- Xét về góc nhìn của các đương sự: + Bà Hương và ông Hùng cho rằng Tòa án tuyên bố ông Hội bị mất năng lực hành vi dân sự sau khi lập hợp đồng giao dịch 07/05/2010, nên giao dịch dân sự
Trang 1Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Lớp 133 – CLC46A
THẢO LUẬN BUỔI 2: GIAO DỊCH DÂN SỰ
Môn: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN
VÀ THỪA KẾ
Nhóm 7: Võ Nguyên Tùng
Ngô Nguyễn Hà Yên
Đỗ Lê Hiểu Lam Trần Nguyên Bảo Phương
Võ Hồng Ngọc Diễm Trần Phạm Khánh Duy
Trang 2 Năng lực pháp luật dân sự của chủ thể trong xác lập giao dịch.
Tóm tắt:
Đây là vụ án tranh chấp hợp động chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai Trong
đó có nguyên đơn là người nước ngoài là ông T và bà H, bị đơn là bà Đ
Ông T và bà H đã mua phần đất của bà Đ với giá 3000 USD và bà Đ có lập giấy cho nền thổ cư vào ngày 31/5/2004 Đến 02/6/2004, bà Đ bán cho nguyên đơn phần đất gắn liền với căn nhà mới với giá 4000 USD Vào ngày 16/3/2011, bà Đ làm giấy cam kết thể hiện bà đã bán cho nguyên đơn phần đất diện tích 1.251,8 m2
và bà chỉ đứng tên dùm nguyên đơn, khi nào nguyên đơn về Việt Nam thì bà trả lại nhà và đất Tuy nhiên, giấy cho nền thổ cư vào ngày 31/5/2004 và giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004 lại không được công chứng và không tuân theo quy định của pháp luật nên không phát sinh hiệu lực hợp đồng Vì ông T và bà H là người nước ngoài và không thỏa mãn điều kiện được nêu trong Điều 121 của Luật nhà ở năm 2005 nên vợ chồng nguyên đơn không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam
Vợ chồng nguyên đơn yêu cầu bà Đ trả lại số tiền tương đương với giá trị nhà và đất là 550.000.000 đồng nhưng nguyên đơn đã trả cho bà Đ 329.220.000 đồng nên
bà Đ đồng ý trả lại số tiền này Sau đó, bà Đ tự nguyện trả 350.000.000 đồng cho
vợ chồng nguyên đơn Cuối cùng, quyết định của tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long là:
- Vô hiệu giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004 và giấy cam kết ngày 16/3/2011 mà các bên đã xác lập do vi phạm điều cấm của pháp luật
- Buộc bà L K Đ hoàn trả cho ông T và bà H số tiền 350.000.000 đồng
So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 có gì khác về điệu kiện có hiệu lực
của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.
- Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự khác nhau ở chỗ:
+ Theo BLDS năm 2005: “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” + Theo BLDS năm 2015: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân
sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”
Theo em thì sự thay đổi này giúp nêu rõ điều kiện khi tham gia giao dịch dân sự nhằm tránh gây hiểu lầm Đồng thời, phần “năng lực pháp luật dân sự” được bổ sung vào BLDS 2015 để cho thấy ai cũng có thể tham gia giao dịch dân sự, miễn
là có “năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”
Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà
ở tại Việt Nam.
Trang 3- Dựa trên bản án, ta có thể thấy ông T và bà H là người Việt Nam đã ở nước ngoài
và nhập quốc tịch Mỹ Căn cứ theo Luật Đất đai năm 2003 và điều 121 Luật nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thỏa mãn các điều kiện sau:
“Người Việt Nam định cử ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà tại Việt Nam”
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn cho phép từ 6 tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng
lẻ hoặc một căn hộ”
Vì ông T và bà H không thỏa mãn điều kiện trên nên ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam
Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã
bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?
- Qua bản án trên ta thấy được tòa án tuyên bố vô hiệu giao dịch của ông T và bà H với bà Đ qua đoạn:
+ “Tuy nhiên giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/06/2004 được lập giữa nguyên đơn và bị đơn L K Đ xét về hình thức thì tờ chi đất thổ cư và tờ nhường đất thổ cư không tuân theo quy định của pháp luật, không được công chứng, chứng thực theo quy định tại điều 127 của Luật đất đai năm
2003 và Điều 117 của Bộ luật Dân sự nên không phát sinh hiệu lực hợp đồng” + “Vô hiệu giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày 16/3/2011 mà các bên đã xác lập do vi phạm điều cấm của pháp luật”
+ “Buộc bà L K Đ hoàn trả cho ông J Ph T và bà A TH Ph H số tiền 350.000.000 đồng”
Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể)
về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu.
