1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THẢO LUẬN BUỔI 2 GIAO DỊCH DÂN SỰ Môn NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ

32 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tài liệu THẢO LUẬN BUỔI 2 GIAO DỊCH DÂN SỰ Môn NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ, buổi thảo luận THẢO LUẬN BUỔI 2 GIAO DỊCH DÂN SỰ Môn NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ, đề tài THẢO LUẬN BUỔI 2 GIAO DỊCH DÂN SỰ Môn NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ, bài báo cáo THẢO LUẬN BUỔI 2 GIAO DỊCH DÂN SỰ Môn NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ, bài tập nhóm THẢO LUẬN BUỔI 2 GIAO DỊCH DÂN SỰ Môn NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ

Trang 1

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Lớp 133 – CLC46A

THẢO LUẬN BUỔI 2: GIAO DỊCH DÂN SỰ

Môn: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN

VÀ THỪA KẾ

Nhóm 7: Võ Nguyên Tùng

Ngô Nguyễn Hà Yên

Đỗ Lê Hiểu Lam Trần Nguyên Bảo Phương

Võ Hồng Ngọc Diễm Trần Phạm Khánh Duy

Trang 2

 Năng lực pháp luật dân sự của chủ thể trong xác lập giao dịch.

Tóm tắt:

Đây là vụ án tranh chấp hợp động chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai Trong

đó có nguyên đơn là người nước ngoài là ông T và bà H, bị đơn là bà Đ

Ông T và bà H đã mua phần đất của bà Đ với giá 3000 USD và bà Đ có lập giấycho nền thổ cư vào ngày 31/5/2004 Đến 02/6/2004, bà Đ bán cho nguyên đơnphần đất gắn liền với căn nhà mới với giá 4000 USD Vào ngày 16/3/2011, bà Đlàm giấy cam kết thể hiện bà đã bán cho nguyên đơn phần đất diện tích 1.251,8 m2

và bà chỉ đứng tên dùm nguyên đơn, khi nào nguyên đơn về Việt Nam thì bà trả lạinhà và đất Tuy nhiên, giấy cho nền thổ cư vào ngày 31/5/2004 và giấy nhường đấtthổ cư ngày 02/6/2004 lại không được công chứng và không tuân theo quy địnhcủa pháp luật nên không phát sinh hiệu lực hợp đồng Vì ông T và bà H là ngườinước ngoài và không thỏa mãn điều kiện được nêu trong Điều 121 của Luật nhà ởnăm 2005 nên vợ chồng nguyên đơn không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam

Vợ chồng nguyên đơn yêu cầu bà Đ trả lại số tiền tương đương với giá trị nhà vàđất là 550.000.000 đồng nhưng nguyên đơn đã trả cho bà Đ 329.220.000 đồng nên

bà Đ đồng ý trả lại số tiền này Sau đó, bà Đ tự nguyện trả 350.000.000 đồng cho

vợ chồng nguyên đơn Cuối cùng, quyết định của tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Longlà:

- Vô hiệu giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày02/6/2004 và giấy cam kết ngày 16/3/2011 mà các bên đã xác lập do vi phạm điềucấm của pháp luật

- Buộc bà L K Đ hoàn trả cho ông T và bà H số tiền 350.000.000 đồng

So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 có gì khác về điệu kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.

- Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự khác nhau ở chỗ:

+ Theo BLDS năm 2005: “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự”

+ Theo BLDS năm 2015: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân

sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”

 Theo em thì sự thay đổi này giúp nêu rõ điều kiện khi tham gia giao dịch dân sựnhằm tránh gây hiểu lầm Đồng thời, phần “năng lực pháp luật dân sự” được bổsung vào BLDS 2015 để cho thấy ai cũng có thể tham gia giao dịch dân sự, miễn

là có “năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”

Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà

ở tại Việt Nam.

Trang 3

- Dựa trên bản án, ta có thể thấy ông T và bà H là người Việt Nam đã ở nước ngoài

và nhập quốc tịch Mỹ Căn cứ theo Luật Đất đai năm 2003 và điều 121 Luật nhà ởnăm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ởViệt Nam khi thỏa mãn các điều kiện sau:

“Người Việt Nam định cử ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà tại Việt Nam”.

“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn cho phép từ 6 tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng

lẻ hoặc một căn hộ”.

 Vì ông T và bà H không thỏa mãn điều kiện trên nên ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam

Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã

bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?

