1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và điều trị bệnh cho gà lai chọi nuôi tại trại gà lê thành sự tại xã đỗ sơn, huyện thanh ba, tỉnh phú thọ

56 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có được kết quả này ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự động viên, hướng dẫn chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu của các thầy giáo,

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÒ VĂN LONG

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG

VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH CHO GÀ LAI CHỌI NUÔI TẠI TRẠI GÀ

LÊ THÀNH SỰ XÃ ĐỖ SƠN, HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2021

Thái Nguyên - năm 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÒ VĂN LONG

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG

VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH CHO GÀ LAI CHỌI NUÔI TẠI TRẠI GÀ

LÊ THÀNH SỰ XÃ ĐỖ SƠN, HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp Đại học là một học phần cần thiết và rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường, nhằm rèn luyện về kỹ năng, tay nghề, áp dụng được những kiến thức lý thuyết đã học trên lớp vào trau dồi thêm kinh nghiệm vào thự tế cho công việc sau này

Sau một thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em

đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này ngoài

sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự động viên, hướng dẫn chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Thông qua khóa luận này, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn tới: Ban giám hiệu và toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là thầy giáo PGS TS Đặng Xuân Bình

đã luôn động viên giúp đỡ, chỉ bảo tận tình, chia sẻ ý kiến quý báu cho em trong suốt quá trình thực hiện và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này

Em xin trân trọng cảm ơn anh Nguyễn Xuân Cường - Công ty CP thuốc Thú y Agriviet đơn vị liên kết với trang trại gà khu 5, xã Đỗ Sơn, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, anh Lê Thành Sự chủ trại, cùng toàn thể nhân viên trại đã tạo điều kiện và giúp đỡ em thực tập và rèn luyện tại cơ sở

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè trong suốt khóa học

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021

Sinh viên

Lò Văn Long

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Mỗi sinh viên khi ra trường đều mong muốn mình sẽ trở thành một kỹ

sư, bác sỹ thú y giỏi có tay nghề cao, được xã hội chấp nhận Để làm được điều đó sinh viên khi ra trường cần trang bị cho mình một vốn kiến thức khoa học, chuyên môn vững vàng và sự hiểu biết xã hội Do vậy, thực tập tốt nghiệp là việc hết sức quan trọng giúp sinh viên củng cố lại kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, tiếp cận và làm quen với công việc Qua đó sinh viên sẽ nâng cao trình độ, khả năng áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc khoa học, có tính sáng tạo để ra trường phải là một cán bộ vững vàng về lý thuyết, giỏi về tay nghề, có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của sản xuất góp phần vào sự phát triển của đất nước

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS TS Đặng Xuân Bình, và sự tiếp nhận, tạo điều kiện của Công ty CP thuốc Thú y

Agriviet, trang trại gà Lê Thành Sự em đã thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và điều trị bệnh cho gà Lai Chọi nuôi tại trại gà Lê Thành Sự tại xã Đỗ Sơn, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ”

Sau thời gian thực tập tốt nghiệp với tinh thần khẩn trương nghiêm túc nên em đã hoàn thành khóa luận Tuy nhiên, do trình độ có hạn, bước đầu còn

bỡ ngỡ nên khóa luận của em không tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy, cô giáo để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Chế độ ăn cho gà tại trại 28

Bảng 4.2 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho gà tại cơ sở 29

Bảng 4.3 Kết quả việc vệ sinh sát trùng chuồng trại 35

Bảng 4.4 Chuẩn đoán bệnh trong quá trình chăm sóc 35

Bảng 4.5 Quy trình sử dụng vắc xin tại trại và kết quả thực hiện vắc xin trên đàn gà lai chọi (n = 9000) 36

Bảng 4.6 Tỷ lệ nuôi sống gà tại cơ sở 38

Bảng 4.7 Phác đồ điều trị và tỷ lệ khỏi bệnh 39

Bảng 4.8 Kết quả các công tác khác 40

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 4

2.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất của trại 4

2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại 5

2.1.5 Thuận lợi, khó khăn 6

2.2 Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước 7

2.2.1 Cơ sở khoa học 7

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 28

3.1 Đối tượng 28

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28

3.3 Nội dung tiến hành 28

3.4 Phương pháp tiến hành và các chỉ tiêu theo dõi 28

Trang 8

3.4.1 Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin 28

3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 29

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 29

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng 30

4.1.1 Quy trình chăm sóc 30

4.1.2 Kết quả quy trình thực hiện quy trình phòng bệnh và sử dụng vắc xin tại trại 32

4.1.3 Chẩn đoán bệnh 34

4.1.4 Phòng bệnh và sử dụng vắc xin tại trại 35

4.1.5 Kết quả thực hiện quy trình sản xuất 38

4.1.6 Kết quả điều trị trên đàn gà Chọi 39

4.2 Các công tác khác 40

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41

5.1 Kết luận 41

5.2 Đề nghị 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG THỜI GIAN THỰC TẬP

