức, viên chức; hoàn thiệntiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi công vụ; xácđịnh rõ trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu cơ quan, đơn vị Đại hội XII
chỉ rõ: “Tiếp tục Phòng hành và thực hiện các quy định, quy chế, cơ chế trong công tác cán bộ bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và chặt chẽ giữa các khâu, liên thông giữa các cấp; trong đó có quy chế về việc đánh giá đúng đắn, khách quan đối với cán bộ, để có cơ sở sử dụng, bố trí cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy tuổi, chạy bằng cấp ”.
Phải xây dựng cho được tiêu chí để đánh giá cán bộ Hàng năm, trước khi kếtthúc nhiệm kỳ hoặc chuyển công tác, căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ, hiệu quả côngviệc thực tế và sự tín nhiệm của Nhân dân mà có đánh giá khách quan trên cơ sởđảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình củacán bộ
Việc tuyển chọn cán bộ phải thực hiện dân chủ, công khai, bảo đảm tuyểnchọn đúng những người có đủ tiêu chuẩn theo từng chức danh Những năm qua,một số bộ, ngành, cơ quan, đơn vị đã tổ chức thi tuyển chức danh lãnh đạo Việcthi tuyển này đã đem lại hiệu quả tích cực Đây là vấn đề cần tiếp tục được nghiêncứu để tổ chức thực hiện
Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược,
đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ.
Đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ chiến lược nói riêng là lực lượng nòng cốttrong xây dựng, hoạch định đường lối, chính sách; đồng thời là lực lượng chỉ đạo,hướng dẫn và trực tiếp tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước; sau khi có đường lối, chủ trương đúng thì công tác cán bộ và độingũ cán bộ giữ vai trò quyết định Bởi vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ chiến lược có
số lượng, chất lượng, cơ cấu phù hợp, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm
vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng là vấn đề có ý nghĩa, tầm quan trọng đặcbiệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Xây dựng, hoàn thiện, cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản
lý cấp chiến lược làm cơ sở cho việc phát hiện, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo và
bố trí, sử dụng Tạo sự thống nhất cao về nhận thức, hành động của các cấp, ngành
Trang 9và Nhân dân về luân chuyển cán bộ; thực hiện luân chuyển trên cơ sở quy hoạchcán bộ Giải quyết tốt mối quan hệ giữa luân chuyển, điều động và tăng cường cán
bộ Kết hợp hài hòa giữa luân chuyển với ổn định đội ngũ cán bộ Nghiên cứu,hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với cán bộ luân chuyển, tạo điều kiện để cán bộluân chuyển hoàn thành tốt nhiệm vụ
Phát hiện kịp thời các nhân tố mới, có triển vọng, bồi dưỡng và đào tạo hợp lý,không để lãng phí cán bộ, không để chảy máu chất xám, sao cho ngày càng cónhiều cán bộ chiến lược tốt, cán bộ chiến lược giỏi, trung thực, dám nghĩ, dám làm,dám chịu trách nhiệm, có bản lĩnh sáng tạo, đổi mới, bứt phá để phát triển Cải cáchcăn bản chính sách tiền lương, bảo đảm đãi ngộ xứng đáng với cống hiến của mỗingười, tạo cơ hội, môi trường, điều kiện cho cán bộ phát triển