- Qua bản án trên ta thấy được tòa án tuyên bố vô hiệu giao dịch của ông T và bà H với bà Đ qua đoạn:

+ “Tuy nhiên giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày02/06/2004 được lập giữa nguyên đơn và bị đơn L K Đ xét về hình thức thì tờ chiđất thổ cư và tờ nhường đất thổ cư không tuân theo quy định của pháp luật, khôngđược công chứng, chứng thực theo quy định tại điều 127 của Luật đất đai năm

2003 và Điều 117 của Bộ luật Dân sự nên không phát sinh hiệu lực hợp đồng”

+ “Vô hiệu giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày02/6/2004, giấy cam kết ngày 16/3/2011 mà các bên đã xác lập do vi phạm điềucấm của pháp luật”

+ “Buộc bà L K Đ hoàn trả cho ông J Ph T và bà A TH Ph H số tiền 350.000.000 đồng”

Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể)

về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu.

Theo em thì Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu dựa trên những căn cứ đã nêutrong bản án là hoàn toàn hợp lý vì ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ởViệt Nam Ngoài ra, ông T và bà H đã vi phạm pháp luật, giao dịch này đã từ đầu

đã không hợp pháp nên tòa án buộc phải quyết định vô hiệu giao dịch

 Giao dịch xác lập bởi người không có khả năng nhận thức.

Trang 4

Tóm tắt bản án dân sự Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/07/2013

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất”:

- Theo nguyên đơn Đặng Thị Kim Ánh cho rằng, vào năm 2007, cha của chị là Đặng Hữu Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được Ngày

08/02/2010, mẹ chị là Phạm Thị Hương tự ý bán căn nhà và diện tích đất là 167,3 m2 cho vợ chồng ông Lưu Hoàng Phi Hùng với giá 580.000.000đ

- Ngày 10/08/2010, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa tuyên bố ông Hội mất năng lực hành vi dân sự, ngày 29/10/2010, ông Hội chết Tuy nhiên, theo bị đơn

là bà Phạm Thị Hương thì khi giao dịch mua bán nhà đất diện tích 167,3 m2, đã cóUBND phường 1 chứng thực vào hợp đồng mua bán và bà Hương đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hùng, từ đó xảy ra tranh chấp

- Về phán quyết của Tòa án nhân dân các cấp:

+ Tòa án cấp Sơ thẩm quyết định: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụngđất ngày 08/02/2010

+ Tòa án cấp Phúc thẩm quyết định: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng

+ Chị Ánh (đại diện cho ông Hội) thì cho rằng ông Hội trước đó đã bị mất năng lực hành vi từ năm 2007, nên giao dịch ngày 08/02/2010 không phù hợp với phápluật

Do đó, theo nguyên đơn trong vụ án thì ông Đặng Hữu Hội thực chất đã bị mất năng lực hành vi dân sự do bị tai biến nằm liệt một chỗ từ năm 2007, gia đình đã phải lo chạy thuốc cho ông từ đó Nhưng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005,Điều 22 (tương đương Điều 22 trong Bộ luật Dân sự 2015):

Điều 22 Mất năng lực hành vi dân sự

1 Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận

thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.

Trang 5

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

2 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người

đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.

Tức là phải có tuyên bố của Tòa án theo yêu cầu của người có liên quan thì người đó mới được xem là mất năng lực hành vi dân sự, trong trường hợp của ông Hội thì chưa được xem là người mất năng lực hành vi dân sự sau tuyên bố ngày 07/05/2010, do đó về mặt pháp lý thì giao dịch dân sự ngày 08/02/2010 làhợp pháp

- Tuy nhiên, trong Luật dân sự vẫn luôn tồn tại trường hợp ngoại lệ quy định tại Điều

133, Bộ luật Dân sự 2005 (tương đương với Điều 128, Bộ luật Dân sự 2015):

Điều 133 Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Trong điều luật này thì có 2 chủ thể khác nhau: người có năng lực hành vi dân sự

và người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Đã là người có năng lực hành vi dân sự thì sao có thể cùng là người không thể nhận thức và làm chủ được hành vi? Vì vậy, chủ thể không nhận thức và làm chủ hành vi ở đây không được xem chính xác là “chủ thể”, mà được xem là một sự kiện hoặc điều kiện thì hơn

Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu

không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?