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành chăn nuôi luôn chiếm một vị thế quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh

tế đất nước

Ngành chăn nuôi ở nước ta hiện nay đang rất phát triển, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm Theo số liệu của Tổng cục thống kê (2020): năm 2019 nước ta có khoảng 481,1 triệu gia cầm; tổng đàn gà 382,6 triệu con Ngành chăn nuôi gia cầm phát triển đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao mức thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Mặt khác, ngành chăn nuôi còn cung cấp sản phẩm phụ cho các ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao Đáp ứng nhu cầu ấy đã có nhiều giống gà có khả năng sản xuất thịt, trứng được đưa vào chăn nuôi theo hướng công nghiệp Đặc biệt là các giống gà lông màu có ưu điểm tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, năng suất thịt cao, chất lượng thịt tốt, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng

Gà Lai Chọi là giống gà được lai giữa con bố là gà Chọi và con mẹ là gà Lương Phượng Gà Lai Chọi thích nghi với hầu hết điều kiện các địa phương

ở Việt Nam, con giống khỏe, tỉ lệ nuôi sống cao, tăng trưởng nhanh, điều kiện nuôi dễ, hiệu quả kinh tế cao hơn các giống vật nuôi khác Chất lượng thịt của giống gà Lai Chọi rất ngon, nuôi với trọng lượng vừa phải rất dễ bán

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm

là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh Gia cầm nói chung và gà nói

Trang 10

riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm

như: H5N1, Newcastle,… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng

và chất lượng đàn gà Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp

Xuất phát từ tình hình thực tế, được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp

đỡ của thầy giáo PGS TS Đặng Xuân Bình và của nơi thực tập, em thực hiện

chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và điều trị bệnh cho gà Lai Chọi tại trại gà Lê Thành Sự xã Đỗ Sơn, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích của đề tài

- Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà thịt Lai Chọi

- Chẩn đoán và xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt Lai

Chọi nuôi tại trại gà nhà ông Lê Thành Sự, xã Đỗ Sơn, huyện Thanh Ba, tỉnh

Phú Thọ

- Biết được lịch phòng vắc xin

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá quy trình chăn nuôi tại trại

- Nắm được các đặc điểm sinh lý, dinh dưỡng ở gà thịt

- Hiểu được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà thịt

- Biết cách phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn gà thịt

Trang 11

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Thanh Ba là huyện miền núi tây bắc tỉnh Phú Thọ Huyện Thanh Ba có

26 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 thị trấn huyện lỵ (Thanh Ba) và 25 xã: Thanh Vân, Hanh Cù, Đông Lĩnh, Đồng Xuân, Yển Khê, Vũ Yển, Đại An, Thái Ninh, Năng Yên, Quảng Nạp, Ninh Dân, Yên Nội, Phương Lĩnh, Mạn Lạn, Khải Xuân, Võ Lao, Thanh Xá, Hoàng Cương, Chí Tiên, Đông Thành, Sơn Cương, Thanh Hà, Đỗ Sơn, Đỗ Xuyên và Lương Lỗ

Diện tích toàn huyện 195,0343 km² Dân số 113.402 (1/2020), gồm các dân tộc: Dao, Kinh, Cao Lan

Phía Đông Bắc Thanh Ba giáp huyện Đoan Hùng; phía Tây Bắc giáp huyện Hạ Hòa, Tây Nam giáp huyện Cẩm Khê; phía Nam giáp huyện Tam Nông, Đông Nam giáp thị xã Phú Thọ và huyện Phù Ninh

Thanh Ba có địa hình đồi gò xen kẽ thung lũng tích tụ xâm thực, dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam Trên địa bàn huyện có sông Hồng chảy qua

Trang 12

Tỉnh Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy tỉnh thuộc vùng Đông bắc nhưng do độ cao không lớn nên ngay trong mùa đông thỳ khí hậu cũng không lạnh lắm

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Hầu hết các xã, thị trấn ở Thanh Ba có đường ô tô đến trung tâm Đất đai

ở Thanh Ba thích hợp cho việc trồng rừng, trồng lúa, nấm, rau màu và chăn nuôi gia cầm,…

Trong những năm qua, nền kinh tế của huyện đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, các sản lượng nông nghiệp và chăn nuôi ngày càng tăng Người dân trên địa bàn chủ yếu làm nông nên đây là điều kiện cho ngành nông nghiệp phát triển

Chăn nuôi gia súc, gia cầm được chú trọng, đàn lợn, gia cầm tăng theo hướng sản suất hàng hóa, phát triển mạnh về số lượng và quy mô.Bên cạnh chăn nuôi, huyện đã tiến hành quy hoạch các vùng nuôi trồng thủy sản, lập các dự án nuôi tập trung theo phương pháp bán thâm canh và công nghiệp