1.4 Sự cần thiết của công tác đánh giá và sử dụng cán bộ
Công tác đánh giá và sử dụng cán bộ hết sức quan trọng bởi lẽ cán bộ có vị tríchủ thể của sự nghiệp cách mạng nước ta do Đảng lãnh đạo Vị trí lãnh đạo, vị trí chủthể của cán bộ là do Đảng, Nhà nước, đoàn thể phân công và quyền lực của cán bộcũng như nhiệm vụ của người cán bộ là do Nhân dân giao cho Cán bộ là lực lượngtinh tuý nhất của xã hội, có vị trí vừa tiên phong vừa là trung tâm của xã hội và có vaitrò cực kỳ quan trọng của hệ thống chính trị nước ta
Trong quá trình xây dựng Đảng, công tác cán bộ là một trong những công tácchiếm vị trí quan trọng hàng đầu, có vai trò quyết định thành công tới toàn bộcông tác xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng Khi nào, nơi nào làm tốt côngtác cán bộ thì khi đó, nơi đó, đơn vị đó sẽ có nhiều thuận lợi và giành được thắnglợi và ngược lại
Thực tế cho chúng ta thấy rằng, rất nhiều cán bộ thoái hóa biến chất, quanliêu, tham nhũng, lãng phí rất nghiêm trọng, làm giảm sút niềm tin của Nhân dânvào Đảng và Nhà nước Và đó là khe hở đồng thời cũng là điểm tựa cho các thếlực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình Chính vì thế sự cầnthiết trong công tác đánh giá và sử dụng cán bộ là hết sức quan trọng trước giaiđoạn phát triển đất nước hiện nay
* Đánh giá cán bộ cần quán triệt bốn nguyên tắc sau:
Một là, nghĩa vụ của cán bộ, công chức;
Hai là, chức trách, nhiệm vụ của cán bộ;
Ba là, tiêu chí đánh giá đối với từng chức danh cán bộ;
Bốn là, môi trường và điều kiện cán bộ thực hiện trong thời gian đánh giá
Trang 10* Những nội dung đánh giá bao gồm:
Mức độ thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao Thể hiện ở khối lượng,chất lượng, tiến độ, hiệu quả của công việc trong từng vị trí, từng thời gian; tinhthần trách nhiệm trong công tác
Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống Nhận thức, tư tưởng chính trị; việcchấp hành chủ trương, đường lối và quy chế, quy định của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước Việc giữ gìn đạo đức và lối sống lành mạnh; chống quan liêu,tham nhũng, lãng phí và những biểu hiện tiêu cực khác Tinh thần học tập nângcao trình độ; tính trung thực, ý thức tổ chức kỷ luật; tinh thần tự phê bình và phêbình Đoàn kết, quan hệ trong công tác; mối quan hệ, tinh thần và thái độ phục vụNhân dân
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ TẠI ĐẢNG ỦY, HĐND -
UBND XÃ X, THÀNH PHỐ Y GIAI ĐOẠN 2015 - 2019
2.1 Khái quát đặc điểm tình hình chung
San Thàng là một trong 07 đơn vị xã, phường của thành phố Y, có tổng diệntích đất tự nhiên là: 2.375,49ha Tổng dân số là 1.185 hộ với 4.800 nhân khẩu, với 5
Trang 11dân tộc cùng sinh sống, trong đó: Dân tộc Kinh: chiếm 49% Dân tộc Giáy: chiếm48% Còn lại là các dân tộc khác: chiếm 3% Nhân dân các dân tộc trên địa bàn xãchủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, chiếm tới trên 70% dân số; thươngmại, dịch vụ chiếm 21%; Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 9% Toàn xã có 21 hộnghèo chiếm tỷ lệ 1,7%; 11 hộ cận nghèo chiếm tỷ lệ 0,9%; thu nhập bình quân đầungười đạt trên 40 triệu đồng/người/năm.