Theo em thì Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu dựa trên những căn cứ đã nêu trong bản án là hoàn toàn hợp lý vì ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở Việt Nam Ngoài ra, ông T và bà H đã vi phạm pháp luật, giao dịch này đã từ đầu
đã không hợp pháp nên tòa án buộc phải quyết định vô hiệu giao dịch
Trang 4 Tóm tắt bản án dân sự Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/07/2013 về
vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất”:
- Theo nguyên đơn Đặng Thị Kim Ánh cho rằng, vào năm 2007, cha của chị là Đặng Hữu Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được Ngày
08/02/2010, mẹ chị là Phạm Thị Hương tự ý bán căn nhà và diện tích đất là 167,3
m2 cho vợ chồng ông Lưu Hoàng Phi Hùng với giá 580.000.000đ
- Ngày 10/08/2010, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa tuyên bố ông Hội mất năng lực hành vi dân sự, ngày 29/10/2010, ông Hội chết Tuy nhiên, theo bị đơn là
bà Phạm Thị Hương thì khi giao dịch mua bán nhà đất diện tích 167,3 m2, đã có UBND phường 1 chứng thực vào hợp đồng mua bán và bà Hương đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hùng, từ đó xảy ra tranh chấp
- Về phán quyết của Tòa án nhân dân các cấp:
+ Tòa án cấp Sơ thẩm quyết định: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/02/2010
+ Tòa án cấp Phúc thẩm quyết định: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 08/02/2010
+ Giám đốc thẩm quyết định: Chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; hủy 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm trước đó
Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời
điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?
Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi
ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?
- Xét về góc nhìn của các đương sự:
+ Bà Hương và ông Hùng cho rằng Tòa án tuyên bố ông Hội bị mất năng lực hành
vi dân sự sau khi lập hợp đồng giao dịch (07/05/2010), nên giao dịch dân sự hoàn toàn đúng theo pháp luật
+ Chị Ánh (đại diện cho ông Hội) thì cho rằng ông Hội trước đó đã bị mất năng lực hành vi từ năm 2007, nên giao dịch ngày 08/02/2010 không phù hợp với pháp luật
Do đó, theo nguyên đơn trong vụ án thì ông Đặng Hữu Hội thực chất đã bị mất năng lực hành vi dân sự do bị tai biến nằm liệt một chỗ từ năm 2007, gia đình đã phải lo chạy thuốc cho ông từ đó Nhưng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, Điều 22 (tương đương Điều 22 trong Bộ luật Dân sự 2015):
Điều 22 Mất năng lực hành vi dân sự
1 Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận
thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên
cơ sở kết luận của tổ chức giám định.
Trang 5Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà
án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
2 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại
diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
Tức là phải có tuyên bố của Tòa án theo yêu cầu của người có liên quan thì người đó mới được xem là mất năng lực hành vi dân sự, trong trường hợp của ông Hội thì chưa được xem là người mất năng lực hành vi dân sự sau tuyên bố ngày 07/05/2010, do đó về mặt pháp lý thì giao dịch dân sự ngày 08/02/2010 là hợp pháp
- Tuy nhiên, trong Luật dân sự vẫn luôn tồn tại trường hợp ngoại lệ quy định tại Điều 133, Bộ luật Dân sự 2005 (tương đương với Điều 128, Bộ luật Dân sự 2015):
Điều 133 Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.
Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Trong điều luật này thì có 2 chủ thể khác nhau: người có năng lực hành vi dân sự
và người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Đã là người có năng lực hành vi dân sự thì sao có thể cùng là người không thể nhận thức và làm chủ được hành vi? Vì vậy, chủ thể không nhận thức và làm chủ hành vi ở đây không được xem chính xác là “chủ thể”, mà được xem là một sự kiện hoặc điều kiện thì hơn
Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không?
Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?
- Xâu chuỗi lại thì theo lý thuyết: ông Hội khi lập giao dịch dân sự ngày 08/02/2010
là trước khi ông bị Tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự, tức là về mặt pháp lý thì lúc ấy ông Hội vẫn bình thường, là người có năng lực hành vi dân sự Nhưng theo lời khai của nguyên đơn thì ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ, nên Tòa án có lẽ đã nhận định lúc này ông Hội đã “không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình”, nên đã ra tuyên bố vô hiệu hợp đồng dân sự ngày 08/02/2010,
và tuyên bố của Tòa được cho là hợp lý, vì tuyên bố vô hiệu hợp đồng đã bảo vệ quyền lợi cho ông Hội
Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và
Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết.