Có thể nói, bức tranh kinh tế Thanh Ba trong giai đoạn gần đây đã có những gam màu sáng, hoạt động kinh tế sôi động hơn đã mang lại hơi thở mới trong cuộc sống của người dân nơi đây Đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Thanh Ba được cải thiện rõ rệt nhờ các biện pháp chăm lo đầu

tư cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa giáo dục

2.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất của trại

- Trang trại được xây dựng và hoạt động từ năm 2014 theo thiết kế trại chuồng hở bán chăn thả đến đầu năm 2020 chuồng trại được sửa đổi thành bán kín có hệ thống quạt hút mùi và dàn làm mát bằng hơi nước

- Trại được thiết kế xa khu dân cư, có hàng rào thép gai bao quanh

- Được lắp đặt, trang bị máng ăn treo đổ tay ngoài ra một số chuồng trại

đã được lắp đặt máng ăn tự động , đường ống uống tự động, mỗi dãy chuồng

Trang 13

có từ 40 - 50 máng ăn và 3 đường nước tự động chạy dọc chuồng Nền trại bê tông, trần cách nền chuồng là 2.2m được trần bằng bạt tráng nhôm cách nhiệt

và mái được lợp bằng tấm lợp Fibro xi măng

- Có 3 kho thức ăn xây dựng ở mỗi đầu chuồng, 1 máy phát điện, mỗi chuồng được lắp đặt 4-6 cái quạt hút công nghiệp tùy theo diện tích của chuồng, và một số dụng cụ như bạt, quây úm,…

- Trong mỗi chuồng có 1 nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi

- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan và có hệ thống lọc nước rồi bơm lên bể chứa

- Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha

- Mỗi chuồng được lắp đặt hai camera theo dõi

- Sân trại là nền đất pha cát

- Do chủ trại đang làm Ban chủ nhiệm hợp tác xã chăn nuôi của xã Đỗ Sơn nên đây là mô hình tốt để sinh viên về thực tập và rèn luyện cho bản thân

2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại

Mỗi khu chuồng nuôi trại gà của anh Lê Thành Sự được quy hoạch tổng diện tích khoảng 2.000m², bao gồm 2 dãy chuồng nhốt gà quay mặt vào nhau, rộng 1.000m2 (mỗi chuồng 500m² và nuôi được 5.000 con), khu vực sân chơi

ở giữa 2 chuồng rộng khoảng 1.000m² Phần sân chơi cho gà được che bằng

hệ thống giàn khung thép kiên cố có tuổi thọ cao, nền sân chơi cho gà là nên đất và đất pha cát

- Diện tích trại hơn 20.000 m2

- Gồm 10 chuồng nuôi và khác nhau về diện tích nên mật độ nuôi giữa các chuồng khác nhau, dao động từ 2000 - 9000 gà

- Chuồng 3000 gà có chiều dài 30m, rộng 10m

- Chuồng 5000 gà có chiều dài 50m, rộng 15m

- Chuồng 9000 gà có chiều dài 100m, rộng 15m

Trang 14

- Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây rào bao quanh bằng lưới thép b40

- Đội ngũ quản lý, kỹ thuật, công nhân gồm:

- Trại được xây dựng xa khu dân cư, giao thông thuận tiện

- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc

- Trong đợt thực tập tại cơ sở sinh viên đã được học hỏi kinh nghiệm chăn nuôi và phòng trị một số bệnh thường thấy trên đàn gà thịt

- Sinh viên và công nhân tại trại được bố trí chỗ ở và sinh hoạt theo gia đình chủ trại

- Đội ngũ công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công việc

2.1.5.2 Khó khăn

- Khi mô hình chăn nuôi gà thả vườn phát triển mạnh mẽ và trở thành một nghề chuyên nghiệp với quy mô, số lượng ngày một lớn cũng là lúc các loại dịch bệnh ngày càng phức tạp, khó lường hơn

- Do gà thân nhiệt cao, đang chơi gặp phải trời mưa lạnh, nhiệt độ thay đổi đột ngột nên dễ bị bệnh

- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh không nhỏ tới chăn nuôi của trang trại và các hộ chăn nuôi thuộc hợp tác xã

Trang 15

2.2 Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Cơ sở khoa học

2.2.1.1 Một số đặc điểm của gà Lai Chọi

- Gà Lai Chọi là con lai thương phẩm của gà mái Lương Phượng và gà

trống Chọi của Việt Nam (♂ Chọi x ♀ Lương Phượng)

- Theo Thu Hà (2017) [26] 01 ngày tuổi có màu lông vàng đen hoặc đen

tuyền Gà trưởng thành xuất thịt có màu lông đặc trưng của bố me Mắt đen

sẫm ngoại hình cân đối cử động linh hoạt Tỷ lệ nuôi sống 96 - 98% Khối

lượng trung bình lúc xuất bán 2,3 - 2,6kg

2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà

Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật

có vú Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di

chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm

trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm

Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn

được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với

động vật khác Do đó để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có

hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế

biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn nuôi Việt

Nam, 2001 [9])