Đảng bộ xã có 199 đảng viên, sinh hoạt ở 14 chi bộ; trong đó có 09 chi bộ nôngthôn bản, 03 chi bộ trường học, 1 chi bộ y tế và 1 chi bộ Công an Ủy viên BCHĐảng bộ xã có 14 đ/c; Ban Thường vụ Đảng ủy 5 đ/c Năm 2019 xã X có 21 cán bộ,công chức Giới tính: Nam 12 đồng chí chiếm 57,1%; Nữ 9 đồng chí chiếm42,9% Thàn phần dân tộc: Kinh 15 đồng chí chiếm 71,4%; dân tộc Giấy 5 đồngchí chiếm 23,8%; dân tộc Mông 01 đồng chí chiếm 4,8% Cán bộ: 10 đồng chí;Công chức: 11 đồng chí
Trình độ chuyên môn: Đại học 19 đồng chí; Trung cấp 01 đồng chí và 01đồng chí chưa qua đào tạo Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 01 đồng chí, Trungcấp 12 đồng chí; sơ cấp 07 đồng chí; 01 đồng chí chưa qua đào tạo
2.2 Thuận lợi, khó khăn
2.2.1 Thuận lợi
Xã X luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh và củaThành uỷ, HĐND - UBND thành phố Y; đặc biệt trong những năm qua tỉnh vàthành phố đã có nhiều chương trình, kế hoạch cụ thể, thiết thực góp phần pháttriển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã X
Đồng bào các dân tộc trên địa bàn xã X có truyền thống đoàn kết hăng háithi đua lao động sản xuất, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chấphành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.Đây là yếu tố quan trọng để Đảng ủy, HĐND – UBND và Nhân dân các dântộc trên địa bàn xã thực hiện tốt các Chỉ thị, Nghị quyết các cấp góp phần pháttriển kinh tế - xã hội của xã trong giai đoạn hiện nay
Cán bộ, công chức tại Đảng ủy, HĐND – UBND xã đa số được đào tạo cơbản về chuyên môn, tận tình với công việc được giao, không ngừng học hỏi nâng caotrình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu công việc trong tình hình mới
2.2.2 Khó khăn
Trang 12X là một xã khó khăn nhất trong các xã, phường trên địa bàn thành phố Y;diện tích rộng, dân số phân tán phần nào gây khó khăn trong công tác quản lý.Đời sống của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí Đội ngũ cán bộ, công chức đa số còn trẻ, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều,năng lực tham mưu ở một số lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu nên đã ảnh hưởngphần nào tới việc thực hiện nhiệm vụ.
2.3 Kết quả đạt được trong công tác đánh giá cán bộ tại Đảng ủy, HĐND
- UBND xã X, thành phố Y giai đoạn 2015 - 2019
2.3.1 Xây dựng quy chế, tiêu chuẩn đánh giá cán bộ
Trong những năm qua, công tác đánh giá cán bộ luôn được Đảng ủy xã quantâm, nâng dần chất lượng, hiệu quả Từ khi có Quyết định số 286-QĐ/TW, ngày08/02/2010 của Bộ Chính trị; Nghị định số: 56/2015/NĐ-CP, ngày 09/6/2015 củaChính phủ và các văn bản hướng dẫn của tỉnh, thành phố về đánh giá và phân loạicán bộ, công chức, viên chức hằng năm Trong đó, đã chú trọng lấy tiêu chí đánhgiá về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chất lượng, hiệu quả, trách nhiệmcông việc và ý thức tổ chức kỷ luật làm căn cứ chủ yếu để đánh giá
Quy trình đánh giá là một chuỗi liên tiếp các hoạt động có liên quan mật thiết,hữu cơ, khoa học với nhau nhằm tạo ra kết quả đánh giá trung thực, khách quan TạiĐảng ủy, HĐND - UBND xã X việc nhận xét đánh giá cán bộ được thực hiệnnghiêm túc, công khai, dân chủ, trên cơ sở kết quả công tác và đạo đức lối sốngcủa từng cán bộ, công chức Đảng ủy xã căn cứ nhận xét cho mỗi cá nhân, nhằmchỉ rõ ưu, nhược điểm trong từng lĩnh vực để cán bộ, công chức căn cứ đề ra giảipháp khắc phục và phương hướng công tác trong thời gian tới
Căn cứ vào các quy định của Bộ Chính trị, Chính phủ, của tỉnh, thành phố Y.Đảng ủy xã X đã từng bước vận dụng các nguyên tắc, nội dung đánh giá cán bộ,công chức đảm bảo theo đúng các tiêu chuẩn quy định Theo đó đã quy định rõtiêu chuẩn chung chức danh cũng như những tiêu chuẩn cụ thể đối với từng chứcdanh lãnh đạo; quy định về các nhóm tiêu chí đánh giá cán bộ: về chính trị tưtưởng, đạo đức lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong, lề lối làm việc và vềchức trách nhiệm vụ được giao; quy định về tiêu chí xếp loại, thẩm quyền, phươngpháp, quy trình và thời hạn đánh giá cán bộ Nhờ vậy mà việc đánh giá cán bộ đã
đi vào nền nếp
2.3.2 Về chính trị tư tưởng
Hầu hết cán bộ, công chức tại Đảng ủy, HĐND – UBND xã X, thành phố Ytrung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, lợi ích của quốc gia, dân tộc và Nhân