- Xâu chuỗi lại thì theo lý thuyết: ông Hội khi lập giao dịch dân sự ngày

08/02/2010 là trước khi ông bị Tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự, tức là về mặt pháp lý thì lúc ấy ông Hội vẫn bình thường, là người có năng lực hành vi dân sự Nhưng theo lời khai của nguyên đơn thì ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ, nên Tòa án có lẽ đã nhận định lúc này ông Hội đã “không nhận thức

và làm chủ được hành vi của mình”, nên đã ra tuyên bố vô hiệu hợp đồng dân sự ngày 08/02/2010, và tuyên bố của Tòa được cho là hợp lý, vì tuyên bố vô hiệu hợp đồng đã bảo vệ quyền lợi cho ông Hội

Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết.

- Thực tế, trong thực tiễn xét xử cũng đã có trường hợp mất năng lực hành vi dân sự tương tự với ông Hội Xin được nhắc lại trường hợp về năng lực hành vi dân sự

Trang 6

của ông Cường (tên của các người liên quan trong vụ án đã được thay đổi) trong Bản án số 01/2006/DSST ngày 21/02/2006 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái:

+ Ngày mà ông Cường xác lập giao dịch là 20/01/2004

+ Biên bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005, Tổ

chức giám định pháp y đã kết luận ông Cường bị mắc bệnh “loạn thần do sử dụng rượu”

+ Tuy nhiên, Tòa đã cho rằng thời điểm mắc bệnh của ông Cường là trước

ngày 01/01/2004

- Điều đó cho thấy hợp đồng giao dịch dân sự đã được thực hiện trước khi Biên bảnbản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ra đời Do đó về mặt pháp lý thì vàothời điểm ông Cường xác lập giao dịch dân sự là thời điểm ông không bị mấtnăng lực hành vi dân sự Nhưng Tòa án vẫn tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu, câuhỏi là tại sao?

+ Theo phân tích thì có vẻ Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu là do Tòa đã chọn mốc thời gian mà ông Cường thật sự mất năng lực hành vi dân sự (trước ngày 1/1/2004), tuyên bố này cũng được giới phân tích đánh giá là hợp lý vì Tòa án đãbảo vệ quyền lợi của ông Cường

+ Về tố tụng, hoàn toàn thuyết phục khi cho rằng người đại diện hợp pháp của ông Hội là chị Đặng Thị Kim Ánh, vì theo như thỏa thuận chỉ định chị trước đó của ông Hội và người thân, là hoàn toàn đúng với Khoản 1, Điều 142, Bộ luật dân

sự 2005 “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa

người đại diện và người được đại diện” Và do đó chị Ánh là người có quyền khởi

kiện theo quy định tại Điều 130, Bộ luật Dân sự năm 2005

Điều 130 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân

sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.

Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong

vụ việc trên (liên quan đến giao dịch ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa ra hướng xử lý.

- Về nội dung, việc tuyên bố hợp đồng giao dịch vô hiệu toàn phần (phần đất

163,7m2 ), nhưng do Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã không làm rõ được phần đất 43,7m2 đó đã có đăng ký kê khai và có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng những quyền sử dụng đất hay không, mà đã công nhận quyền sử dụng

Trang 7

đất và buộc bà Hương và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm giao lại ngôi nhà gắn liền với 163,7m2 đất là không đúng Cũng hoàn toàn đồng ý với phán quyết của Tòa ở điểm này, bởi vì không làm rõ được diện tích đất mà đương

sự thật sở hữu mà đã đưa ra quyết định công nhận toàn bộ quyền sử dụng đất đối với diện tích đất quá mức cho phép sở hữu Do đó Tòa án đã căn cứ vào Khoản 1,

Điều 299, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 “Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của

Bộ luật này”, Hội đồng giám đốc thẩm đưa ra quyết định hủy bản án dân sự ở cấp

sơ thẩm và cấp phúc thẩm Đây được xem là quy định đúng, bởi vì đương sự trong

vụ án không chỉ có mỗi ông Hội mà là các đương sự khác, do đó việc bảo đảm quyền lợi, lợi ích của các đương sự nên được đưa lên hàng đầu, mặc dù có phải hủy bản án này và thay bằng bản khác đi chăng nữa

Nếu giao dịch tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có bị

vô hiệu không? Vì sao?

- Trong trường hợp tranh chấp mặc dù có lợi cho ông Hội bằng việc tặng cho ông

đi chăng nữa, thì nếu ông Hội còn mất năng lực hành vi dân sự thì giao dịch ấy vẫn vô hiệu, trừ khi ông Hội đã có người đại diện và giao dịch đó được thực hiện thông qua người đại diện đó căn cứ theo Bộ luật Dân sự năm 2005

Điều 130 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.

Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân

sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.

- Đây là quy định rõ ràng là bất lợi cho ông Hội, vì đáng ra quyền lợi của ông phải được đảm bảo như đã nói ở trên Nhưng thay vào đó, các nhà làm luật đã đưa ra

sự đổi mới cho bộ luật dân sự 2015, trong đó:

Điều 125 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành

vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.

1 Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Trang 8

2 Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô

hiệu trong trường hợp sau đây:

a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành

vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

- Các nhà làm luật đã bổ sung thêm điều kiện mới tiến bộ hơn để đảm bảo quyền lợi, lợi ích cho người mất năng lực hành vi dân sự như ông Hội ở Mục a, Khoản 2 trong Điều 125, quy định trường hợp không vô hiệu hợp đồng đối với trường hợp

“Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân

sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó”.

 Giao dịch xác lập do có lừa dối.

Điều 127 BLDS 2015 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằmlàm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giaodịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ balàm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng,sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích củamình

Điều 132 BLDS 2015 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

1 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125,

126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:

a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sựbiết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức

Trang 9

2 Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.

3 Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế

Điều 132 BLDS 2005 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầuToà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm chobên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân

sự nên đã xác lập giao dịch đó

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kiabuộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uytín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình

Điều 136 BLDS 2005 Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

1 Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều

từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự đượcxác lập

2 Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Bộ luật nàythì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế

Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS

2005 và BLDS 2015.

- Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ banhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nộidung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó

- Về điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS

2005 và BLDS 2015 không có sự khác nhau: cả hai bộ luật đều quy định nếu giaodịch mà có sự lừa dối thì bên bị lừa dối có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch

vô hiệu

cung cấp thông tin liên quan đến tài sản trong quá trình xác lập giao

SPOUSES DELFIN O TUMIBAY and AURORA T TUMIBAY-deceased; GRACE JULIE ANN TUMIBAY MANUEL, legal representative, Petitioners,

Trang 10

The Petition for Review on Certiorari 1 assails the May 19, 2005 Decision 2 of the Court of Appeals (CA) in CA-G.R CV No 79029, which reversed the January 6, 2003 Decision 3 of the Regional Trial Court (RTC) of Malaybalay City, Branch 9 in Civil Case No 2759-98, and the February 10,

2006 Resolution 4 denying petitioner-spouses Delfin O Tumibay and Aurora 5 T Tumibay’s Motion for Reconsideration 6

Factual Antecedents

On March 23, 1998, petitioners filed a Complaint 7 for declaration of nullity ab initio of sale, and recovery of ownership and possession of land with the RTC of Malaybalay City The case was raffled to Branch 9 and docketed as Civil Case No 2759-98.

In their Complaint, petitioners alleged that they are the owners of a parcel of land located in Sumpong, Malaybalay, Bukidnon covered by Transfer Certificate of Title (TCT) No T-25334 8

(subject land) in the name of petitioner Aurora; that they are natural born Filipino citizens but petitioner Delfin acquired American citizenship while his wife, petitioner Aurora, remained a Filipino citizen; that petitioner Aurora is the sister of Reynalda Visitacion (Reynalda); 9 that on July 23, 1997, Reynalda sold the subject land to her daughter, Rowena Gay T Visitacion Lopez (respondent Rowena), through a deed of sale 10 for an unconscionable amount of ₱95,000.00 although said property had a market value of more than ₱2,000,000.00; that the subject sale was done without the knowledge and consent of petitioners; and that, for these fraudulent acts, respondents should be held liable for damages Petitioners prayed that (1) the deed of sale dated July 23, 1997 be declared void ab initio, (2) the subject land be reconveyed to petitioners, and (3) respondents be ordered to pay damages.

On May 19, 1998, respondents filed their Answer 11 with counterclaim Respondents averred that

on December 12, 1990, petitioners executed a special power of attorney (SPA) 12 in favor of Reynalda granting the latter the power to offer for sale the subject land; that sometime in 1994, respondent Rowena and petitioners agreed that the former would buy the subject land for the price of ₱800,000.00 to be paid on installment; that on January 25, 1995, respondent Rowena paid in cash to petitioners the sum of $1,000.00; that from 1995 to 1997, respondent Rowena paid the monthly installments thereon as evidenced by money orders; that, in furtherance of the agreement, a deed of sale was executed and the corresponding title was issued in favor of respondent Rowena; that the subject sale was done with the knowledge and consent of the petitioners as evidenced by the receipt of payment by petitioners; and that petitioners should be held liable for damages for filing the subject Complaint in bad faith Respondents prayed that the Complaint be dismissed and that petitioners be ordered to pay damages.

On May 25, 1998, petitioners filed an Answer to Counterclaim 13 Petitioners admitted the existence of the SPA but claimed that Reynalda violated the terms thereof when she (Reynalda) sold the subject land without seeking the approval of petitioners as to the selling price Petitioners also claimed that the monthly payments from 1995 to 1997 were mere deposits as requested by respondent Rowena so that she (Rowena) would not spend the same pending their agreement as to the purchase price; and that Reynalda, acting with evident bad faith, executed the deed of sale in her favor but placed it in the name of her daughter, respondent Rowena, which sale is null and void because an agent cannot purchase for herself the property subject of the agency.

Trang 11

Our Ruling

WHEREFORE, the Petition is GRANTED The May 19, 2005 Decision and February 10, 2006 Resolution of the Court of Appeals in CA-G.R CV No 79029 are ANNULLED and SET ASIDE The January 6, 2003 Decision of the Regional Trial Court of Malaybalay City, Branch 9 in Civil Case No 2759-98 is REINSTATED and MODIFIED to read as follows:

1 The deed of sale dated July 23, 1997 over the subject land, covered by TCT No T-62674, between petitioner Aurora, represented by Reynalda as her attorney-in-fact, and respondent Rowena is declared void.

2 The contract to sell over the subject land, covered by TCT No T-25334, between petitioners,

as sellers, and respondent Rowena, as buyer, is declared rescinded.

3 The Register of Deeds of Malaybalay City is ordered to cancel TCT No T-62674 in the name

of respondent Rowena and to reinstate TCT No T-25334 in the name of petitioner Aurora.

4 Respondent Rowena is ordered to pay petitioners the sum of ₱100,000.00 as moral damages and ₱50,000.00 as attorney’s fees.

5 Petitioners are ordered to pay respondent Rowena the sum of ₱327,442.00 with legal interest

of 6% per annum from May 19, 1998 until finality of this Decision In case petitioners fail to pay the amount due upon finality of this Decision, they shall pay legal interest thereon at the rate of 12% per annum until fully paid.

Tạm dịch đoạn trích:

Cộng Hòa PhilippinesTÒA ÁN TỐI CAO

ManilaPHIÊN TÒA THỨ HAIG.R Số 171692 ngày 3/6/2013

SPOUSES DELFIN O TUMIBAY và AURORA T TUMIBAY-đã mất;

GRACE JULIE ANN TUMIBAY MANUEL, đại diện pháp luật, nguyên đơn,

SPOUSES MELVIN A LOPEZ và ROWENA GAY T VISITACION LOPEZ, bị đơn

QUYẾT ĐỊNHDEL CASTILLO, J.:

Trong hợp đồng mua bán, người bán giữ quyền sở hữu tài sản cho đến khi người mua trả

đủ giá Người mua lén lút chiếm đoạt quyền sở hữu tài sản của người bán trước khi thanhtoán đầy đủ giá là vi phạm hợp đồng và người bán có quyền bị hủy bỏ bởi vì hành vi vi

Trang 12

phạm này là cơ bản và nghiêm trọng vì nó đánh bại chính đối tượng của các bên tronggiao kết hợp đồng để bán.

Đơn Yêu cầu Xem xét lại đưa ra Quyết định ngày 19 tháng 5 năm 2005 của Tòa phúcthẩm (CA) ở CA-G.R CV số 79029, hủy bỏ Quyết định 3 ngày 6 tháng 1 năm 2003 củaTòa án xét xử khu vực (RTC) của Thành phố Malaybalay, Chi nhánh 9 trong Vụ án Dân

sự số 2759-98, và Nghị quyết 4 ngày 10 tháng 2 năm 2006 từ chối đề nghị xem xét lạicủa vợ chồng người khởi kiện Delfin O Tumibay và Aurora

SỰ VIỆC THỰC TẾVào ngày 23/3/1998, những người khởi kiện đã nộp đơn Khiếu nại về việc tuyên bố vôhiệu sau khi bắt đầu bán và thu hồi quyền sở hữu và chiếm hữu đất với RTC của Thànhphố Malaybalay Vụ việc được chuyển sang Chi nhánh 9 và được xếp vào Vụ án Dân sự

số 2759-98 Trong Đơn kiện của họ, những người khởi kiện bị cáo buộc rằng họ là chủ sởhữu của một thửa đất ở Sumpong, Malaybalay, Bukidnon được xác nhận bởi Giấy chứngnhận quyền sở hữu (TCT) số T-253348 (đất chủ thể) dưới tên của người khởi kiệnAurora; rằng họ là công dân gốc Philippines nhưng người khởi kiện Delfin đã nhập quốctịch Mỹ trong khi vợ ông ta, người khởi kiện Aurora, vẫn là công dân Philippines; ngườikhởi kiện Aurora là em gái của Reynalda Visitacion (Reynalda); rằng vào ngày 23 tháng

7 năm 1997, Reynalda đã bán mảnh đất cho con gái của mình, Rowena Gay T VisitacionLopez (bị đơn Rowena), thông qua một chứng thư bán với một số tiền ₱ 95.000,00 mặc

dù tài sản có giá trị thị trường hơn ₱ 2.000.000,00; rằng việc bán đất đã được thực hiện

mà không có sự đồng ý của người khởi kiện; và rằng, đối với những hành vi gian lận này,người trả lời phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Các nguyên đơn đề nghị rằng (1)chứng thư mua bán ngày 23 tháng 7 năm 1997 được tuyên bố vô hiệu, (2) đất đượcchuyển giao lại cho các nguyên đơn, và (3) những người bị đơn được lệnh phải bồithường thiệt hại

PHÁN QUYẾT

Vì vậy, Đơn đề nghị được chứng nhận Quyết định ngày 19 tháng 5 năm 2005 và Nghịquyết ngày 10 tháng 2 năm 2006 của Tòa phúc thẩm ở CA-G.R CV số 79029 Quyếtđịnh ngày 6 tháng 1 năm 2003 của Tòa án xét xử khu vực thành phố Malaybalay, Chinhánh 9 trong Vụ án dân sự số 2759-98 được TÁI THẨM và SỬA ĐỔI như sau:

1 Chứng thư mua bán ngày 23 tháng 7 năm 1997 đối với khu đất chủ thể, được bảo hiểmbởi TCT số T-62674, giữa người khởi kiện Aurora, được đại diện bởi Reynalda với tưcách là luật sư thực tế của cô ấy, và người bị đơn Rowena bị tuyên bố là vô hiệu

Trang 13

2 Hợp đồng bán mảnh đất chủ thể, có tên TCT số T-25334, giữa những người khởi kiện,với tư cách là người bán và bị đơn Rowena, với tư cách là người mua, bị tuyên bố hủybỏ.

3 Cơ quan Đăng ký Công chứng của Thành phố Malaybalay được lệnh hủy bỏ TCT sốT-62674 dưới danh nghĩa của bị đơn Rowena và khôi phục TCT số T-25334 dưới danhnghĩa của người khởi kiện Aurora

4 Bị đơn Rowena được lệnh phải trả cho những người khởi kiện số tiền ₱ 100.000.00 tiền bồi thường thiệt hại về mặt tinh thần và 50.000.00 ₱ phí luật sư

5 Các nguyên đơn phải trả cho bị đơn Rowena số tiền ₱ 327.442,00 với lãi suất hợp pháp

là 6% mỗi năm kể từ ngày 19 tháng 5 năm 1998 cho đến khi Quyết định này có hiệu lực.Trường hợp đến hạn cuối cùng của Quyết định này người khởi kiện không trả thì phải trảlãi hợp pháp 12% / năm cho đến khi trả hết

 Ở nước ngoài cũng có những vụ án có lừa dối trong giao dịch dân sự (ở đây làPhilippines) Trong vụ án trên, người mua đã lén lút chiếm đoạt quyền sở hữu củangười bán nên Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Điều này tương đồng với luậtcủa Việt Nam, Điều 127 BLDS 2015 quy định “Khi một bên tham gia giao dịchdân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên

bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”

Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên vô hiệu do có lừa dối?

- Đoạn “Việc anh Vinh và người liên quan (ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị PhúVân - họ hàng của anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng

về nhà, đất mà các bên thỏa thuận đất đã có Quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù(căn nhà đã có quyết định tháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên khôngđược bồi thường giá trị căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì không có đủ điều kiện

để mua nhà tái định cư theo Quyết định số 135/QĐ-UB ngày 21-11-2008) là có sựgian dối

- Mặt khác, tại bản “Thỏa thuận hoán nhượng" không có chữ ký của ông Đô (chồng

bà Thu) và là người cùng bà Thu bán nhà 115/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp cho

bà Phổ (mẹ của anh Vinh) Do vậy, giao dịch “Thỏa thuận hoán nhượng" giữa anhVinh và bà Thu vô hiệu nên phải áp dụng Điều 132-BLDS để giải quyết." củaphần xét thấy của Quyết định số 521 đã xác định giao dịch "thỏa thuận hoánnhượng" là vô hiệu do có sự lừa dối

Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền lệ anh/chị biết.

- Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ

Căn cứ Bản án số: 16/2018/DSPT ngày: 17-07-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, có nội dung như sau:

Trang 14

Ông Đoăn Văn N vă bă Trần Thị T ly hôn Về tăi sản chung gồm 02 lô đất, đđy lătăi sản chung trong hôn nhđn của hai vợ chồng Tuy nhiín chỉ một mình bă T đứngtín lô đất, bă T lại thế chấp bìa đỏ để vay tiền ngđn hăng trong khi ông N khônghay biết Cơ quan Thi hănh ân đê bân tăi sản chung của ông N vă bă T để thi hănhkhoản nợ mă bă T đê nợ Ông N xâc nhận không vay nợ ngđn hăng vă cũng không

ký thế chấp tăi sản cho ngđn hăng Vì vậy ông N đề nghị Tòa ân tuyín bố hợpđồng thế chấp giữa Bă Trần Thị T với Ngđn hăng Nông nghiệp vă PTNT chinhânh T (nay lă chi nhânh B) vô hiệu vă yíu cầu Ngđn hăng phải có trâch nhiệmtrả lại cho ông N ½ số tiền mă chi cục Thi hănh ân dđn sự thị xê H đê thi hănh choNgđn hăng (cụ thể 150.087.500đ cả gốc vă lêi) vă đề nghị buộc Chi cục Thi hănh

ân thị xê H trả lại số tiền lă 132.933.550 đồng hiện nay đang tạm giữ của ông N

Hướng giải quyết trín có còn phù hợp với BLDS năm 2015 không? Vì sao?

- Hướng giải quyết trín vẫn còn phù hợp với BLDS năm 2015 Bởi vì theo điều 127BLDS 2015 có quy định:

“Khi một bín tham gia giao dịch dđn sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ĩp thì

có quyền yíu cầu Tòa ân tuyín bố giao dịch dđn sự đó lă vô hiệu

- Lừa dối trong giao dịch dđn sự lă hănh vi cố ý của một bín hoặc của người thứ banhằm lăm cho bín kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nộidung của giao dịch dđn sự nín đê xâc lập giao dịch đó

- Đe dọa, cưỡng ĩp trong giao dịch dđn sự lă hănh vi cố ý của một bín hoặc ngườithứ ba lăm cho bín kia buộc phải thực hiện giao dịch dđn sự nhằm trânh thiệt hại

về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhđn phẩm, tăi sản của mình hoặc củangười thđn thích của mình.”

Vă theo Điểm b, Khoản 1, Điều 132 BLDS 2015 có quy định:

b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xâc lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối.

- Như vậy, ta thấy anh Vinh đê giấu bă Thu vă ông Đô về quyết định cưỡng chế nhă

vă không cho vợ chồng ông bă biết nhă vă đất níu trín bị giải tỏa khi ký: “Thỏathuận hoân nhượng” ngăy 20/05/2004, nín ông bă đê ký Vậy hợp đồng năy lă vô hiệu

 Do đó quyết định hủy bỏ bản ân dđn sự phúc thẩm số 810/2008/DS-PT ngăy29/07/2008 của Tòa ân nhđn dđn thănh phố Hồ Chí Minh vă bản ân dđn sự sơthẩm số 15/2008/DS-ST ngăy 10-14/01/2008 của Tòa ân nhđn dđn quận Gò Vấp,thănh phố Hồ Chí Minh về vụ ân “Tranh chấp mua bân nhă” giữa nguyín đơn lẵng Nguyễn Danh Đô, bă Phạm Thị Thu với bị đơn lă bă Trần Thị Phố, anhNguyễn Thế Vinh lă hợp lý

Trong Quyết định số 210, theo Tòa ân, ai được yíu cầu vă ai không được yíu cầu Tòa ân tuyín bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu?

- Theo Quyết định số 210 ngăy 21/5/2013 của Tòa ân thì:

Nếu khởi kiện yíu cầu tuyín bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữaông Dưỡng vă ông Tăi vô hiệu do bị lừa dối thì theo quy định tại điều 132 BLDS

Trang 15

2005: bên tham gia giao dịch do bị lừa dối có quyền yêu cầu Tòa án tuyên giaodịch vô hiệu Tức là trong trường hợp này ông Thi là một bên tham gia giao dịch

bị lừa dối có quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối còn bà Nhấtkhông có quyền

Bà Nhất chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền

sử dụng đất giữa ông Dưỡng và ông Tài vô hiệu vì lý do nội dung giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật: Theo điều 28 luật Hôn nhân và gia đình thì việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng phải có sự đồng ý của cả vợ, chồng nhưng ông Dưỡng tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng

 Trong tình huống trên, thời điểm xác lập giao dịch dân sự giữa ông Tài và ôngDưỡng là 2003 tới thời điểm 2010 thì đã là 7 năm cho nên thời hiệu khởi kiệnkhông còn (đã kết thúc năm 2005)

Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng không? Vì sao?

- Theo điều 136 BLDS 2005 không quy định hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bốgiao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối thì giao dịch được công nhận Tuy nhiên,theo khoản 2 điều 132 BLDS 2015 thì hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên giaodịch vô hiệu do bị lừa dối mà không có yêu cầu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.Đây cũng chính là điểm mới của BLDS 2015 nhằm khắc phục những bất cập, lỗhổng của BLDS 2005

Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nêu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210?

- Nếu trong vụ án này áp dụng các quy định của BLDS năm 2015 sẽ có hướng xử lýnhư sau:

+ Về quyền khởi kiện cũng giống như BLDS năm 2005

+ Về thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu do bị lừa dốicũng là 2 năm nhưng khác ở thời điểm bắt đầu tính thời hiệu: Theo điều 136BLDS 2005 thì thời hiệu yêu cầu là 2 năm kể từ ngày xác lập giao dịch; còn theođiều 132 BLDS 2015 thì thời hiệu yêu cầu là 2 năm tính từ ngày người bị lừa dốibiết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị lừa dối

+ Theo khoản 2 điều 132 BLDS 2015 thì nếu hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên

bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối thì giao dịch có hiệu lực

Trang 16

 Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu.

Giao dịch dân sự vô hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các

bên không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên

- Căn cứ pháp lý: Khoản 1 điều 131 BLDS 2015 quy định: “Giao dịch dân sự vô hiệu

không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên

kể từ thời điểm giao dịch được xác lập”

Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ

có phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện không? Vì sao?

- Trên cơ sở của BLDS, khi đã xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện Vì:

+ Căn cứ vào quy định ở Khoản 2 điều 131 BLDS 2015: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả’’ Do đó trong trường hợp hợp đồng vô

hiệu mà Công ty Phú Mỹ không thanh toán thì trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa hai bên đương sự sẽ xuất hiện những bất cập lớn Trường hợp bên sử dụng hợp đồng vận dụng pháp luật để tìm cách làm cho hợp đồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ phải thanh toán của mình

+ Ngoài ra, tại Khoản 2, Điều 4 trong hợp đồng dịch vụ cũng có quy

định: “Khách hàng hoàn thành việc kiểm tra trong 10 ngày kể từ ngày bàn giao thì việc kiếm ra coi như là đã thông qua.".

Trong thực tế, vào ngày 20/9/2017, Công ty Orange đã hoàn tất và bàn giaocho công ty Phú Mỹ CD và bộ bản vẽ chi tiết của dự án theo đúng tiến độ

và khối lượng công việc như đã cam kết trong hợp đồng Theo như hợp đồng có quy định thì công ty Phú Mỹ có nghĩa vụ phải kiểm tra và thông báo kết quả kiểm tra sản phẩm do công ty Orange thực hiện trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận bàn giao Tuy nhiên Công ty Phú Mỹ đã không đưa

ra bất cứ phản hồi nào liên quan đến CD và bộ bản vẽ chi tiết của Dự án do Công ty Orange thực hiện Như vậy, có thể kết luận được rằng Công ty Phú

Mỹ đã chấp nhận sản phẩm của công ty Orange mà không có phàn nàn gì

Do đó, Công ty Orange đã được xem là đã hoàn thành công việc theo hợp đồng và Công ty Phú Mỹ cũng đã sử dụng toàn bộ bản vẽ chi tiết của dự án

do công ty Orange thực hiện để xin Giấy phép xây dựng và tiến hành xây dựng trên thực tế

Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về với khối lượng công việc

mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào?

Ngày đăng: 21/03/2022, 09:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w