* Tiêu hóa ở miệng

Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức

ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ

Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các

tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt

là dịch nhầy Trong nước bọt có chứa một số ít men amilaza nên có ít tác

dụng tiêu hóa

Trang 16

Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt

* Tiêu hóa ở diều

Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực Diều dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn, thức ăn ở diều được thấm ướt, mềm ra trộn kỹ với một phần tinh bột được thủy phân

* Tiêu hóa ở dạ dày

- Tiêu hóa ở dạ dày tuyến

Dạ dày tuyến giống như cái bao túi, gồm 3 lớp: màng nhầy, màng cơ, màng thanh dịch Màng nhầy rất phát triển, ở đây các tuyến tiết ra pepsin và axit muối Vì vậy tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH 3,1 - 4,5 Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohydric, enzim và musin Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric Các

tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên

- Tiêu hóa ở dạ dày cơ

Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau có thành rất dày, có màu đỏ sẫm Dạ dày cơ nằm ở bên trái của gan

Thức ăn được đưa qua đám rối vị giác (lưỡi và cổ) để phân biệt thức ăn (đắng, chua)Thức ăn được thấm ướt nhờ dịch tiết (thực quản và diều) Nước qua diều tới dạ dày tuyến, dạ dày cơ rồi vào ruột Nếu gia cầm đói, thức ăn đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều)

Trang 17

Dưới ảnh hưởng của men amilaza của tuyến nước bọt, tinh bột được đường hóa do quá trình vi sinh vật phân giải ở diều Thời gian thức ăn ở diều phụ thuộc vào khối lượng thức ăn, khối lượng nhỏ thức ăn qua diều 2 - 5 phút còn khối lượng lớn thì vài giờ

Thức ăn qua dạ dày tuyến tương đối nhanh (hầu như không dừng lại ở đây), tại đây có phản ứng axit và dịch vị của dạ dày tuyến tiết ra khoảng 30 phút: gà 11,3 ml còn ở ngỗng là 24 ml ở giờ thứ nhất sau khi ăn dịch vị tiết nhiều hơn

* Tiêu hóa ở ruột

Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm Các men tiêu hoá quan trọng nhất là dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn (Nguồn: The poultry new, 2018)

Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH dao động trong những phần khác nhau của ruột

Dịch ruột là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH là 7,42) với tỷ trọng 1,0076 Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic

và lypolytic và cả men enterokinaza

Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH 7,2 - 7,5) Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCO3 )

Dịch tụy của gia cầm trưởng thành có chứa các men tripsin, amilaza, mantaza, cacbosipeptidaza, invertaza và lipaza

Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác

động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein

phức tạp ra các axit amin Men proteolytic khác là các cacbosipeptidaza được tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này

Trang 18

Các men amilaza và mantaza phân giải các polysacarit đến các monosacarit như glucoza, lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành glyserin và axit béo

Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực Sự phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá

ở màng) Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế bào biểu mô Trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin, monosacarit chuẩn bị cho việc hấp thu

Khả năng tiêu hoá chất xơ của gia cầm rất hạn chế Cũng như ở động vật

có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào để tiêu hoá xơ Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuẩn tiết ra Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như

đà điểu, ngan, ngỗng thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn

2.2.1.3 Đặc điểm sinh lý và giải phẫu cơ quan hô hấp của g

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [13] cho biết: hệ hô hấp của gia cầm gồm: lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi, 9 túi khí

Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ Ở gà, phía ngoài hai

lỗ mũi có “van mũi hoá sừng bất động” và xung quanh lỗ mũi có lông cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước

Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày ấp thứ 7 Xoang mũi ngắn, chia ra 2 phần: phần xương và phần sụn Xoang mũi nằm ở

mỏ trên Xoang mũi là cơ quan thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản, ở

Trang 19

gà thanh quản dưới có hai nếp gấp liên kết, hai nếp gấp đó bị dao động bởi không khí và tạo nên âm thanh

Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn và nhiều vòng hoá xương Số vòng khí quản ở gà là 110 - 120 và hầu hết là sụn, còn ở thuỷ cầm hầu hết đã hoá xương Khí quản tương đối cong queo, thành khí quản được cấu tạo bởi màng nhầy, màng xơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương ngực Mỗi phế quản dài 6 - 7 cm và có đường kính 5 - 6 mm Một ống phế quản nối với lá phổi bên trái, còn một ống nối với lá phổi bên phải Thành phế quản cấu tạo bởi màng nhầy (ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy, màng

xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoài

Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi có màu dạng phế quản Ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp Phổi của gia cầm màu đỏ tươi, cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi

Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống từ trục xương sườn thứ nhất đến mép trước của thận Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi và loài Chức năng chính của phổi là làm nhiệm vụ trao đổi khí

Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí Các túi khí là sự mở rộng và tiếp dài của phế quản Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4 đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng Túi khí đơn là túi khí cổ Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ

Trang 20

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [13] tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định, gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ, ban đêm tần số hô hấp giảm chậm xuống

30 - 40 % Nhiệt độ tăng tần số hô hấp cũng tăng Nếu nhiệt độ tăng tới 370C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/phút Tần số hô hấp ở gà trưởng thành là 25