- Thực tế, trong thực tiễn xét xử cũng đã có trường hợp mất năng lực hành vi dân sự tương tự với ông Hội Xin được nhắc lại trường hợp về năng lực hành vi dân sự
Trang 6của ông Cường (tên của các người liên quan trong vụ án đã được thay đổi) trong Bản án số 01/2006/DSST ngày 21/02/2006 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái:
+ Ngày mà ông Cường xác lập giao dịch là 20/01/2004
+ Biên bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005, Tổ chức giám định pháp y đã kết luận ông Cường bị mắc bệnh “loạn thần do sử dụng rượu”
+ Tuy nhiên, Tòa đã cho rằng thời điểm mắc bệnh của ông Cường là trước ngày 01/01/2004
- Điều đó cho thấy hợp đồng giao dịch dân sự đã được thực hiện trước khi Biên bản bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ra đời Do đó về mặt pháp lý thì vào thời điểm ông Cường xác lập giao dịch dân sự là thời điểm ông không bị mất năng lực hành vi dân sự Nhưng Tòa án vẫn tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu, câu hỏi là tại sao?
+ Theo phân tích thì có vẻ Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu là do Tòa đã chọn mốc thời gian mà ông Cường thật sự mất năng lực hành vi dân sự (trước ngày 1/1/2004), tuyên bố này cũng được giới phân tích đánh giá là hợp lý vì Tòa án đã bảo vệ quyền lợi của ông Cường
+ Về tố tụng, hoàn toàn thuyết phục khi cho rằng người đại diện hợp pháp của ông Hội là chị Đặng Thị Kim Ánh, vì theo như thỏa thuận chỉ định chị trước đó của ông Hội và người thân, là hoàn toàn đúng với Khoản 1, Điều 142, Bộ luật dân sự
2005 “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa
người đại diện và người được đại diện” Và do đó chị Ánh là người có quyền khởi
kiện theo quy định tại Điều 130, Bộ luật Dân sự năm 2005
Điều 130 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong
vụ việc trên (liên quan đến giao dịch ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa ra hướng xử lý.
- Về nội dung, việc tuyên bố hợp đồng giao dịch vô hiệu toàn phần (phần đất
163,7m2 ), nhưng do Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã không làm
rõ được phần đất 43,7m2 đó đã có đăng ký kê khai và có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng những quyền sử dụng đất hay không, mà đã công nhận quyền sử dụng
Trang 7đất và buộc bà Hương và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm giao lại ngôi nhà gắn liền với 163,7m2 đất là không đúng Cũng hoàn toàn đồng ý với phán quyết của Tòa ở điểm này, bởi vì không làm rõ được diện tích đất mà đương sự thật sở hữu mà đã đưa ra quyết định công nhận toàn bộ quyền sử dụng đất đối với diện tích đất quá mức cho phép sở hữu Do đó Tòa án đã căn cứ vào Khoản 1,
Điều 299, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 “Việc thu thập chứng cứ và chứng
minh chưa thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của
Bộ luật này”, Hội đồng giám đốc thẩm đưa ra quyết định hủy bản án dân sự ở cấp
sơ thẩm và cấp phúc thẩm Đây được xem là quy định đúng, bởi vì đương sự trong
vụ án không chỉ có mỗi ông Hội mà là các đương sự khác, do đó việc bảo đảm quyền lợi, lợi ích của các đương sự nên được đưa lên hàng đầu, mặc dù có phải hủy bản án này và thay bằng bản khác đi chăng nữa
Nếu giao dịch tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có bị
vô hiệu không? Vì sao?
- Trong trường hợp tranh chấp mặc dù có lợi cho ông Hội bằng việc tặng cho ông đi chăng nữa, thì nếu ông Hội còn mất năng lực hành vi dân sự thì giao dịch ấy vẫn
vô hiệu, trừ khi ông Hội đã có người đại diện và giao dịch đó được thực hiện thông qua người đại diện đó căn cứ theo Bộ luật Dân sự năm 2005
Điều 130 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.
Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.
- Đây là quy định rõ ràng là bất lợi cho ông Hội, vì đáng ra quyền lợi của ông phải được đảm bảo như đã nói ở trên Nhưng thay vào đó, các nhà làm luật đã đưa ra sự đổi mới cho bộ luật dân sự 2015, trong đó:
Điều 125 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.
1 Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Trang 82 Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu
trong trường hợp sau đây:
a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi
đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.
- Các nhà làm luật đã bổ sung thêm điều kiện mới tiến bộ hơn để đảm bảo quyền lợi, lợi ích cho người mất năng lực hành vi dân sự như ông Hội ở Mục a, Khoản 2 trong Điều 125, quy định trường hợp không vô hiệu hợp đồng đối với trường hợp
“Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự
nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó”
Giao dịch xác lập do có lừa dối.
Điều 127 BLDS 2015 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình
Điều 132 BLDS 2015 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
1 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125,
126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:
a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;
b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;
c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;
d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;
đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức
Trang 92 Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực
3 Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế
Điều 132 BLDS 2005 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu
Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân
sự nên đã xác lập giao dịch đó
Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình
Điều 136 BLDS 2005 Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
1 Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều
từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập
2 Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế
Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS
2005 và BLDS 2015.
- Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó
- Về điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS
2005 và BLDS 2015 không có sự khác nhau: cả hai bộ luật đều quy định nếu giao dịch mà có sự lừa dối thì bên bị lừa dối có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch
vô hiệu
Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài trong việc xử lý một bên cố tình không cung cấp thông tin liên quan đến tài sản trong quá trình xác lập giao dịch.
- Dưới đây là 1 bản án có thật và đã được xét xử ở Cộng hòa Philippines:
Trích dẫn:
Republic of the Philippines SUPREME COURT Manila SECOND DIVISION G.R No.171692 June 3, 2013
SPOUSES DELFIN O TUMIBAY and AURORA T TUMIBAY-deceased; GRACE JULIE ANN TUMIBAY MANUEL, legal representative, Petitioners,
Trang 10SPOUSES MELVIN A LOPEZ and ROWENA GAY T VISITACION LOPEZ, Respondents.
D E C I S I O N
DEL CASTILLO, J.:
In a contract to sell, the seller retains ownership of the property until the buyer has paid the price in full A -buyer who covertly usurps the seller's ownership of the property prior to the full payment of the price is in breach of the contract and the seller is entitled to rescission because the breach is substantial and fundamental as it defeats the very object of the parties in entering into the contract to sell.
The Petition for Review on Certiorari 1 assails the May 19, 2005 Decision 2 of the Court of Appeals (CA) in CA-G.R CV No 79029, which reversed the January 6, 2003 Decision 3 of the Regional Trial Court (RTC) of Malaybalay City, Branch 9 in Civil Case No 2759-98, and the February 10,
2006 Resolution 4 denying petitioner-spouses Delfin O Tumibay and Aurora 5 T Tumibay’s Motion for Reconsideration 6
Factual Antecedents
On March 23, 1998, petitioners filed a Complaint 7 for declaration of nullity ab initio of sale, and recovery of ownership and possession of land with the RTC of Malaybalay City The case was raffled to Branch 9 and docketed as Civil Case No 2759-98.
In their Complaint, petitioners alleged that they are the owners of a parcel of land located in Sumpong, Malaybalay, Bukidnon covered by Transfer Certificate of Title (TCT) No T-25334 8 (subject land) in the name of petitioner Aurora; that they are natural born Filipino citizens but petitioner Delfin acquired American citizenship while his wife, petitioner Aurora, remained a Filipino citizen; that petitioner Aurora is the sister of Reynalda Visitacion (Reynalda); 9 that on July 23, 1997, Reynalda sold the subject land to her daughter, Rowena Gay T Visitacion Lopez (respondent Rowena), through a deed of sale 10 for an unconscionable amount of ₱95,000.00 although said property had a market value of more than ₱2,000,000.00; that the subject sale was done without the knowledge and consent of petitioners; and that, for these fraudulent acts, respondents should be held liable for damages Petitioners prayed that (1) the deed of sale dated July 23, 1997 be declared void ab initio, (2) the subject land be reconveyed to petitioners, and (3) respondents be ordered to pay damages.
On May 19, 1998, respondents filed their Answer 11 with counterclaim Respondents averred that
on December 12, 1990, petitioners executed a special power of attorney (SPA) 12 in favor of Reynalda granting the latter the power to offer for sale the subject land; that sometime in 1994, respondent Rowena and petitioners agreed that the former would buy the subject land for the price of ₱800,000.00 to be paid on installment; that on January 25, 1995, respondent Rowena paid in cash to petitioners the sum of $1,000.00; that from 1995 to 1997, respondent Rowena paid the monthly installments thereon as evidenced by money orders; that, in furtherance of the agreement, a deed of sale was executed and the corresponding title was issued in favor of respondent Rowena; that the subject sale was done with the knowledge and consent of the petitioners as evidenced by the receipt of payment by petitioners; and that petitioners should be held liable for damages for filing the subject Complaint in bad faith Respondents prayed that the Complaint be dismissed and that petitioners be ordered to pay damages.
On May 25, 1998, petitioners filed an Answer to Counterclaim 13 Petitioners admitted the existence of the SPA but claimed that Reynalda violated the terms thereof when she (Reynalda) sold the subject land without seeking the approval of petitioners as to the selling price Petitioners also claimed that the monthly payments from 1995 to 1997 were mere deposits as requested by respondent Rowena so that she (Rowena) would not spend the same pending their agreement as to the purchase price; and that Reynalda, acting with evident bad faith, executed the deed of sale in her favor but placed it in the name of her daughter, respondent Rowena, which sale is null and void because an agent cannot purchase for herself the property subject of the agency.