- 45 lần/phút Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/phút

Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra với

sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính

Vận động của xương sườn đóng vai trò quan trọng trong cử động hô hấp Lúc giãn, không khí xoang ngực giãn và mở rộng làm cho áp lực xoang ngực thấp hơn áp lực bên ngoài, do đó không khí từ ngoài đi vào trong phổi Lúc hít vào, không khí qua phổi vào các nhánh nhỏ và vào các túi khí Lúc thở ra thì ngược lại, không khí đi từ các túi khí đi ra ngoài qua phổi lần thứ hai, vì vậy người ta gọi là cơ chế hô hấp kép Vì phổi gia cầm nhỏ nhưng do không khí tuần hoàn hai lần nên lượng oxygen cung cấp vẫn đảm bảo

Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50% Trong thời gian hoạt động mạnh (bay, chạy, nhảy…) quá trình trao đổi chất tăng lên và mức độ trao đổi khí tăng lên 60 - 100%

Hoạt động của phổi và túi khí của gia cầm bao gồm: khí lưu thông, khí hít vào thêm, khí thở ra thêm Hoạt động của phổi và túi khí nói lên khả năng

hô hấp lớn nhất của gia cầm

Sau khi thở ra thêm, trong phổi vẫn còn một lượng khí nhỏ lưu lại gọi là khí cặn Hoạt động phổi và túi khí của gà tổng cộng là 169 cm3

Một lượng nhỏ khí O2 được hòa tan vào máu và theo máu đến các mô bào, còn phần lớn kết hợp với hemoglobin trong hồng cầu để tạo Oxy -

Trang 21

hemoglobin vận chuyển theo tuần hoàn máu Lượng O2 tối đa kết hợp với hemoglobin gọi là dung lượng O2 máu, dao động trong khoảng 12 - 21 cm3 (Trần Thanh Vân và cs 2015) [13]

2.2.1.4 Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt

Năng lượng: gà có khả năng chuyển hoá năng lượng từ những carbonhydrate đơn giản, một vài carbonhydrate phức tạp như dầu và mỡ, nhưng những carbonhydrate quá phức tạp như cellulose thì gà không thể sử dụng được Mặc dù vậy nhưng gà cũng cần môt lượng cellulose nhất định để làm chất đệm giúp quá trình tiêu hoá được dễ dàng Tỷ lệ chất xơ trong khẩu phần không được vượt quá 4% Nhu cầu về năng lượng cho các mục đích trao đổi rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các quá trình sản xuất Đối với gà nuôi lấy thịt nhu cầu năng lượng thường cao hơn gà đẻ

Protein: đây là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sức sản xuất và chất lượng sản phẩm Người ta cho rằng 20 - 25

% sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi dinh dưỡng protein Gà thịt cần tỉ lệ protein tương đối cao trong khẩu phần để hỗ trợ tăng trưởng nhanh Khối lượng của gà thịt thương phẩm sẽ tăng lên gấp 50 - 55 lần trong

6 tuần sau khi nở Một phần lớn của việc tăng trọng này là tăng trưởng các mô

có nhiều protein

Nước: chính là một thành phần dinh dưỡng quan trọng cho bất kỳ cơ thể sống nào kể cả gia cầm Nước không những là chất dẫn giúp vật hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn mà nước còn giúp cơ thể đào thải độc tố, giúp các tế bào hoạt động khỏe mạnh hơn… Hầu hết các động vật khác kể cả gà sẽ cần một lượng nước khoảng 50ml/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày Khi thời tiết ấm áp, nhu cầu này có tăng lên một chút và tương tự, khi thời tiết lạnh, lượng nước

gà cần sẽ giảm hơn so với bình thường

Trang 22

Khoáng chất: là phần vô cơ trong thành phần thức ăn chăn nuôi gia cầm, thường chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong khẩu phần thức ăn, tuy nhiên khoáng chất có một vai trò vô cùng quan trọng đối với gia cầm

+ Khoáng đa lượng: Ca, P trong cơ thể Ca chiếm 1,3 - 1,8% khối lượng

cơ thể, P chiếm 0,8 - 1% khối lượng cơ thể

+ Khoáng vi lượng: các khoáng vi lượng gồm có đồng, kẽm, sắt, iodine

và selenium cũng rất cần thiết cho sự phát triển của gia cầm

Trong cơ thể vật nuôi và con người khoáng chất có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành các tổ chức trong cơ thể như xương, răng, máu, mô thịt…, một số chất khoáng có vai trò trong quá trình tạo các kênh ion như Na, K… một số khác lại có tác dụng trong việc kích thích sự hoạt động của các enzyme, khoáng chất còn có tác dụng trong việc tham gia hệ thống đệm trong

cơ thể…

2.2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển của gà thịt

- Ảnh hưởng của dòng giống

Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau sẽ có khả năng sinh trưởng khác nhau

Theo tài liệu của Chambers J R (1990) [19] cho biết, thì nhiều gen ảnh hưởng đến sự phát triển của gà Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ

- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông

Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể gà do yếu tố tính biệt quy định trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm

có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn

Trang 23

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia cầm Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng

Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời gian đạt khối lượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống

Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2003) [7], cho biết: Để phát huy được sinh trưởng cần cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân bằng hợp lý giữa protein và năng lượng Ngoài ra, trong thức ăn hỗn hợp cho chúng còn được bổ sung hàng loạt các chế phẩm hoá sinh không mang theo nghĩa dinh dưỡng nhưng có kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng thịt

Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (2002) [3] dinh dưỡng protein trong nuôi dưỡng gia cầm là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng sản phẩm Người ta cho rằng 20 - 25% sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi dinh dưỡng protein

Phạm Công Thiếu (2001) [10], cho biết: ở gia cầm protein chiếm 1/5 khối lượng cơ thể và khoảng 1/7 - 1/8 khối lượng trứng Chính vì vậy, protein

là chất hữu cơ quan trọng nhất mà không có một chất dinh dưỡng nào có thể thay thế được vai trò của nó Trong cơ thể vật nuôi nói chung và gia cầm nói riêng không thể tổng hợp protein từ gluxit hay từ lipit mà bắt buộc phải lấy từ bên ngoài vào qua con đường thức ăn Khi cần thiết protein cũng là nguyên liệu giải phóng năng lượng cho các hoạt động sống của cơ thể (1 gam protein phân giải cho 4,0 kcal năng lượng trao đổi) trong khi gluxit và lipit lại không thể chuyển hóa thành protein được

Trần Tố (2007) [12], nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ khác nhau giữa methionine và lysine trong khẩu phần đến sinh trưởng của gà Broiler Kabir

Trang 24

cho biết đến 10 tuần tuổi lô có tỷ lệ methionine/lysine 40,5% cho sinh trưởng tốt hơn các lô có tỷ lệ này bằng 45,5% và 35,5%

Như vậy, để đạt năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm đặc biệt

là phát huy được tiềm năng di truyền về sinh trưởng, thì những vấn đề căn bản

là lập ra được khẩu phần dinh dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở đảm bảo nhu cầu của gia cầm qua từng giai đoạn Mặt khác, khả năng sinh trưởng còn chịu ảnh hưởng của điều kiện chăm sóc, mùa vụ, khí hậu chuồng nuôi, phương thức chăn nuôi, thú y phòng bệnh

- Ảnh hưởng của môi trường

Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe gia cầm

Nhiệt độ cao làm cho gà ăn ít, sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết Nhiệt

độ thấp gà ăn nhiều nhưng chậm lớn vì tiêu tốn 1 phần năng lượng để tỏa nhiệt giữ ấm cơ thể, dễ mắc nhiều bệnh về hô hấp, tăng tỷ lệ chết gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi

Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì gà rất nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: độ

ẩm, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm

Sinh trưởng của gia súc, gia cầm luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh về tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau

Trang 25

tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc, gia cầm tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn

2.2.1.6 Một số bệnh thường gặp trên gà thịt Lai Chọi

Trong thời gian nuôi dưỡng hàng ngày phải theo dõi tình hình sức khỏe của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều trị kịp thời Trong thời gian nuôi gà thường gặp bệnh như sau:

 Bệnh Bạch lỵ

- Nguyên nhân:

Theo Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung, (2002) [6] Bệnh bạch lỵ do vi

khuẩn gram âm Salmonella gallinarum và Salmonella pullorum gây ra Bệnh

thường gặp phổ biến nhất ở gà con, gà mới nở Mầm bệnh này có thể tồn tại trong đất trong khoảng thời gian khá dài, lên đến 1 năm

Bệnh có 2 con đường lây lan là theo phương thức truyền dọc và truyền ngang Truyền dọc là cách truyền từ mẹ sang trứng truyền ngang là cách thức trực tiếp từ gà khỏe sang gà ốm hoặc qua các vật trung gian như máng ăn, máng uống, chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi…

+ Ở gà lớn: gà thường bị bệnh ở dạng ẩn (mãn tính) Gà biểu hiện gầy yếu, ủ rũ, xù lông, niêm mạc, mào, yếm nhợt nhạt…

- Bệnh tích: ở gà con mổ khám thấy gan, lách bị viêm sưng có màu đỏ, tím ở lách, tim, phổi có các hoại tử

Trang 26

- Phòng bệnh:

+ Nhập giống từ cơ sở gà bố mẹ đảm bảo nguồn gốc

+ Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để tăng sức đề kháng cho gà

+ Thức ăn trên máng phải thường xuyên sàng qua để loại bỏ những phân

gà dính bám vào thức ăn có mang mầm bệnh

+ Giữ gìn vệ sinh chuồng trại để làm giảm nguy cơ lây lan bệnh

+ Dùng dung dịch formol 2 - 5% để sát trùng toàn bộ khu chuồng nuôi

và khu vực xung quanh

- Điều trị:

+ Dùng nofacolipha vào nước hoặc trộn vào thức ăn, vitamin B – complex: 1g/1 lit nước, vitamin C: 1g/1 lít nước Dùng liên tục 3 - 5 ngày + Hoặc dùng thuốc colistin: liều 1g/2 lít nước cho gà uống liên tục trong

4 - 5 ngày

 Bệnh CRD

- Nguyên nhân:

Theo Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung, (2002) [6], Bệnh CRD

Mycoplasma gallisepticum gây ra

Gà 2 - 12 tuần tuổi và gà sắp đẻ dễ bị nhiễm hơn các lứa tuổi khác, thường hay phát bệnh khi trời có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm không khí cao

- Triệu chứng:

+ Thời gian ủ bệnh từ 6 - 21 ngày

+ Gà trưởng thành và gà đẻ: tăng khối lượng chậm, thở khò khè, chảy nước mũi, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng nhưng vẫn duy trì ở mức độ thấp

+ Gà thịt: xảy ra giữa 3 - 8 tuần tuổi với triệu chứng nặng hơn so với các

loại gà khác do kết hợp với các mầm bệnh khác (thường với E.coli) Vì vậy trên gà thịt còn gọi là thể kết hợp E coli-CRD (C - CRD) với các triệu chứng:

âm ran khí quản, chảy nước mũi, ho, sưng mặt, sưng mí mắt, viêm kết mạc

Trang 27

- Phòng bệnh: thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thông thoáng, mật độ hợp lý, nhiệt độ thích hợp, chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, cho uống thuốc để phòng bệnh

- Điều trị:

+ Tilmicosin: liều 0,3ml/lít nước, uống liên tục: 3 - 5 ngày

+ Doxy (50%): liều 25 mg/kg thể trọng, uống liên tục: 3 - 5 ngày

+ Mổ khám thấy nhiều dịch nhầy trong đường hô hấp bổ sung cho uống brom hexine

 Bệnh viêm ruột hoại tử

- Nguyên nhân:

Theo Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (2001) [14], Bệnh do vi khuẩn

Clostridium perfringens type A và type C gây nên Bệnh có thể lây qua đường

tiêu hóa do thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi bị nhiễm vi khuẩn này Ngoài ra, vi khuẩn này cũng có sẵn trong đường ruột của gà Bệnh có thể xảy

ra ở mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu xảy ra ở gà trên 3 tuần tuổi

- Triệu chứng:

+ Gà bệnh thường giảm ăn, chậm lớn, chậm chạp Gà tiêu chảy phân nước có nhiều bọt, xuất hiện phân sống, có khi màu nâu đen, chứa dịch nhầy + Gà nằm gục đầu, xã cánh, không thể đi lại được Tỷ lệ chết có thể lên tới 25% nếu không điều trị kịp thời

- Bệnh tích:

+ Ruột non căng phồng, chứa đầy hơi, bên trong ruột có bọt khí, lớp niêm mạc bề mặt trong ruột thấy sần sùi, chất chứa trong ruột màu nâu xám + Manh tràng sưng phồng, chứa phân sáp, kiểm tra trên bề mặt thấy những nốt sần

+ Gan sưng, sung huyết, xuất hiện hoại tử kéo dài trên bề mặt gan

Trang 28

- Phòng bệnh:

Thực hiện an toàn trong vệ sinh chăn nuôi, sử dụng nguồn nước sạch cho

gà uống Hạn chế thay đổi thức ăn đột ngột Việc kiểm soát tốt bệnh cầu trùng

là cần thiết để phòng bệnh viêm ruột hoại tử

- Điều trị:

+ Dùng enrofloxacin 50%: liều 1g/50 kg thể trọng cho uống 3 - 5 ngày, bổ sung thêm vitamin C với liều 1g/ lít nước cho uống 2 - 3 giờ liên tục 3 - 5 ngày + Hoặc dùng amoxilis với liều 25mg/ kg thể trọng cho uống 3 - 5 ngày

 Bệnh ORT

- Nguyên nhân gây bệnh

Do vi khuẩn có tên Ornithobacterium Rhinotrcheale (ORT) gây nhiễm

+ Chủng ngừa các loại vắc xin đầy đủ cho gà

+ Độ thông thoáng chuồng nuôi tốt, mật độ nuôi phù hợp, nâng cao sức

đề kháng cho gà bằng RTD-Polyvitamin

Ngày đăng: 21/03/2022, 18:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty (2007), Vi sinh vật học, Nxb giáo dục, tr 44, 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật học
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2007
2. Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Xuân Lưu (2006), Một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Hồ, Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật nông nghiệp, 4 (4 + 5): 95 - 99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật nông nghiệp
Tác giả: Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Xuân Lưu
Năm: 2006
3. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (2002), Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi - hệ cao học, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
4. Trần Văn Hòa, Vương Trung Sơn, Đặng Văn Khiêm (2001), 101 câu hỏi thường gặp trong sản xuất nông nghiệp, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: 101 câu hỏi thường gặp trong sản xuất nông nghiệp
Tác giả: Trần Văn Hòa, Vương Trung Sơn, Đặng Văn Khiêm
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001
6. Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung, (2002), Một số bệnh mới do vi khuẩn và Mycoplasma ở gia súc, gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp tr 109 - 129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh mới do vi khuẩn và Mycoplasma ở gia súc, gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp tr 109 - 129
Năm: 2002
7. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2003), Chăn nuôi gia cầm công nghiệp và lông màu thả vườn, Nxb Nghệ An, tr. 20 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm công nghiệp và lông màu thả vườn
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
8. Nguyễn Bá Mùi, Nguyễn Chí Thành, Lê Anh Đức và Nguyễn Bá Hiếu (2012). “Đặc điểm ngoại hình và khả năng cho thịt của gà địa phương lông cằm tại Lục Ngạn, Bắc Giang” chí Khoa học và Phát triển, 10(7):978 - 985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngoại hình và khả năng cho thịt của gà địa phương lông cằm tại Lục Ngạn, Bắc Giang”" chí Khoa học và Phát triển
Tác giả: Nguyễn Bá Mùi, Nguyễn Chí Thành, Lê Anh Đức và Nguyễn Bá Hiếu
Năm: 2012
9. Hội chăn nuôi Việt Nam (2001), Cẩm nang chăn nuôi gia cầm, tập II, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 9 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi gia cầm, tập II
Tác giả: Hội chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
10. Phạm Công Thiếu (2001), Thức ăn và dinh dưỡng gia cầm chăn thả nông hộ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và dinh dưỡng gia cầm chăn thả nông hộ
Tác giả: Phạm Công Thiếu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
11. Nguyễn Hoàng Thịnh, Phạm Kim Đăng, Vũ Thị Thuý Hằng, Hoàng Anh Tuấn và Bùi Hữu Đoàn (2016), “Một số đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của gà nhiều ngón nuôi tại rừng quốc gia Xuân Sơn, huyên Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, 14(1): 9 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của gà nhiều ngón nuôi tại rừng quốc gia Xuân Sơn, huyên Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”, "Tạp chí Khoa học và Phát triển
Tác giả: Nguyễn Hoàng Thịnh, Phạm Kim Đăng, Vũ Thị Thuý Hằng, Hoàng Anh Tuấn và Bùi Hữu Đoàn
Năm: 2016
12. Trần Tố (2007), “Kết quả xác định tỷ lệ protein thực vật tối ưu trong khẩu phần để nuôi gà thả vườn broiler giống Kabir thả vườn Thái Nguyên”, Tạp chí khoa học kỹ thuật chăn nuôi, (số 11/2007), tr. 18 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả xác định tỷ lệ protein thực vật tối ưu trong khẩu phần để nuôi gà thả vườn broiler giống Kabir thả vườn Thái Nguyên”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật chăn nuôi
Tác giả: Trần Tố
Năm: 2007
13. Trần Thanh Vân, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thị Thúy Mỵ (2015), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Trần Thanh Vân, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thị Thúy Mỵ
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2015
14. Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (2001), Bệnh gia cầm, Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia cầm
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 2001
15. Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (2000), Một số bệnh quan trọng ở gà, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở gà
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
16. Brandsch H và Biilchel H, (1978), Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống ở gia cầm, Nguyễn Chí Bảo dịch, Nxb khoa học và kỹ thuật, trang 7, 129-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống ở gia cầm
Tác giả: Brandsch H và Biilchel H
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 1978
17. Orlow P.G.S. (1975), Bệnh gia cầm, Nxb Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia cầm
Tác giả: Orlow P.G.S
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp
Năm: 1975
18. Kolapxki N.A, Paskin P.I (1980), Bệnh cầu trùng ở gia súc gia cầm, (Nguyễn Đình Chí dịch), Nxb Nông Nghiêp.II. Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cầu trùng ở gia súc gia cầm
Tác giả: Kolapxki N.A, Paskin P.I
Nhà XB: Nxb Nông Nghiêp. II. Tài liệu tiếng anh
Năm: 1980
19. Chambers J. R. (1990), Genetic of growth and meat production in chicken, Poultry breeding and genetics, R. D. Cawforded Elsevier Amsterdam – Holland, pp. 627 – 628 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetic of growth and meat production in chicken
Tác giả: Chambers J. R
Năm: 1990
20. Kojima A, Takahashi T, Kijima M, Ogikubo Y, Nishimura M, Nishimura S, Harasawa R, Tamura Y, (1997), Detection of Mycoplasma in avian live virus vắcxin by polymerase chain reaction. Biologicals, 25 : 365 - 371 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Detection of Mycoplasma in avian live virus vắcxin by polymerase chain reaction. Biologicals
Tác giả: Kojima A, Takahashi T, Kijima M, Ogikubo Y, Nishimura M, Nishimura S, Harasawa R, Tamura Y
Năm: 1997
22. Arbor Acers (1993), Broiler feeding and management, Arbor Acers farm, INC, pp. 20-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Broiler feeding and management
Tác giả: Arbor Acers
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm