Câu hỏi tiểu luận: Triết lí Âm Dương và ảnh hưởng của triết lí Âm Dương trong đời sống văn hóa của người Việt.. Một trong những hình thức biểu hiện sinh động của Chủ nghĩa duy vật chất ở
Trang 1BỘ XÂY DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP HCM KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN – BỘ MÔN KHXH
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Đề bài: TRIẾT LÍ ÂM DƯƠNG VÀ ẢNH HƯỞNG TRIẾT LÍ ÂM DƯƠNG
TỚI NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM
LỚP HP: 310001206
TP.HCM, NGÀY 15, THÁNG 1, NĂM 2022
Trang 2Câu hỏi tiểu luận: Triết lí Âm Dương và ảnh hưởng của triết lí Âm Dương trong đời sống văn hóa của người Việt
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Kiều Oanh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC
TP HỒ CHÍ MINH
Khoa: Khoa Học Cơ Bản
Bộ môn: Khoa Học Xã Hội
ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
NĂM HỌC 2021 – 2022 Môn: Cơ sở văn hóa Việt Nam
LỚP HP: 310001206 Học kì: I
HỌ TÊN SINH VIÊN:Nguyễn Thị Kiều Oanh MSSV: 20510200450
Bộ môn / Khoa
(Ký duyệt)
Nguyễn Thị Song Thương
Chữ ký Giảng viên ra đề
Nguyễn An Thụy
Chữ ký giám thị 1 Chữ ký giám thị 2
Chữ ký giảng viên
chấm thi thứ 1
Chữ ký giảng viên chấm thi thứ 2
Điểm số Điểm chữ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
I Lý do chọn đề tài: 3
II Mục tiêu của đề tài: 3
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
IV Bố cục 4
NỘI DUNG 5
I Triết lý Âm Dương: 5
a Nguồn gốc: 5
b Khái niệm 5
2 Bản chất: 6
II Nội dung cơ bản của triết lý Âm Dương: 6
1 Âm Dương đối lập: 6
2 Âm Dương hỗ căn: 6
3 Âm dương bình hành – tiêu trưởng: 6
4 Quy luật của triết lý âm dương: 7
III Hai hướng phát triển trong học thuyết Âm Dương 7
1 Hệ thống Tam Tài, Ngũ Hành: 7
2 Hệ thống Tứ Tượng, Bát Quái: 8
IV Ảnh hưởng của triết lý Âm Dương đến văn hóa Việt: 10
1 Với nhu cầu ăn 10
2 Về nhu cầu mặc 11
3 Về nhu cầu ở 11
4 Ứng dụng trong y học 11
5 Tính ngưỡng 12
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 4MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài:
Theo lịch sử phát triển thế giới là sự đấu tranh của các tầng lớp giai cấp thì lịch sử phát triển của triết học là sự đấu tranh giữa thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm, giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình Một trong những hình thức biểu hiện sinh động của Chủ nghĩa duy vật chất ở phương Đông thời cổ đại là triết học Âm Dương (thuyết Âm Dương)
Con người từ cổ xưa đã nhận thức được thế giới và bắt đầu đi tìm hiểu để giải thích thế giới Trong quá trình con người đi tìm hiểu về thế giới thì người ta nhận ra rằng Mọi sự vật hiện tượng luôn luôn có mâu thuẫn nhưng thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hoá để phát sinh phát triển, tiêu vong ví dụ như có sinh thì có
tử, có ngày thì có đêm, có nóng thì có lạnh,… từ đó quy luật Âm Dương dần được hình thành sau được Âm Dương gia, một giáo phái của Trung Hoa ở thế kỉ 3 dùng đề giải thích địa lý – lịch sử, sự vật hiện tượng Thuyết Âm-Dương, ra đời đánh dấu bước tiến bộ tư duy khoa học đầu tiên nhằm thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng do các khái niệm Thượng đế, Quỷ thần truyền thống mang lại Và học thuyết này đã có ảnh hưởng đến thế giới quan của triết học sau này không những của người Trung Hoa
mà cả người Việt Nam
Văn hóa Việt Nam được kết tinh với bao thăng trầm của lịch sử, một nền văn hóa có nguồn gốc cổ xưa và chịu nhiều ảnh hưởng của các nền văn hóa Trong đó bị ảnh hưởng sâu đậm nhất là văn hóa phương Đông, thuyết Âm Dương đã thấm sâu vào đời sống văn hóa tinh thần người Việt, nó được thể hiện khá sâu sắc không chỉ trong nhận thức,đánh giá của tư duy logic,mà còn cả trong đời sống sinh hoạt thường nhật của các cộng đồng dân cư, trong lĩnh vực đời sống tinh thần và phương thức giao tiếp Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế ngày càng phát triển và văn hóa dân tộc ngày càng trở thành trung tâm của sự chú ý Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người và đặt mục tiêu “ xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.Chính vì thế,
sự tìm hiểu nguồn gốc, học thuyết Âm Dương, là một việc cần thiết để lý giải những đặc trưng của triết học phương Đông và văn hóa Việt Nam Do đó chọn đề tài
“ Tư tưởng triết lý Âm Dương và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa của Việt Nam”
II Mục tiêu của đề tài:
Tiểu luận tìm hiểu triết lý Âm Dương, ảnh hưởng của nó đến văn hóa Việt Nam
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Triết lý Âm Dương, ảnh hưởng triết lý Âm Dương đến văn hóa Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận tìm hiểu những nội dung cơ bản của triết lý Âm Dương và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống của người Việt
Trang 5IV Bố cục
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm:
I Triết lý Âm Dương: nguồn gốc, khái niệm, bản chất
II Nội dung cơ bản của triết lý Âm Dương
III Hai hướng phát triển trong học thuyết Âm Dương
IV Ảnh hưởng của triết lý Âm Dương đến văn hóa Việt
Trang 6NỘI DUNG
I Triết lý Âm Dương:
1 Nguồn gốc và khái niệm:
a Nguồn gốc:
Tương truyền, Phục Hy (2852 TCN) nhìn thấy bức đồ bình trên lưng con long mã trên sông Hoàng Hà mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch thành nét Đầu tiên vạch một nét liền (-) tức vạch lẻ để làm phù hiệu cho khí dương và một nét đứt ( ) là vạch chẵn để làm phù hiệu cho khí âm Hai vạch (-), ( ) là hai phù hiệu cổ xưa nhất nó bao trùm mọi nguyên lý của vũ trụ, không vật gì không được tạo thành bởi âm dương, không vật gì không được chuyển hóa bởi âm dương biến đổi cho nhau
Ngoài ra còn có ý kiến cho rằng "khái niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam".("Phương Nam" ở đây bao gồm vùng nam Trung Hoa, từ sông Dương Tử trở xuống và vùng Việt Nam.) Trong quá trình phát triển, nước Trung Hoa trải qua hai thời kỳ:
- "Đông tiến" là thời kỳ Trung Hoa mở rộng từ thượng lưu (phía tây) xuống hạ lưu (phía đông) của sông Hoàng Hà;
- "Nam tiến" là thời kỳ mở rộng từ lưu vực sông Hoàng Hà (phía bắc) xuống phía nam sông Dương Tử Trong quá trình nam tiến, người Hán đã tiếp thu triết lý âm dương của các cư dân phương nam, rồi phát triển, hệ thống hóa triết lý đó bằng khả năng phân tích của người du mục làm cho triết lý âm dương đạt đến hoàn thiện và mang ảnh hưởng của nó tác động trở lại cư dân phương nam
Cư dân phương nam sinh sống bằng nông nghiệp nên quan tâm số một của họ là sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người Sinh sản của con người thì do hai yếu tố: cha và mẹ, nữ và nam; còn sự sinh sôi nảy nở của hoa màu thì do đất và trời -
"đất sinh, trời dưỡng" Chính vì thế mà hai cặp "mẹ-cha", "đất-trời" là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn đến triết lý âm dương Chính từ quan niệm âm dương với hai cặp "mẹ-cha" và "đất-trời" này, người ta đã mở rộng ra nhiều cặp đối lập phổ biến khác Đến lượt mình, các cặp này lại là cơ sở để suy ra vô số các cặp mới
b Khái niệm
Theo Kinh Dịch, trời đất vạn vật nói chung là một đại vũ trụ và con người là một tiểu vũ trụ hàm chứa Âm Dương và Ngũ hành Khởi đầu là Thái Cực, chưa có sự biến hóa Thái Cực này luôn vận động biến thành hai khí Âm và Dương Hai khí
Âm Dương luôn luôn chuyển hóa làm vũ trụ vận động và vạn vật sinh tồn Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh vô lượng (biến hóa vô cùng)
Âm và Dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết Là hai khái niệm để chỉ hai thực thể đối lập ban đầu tạo nên toàn bộ vũ trụ, mâu thuẫn thống nhất, trong dương có âm và trong âm có dương Và mọi tai họa trong vũ trụ xảy ra cũng là do không điều hòa được hai lực
Trang 7lượng ấy.Âm thể hiện cho những gì yếu đuối nhỏ bé, tối tăm, thụ động, nữ tính, mềm mại đối lập nó là dương thể hiện sự mạnh mẽ, ánh sáng, chủ động, nam tính, cứng rắn Triết lý giải thích vũ trụ dựa trên âm và dương được gọi là triết lý
âm dương
Biểu tượng Âm Dương được hình tượng hóa bằng một vòng
tròn khép kín, đường cong chữ “S” chia đường tròn thành hai
phần, trong mỗi phần có một vòng tròn nhỏ Ở đây, vòng tròn
lớn mang ý nghĩa sự thống nhất của một sự vật, chữ “S” cho
phép sự liên hệ tương đối và chuyển hóa Âm Dương, hai
vòng tròn nhỏ biểu thị hai thái cực Âm và Dương (thiếu Âm
và thiếu Dương)
2 Bản chất:
Triết lý Âm Dương không phải là triết lý của tất cả các cặp đối lập.Điều quan trọng của triết lý Âm Dương chính ở bản chất và quan hệ của hai khái niệm Âm Dương
Âm Dương ở đây đại diện cho quy luật của tự nhiên (sự thay đổi không ngừng và bất tận) Trong Dương có Âm và trong Âm có Dương, âm cực sinh dương và dương cực sinh âm Sự sống của vạn vật đều hướng đến trạng thái hài hòa và cân bằng Âm – Dương
Muốn xác định một vật có phải âm hay dương phải xác định đối tượng so sánh và
cơ sở so sánh
Ví dụ: bàn – ghế thì không phải âm – dương vì trong bàn không có ghế và ngược lại trong ghế không có bàn không có mối liên hệ tương hỗ ở đây.Còn rễ (âm) – thân (dương) thì là âm – dương vì trong rễ có thân và trong thân có rễ
II Nội dung cơ bản của triết lý Âm Dương:
1 Âm Dương đối lập:
Âm Dương đối lập là sự mâu thuẫn, chế ước và đấu tranh giữa hai mặt Âm và Dương Theo học thuyết Âm Dương, mọi vật đều có hai mặt của nó là Âm và Dương Hai mặt này tương tác, kiểm soát lẫn nhau để giữ trạng thái cân bằng liên tục Ví dụ: Ngày và đêm, nước và lửa, hứng phấn và ức chế
2 Âm Dương hỗ căn:
Hỗ căn là sự nương tựa lẫn nhau (để phát triển) Hai mặt âm và dương tuy đối lập nhưng phải nương tựa vào nhau mới tồn tại được, mới có ý nghĩa Cả hai mặt đều là tích cực của một sự vật, không thể đơn độc phát sinh, phát triển
Ví dụ: Có đồng hoá thì mới có dị hoá, không có đồng hoá thì dị hoá cũng không thực hiện được, có số âm mới có số dương, hứng phấn và ức chế đều là quá trình tích cực của hoạt động vỏ não
3 Âm dương bình hành – tiêu trưởng:
Âm dương tiêu trưởng: Tiêu là sự mất đi, trưởng là sự phát triển Quy luật này nói nên sự vận động không ngừng sự chuyển hoá lẫn nhau giữa âm và dương
Âm dương bình hành: Hai mặt âm dương tuy đối lập, vận động không ngừng nhưng luôn luôn lập lại được thế thăng bằng, quân bình giữa hai mặt
Trang 8Âm và Dương đạt được trạng thái cân bằng bởi sự tương tác và kiểm soát lẫn nhau
Sự cân bằng không tĩnh và cũng không động tuyệt đối, nhưng được duy trì trong một giới hạn nhất định Tại thời điểm nào đó, Âm thịnh lên, Dương giảm đi và ngược lại
Ví dụ: Khi sự họat động đạt đến mức cực đại thì vỏ não chuyển sang giai đoạn nghỉ ngơi Khi nghỉ ngơi (Âm) đạt đến mức cực đại thì vỏ não chuyển sang trạng thái hoạt động (Dương) (thức giấc)(Âm dương bình hành mà tiêu trưởng)
4 Quy luật của triết lý âm dương:
Quy luật thành tố của triết lý Âm Dương:
Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âm
Để xác định tính chất âm dương của một vật, trước hết phải xác định đối tượng được so sánh: cái này là âm so với cái kia nhưng lại là
dương so với cái khác
Để xác định tính chất âm dương của một vật, phải xác định cơ sở so sánh: nữ so với nam xét về giới tính thì là âm nhưng xét về tính cách có thể là dương
Quy luật quan hệ của triết lý Âm Dương:
Âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau, vận động và chuyển hóa cho nhau
- Âm cực sinh dương
- Dương cực sinh âm
- Hết ngày lại đêm
- Hết mưa thì nắng
Luôn đổi chỗ cho nhau: người hiền hay cục, nước lạnh quá sẽ cứng
III Hai hướng phát triển trong học thuyết Âm Dương
Học thuyết Âm Dương là cơ sở để xây dựng nên hai hệ thống học thuyết khác đó là hệ thống Tam Tài, Ngũ Hành và Tứ Tượng, Bát Quái Đó cũng chính là hai hướng phát triển khác nhau trong quá trình phát triển của học thuyết này, tạo nên tính dân tộc của học thuyết
1 Hệ thống Tam Tài, Ngũ Hành:
a Tam Tài
Tam Tài là một khái niệm bộ ba gồm “Thiên –Địa –Nhân” Với lối tư duy tổng hợp và biện chứng quen thuộc, người xưa sớm nhận ra các cặp âm dương tưởng chừng riêng rẽ như trời-đất, trời-người, đất-người thực ra có mối liên hệ chặc chẽ với nhau, tạo nên một loại mô hình hệ thống gổm ba thành tố; đây có
lẻ là con đường dẫn đến tam tài từ triết lí âm dương Trong tam tài “ Trời – Người – Đất ”, Trời dương, Đất âm, Người ở giữa
Trang 9b Ngũ Hành
Thuyết Ngũ Hành về căn bản cũng là một cách biểu thị luật mâu thuẫn đã giới thiệu trong thuyết Âm Dương, nhưng bổ sung và làm cho thuyết Âm Dương hoàn chỉnh hơn, để xem xét mối tương tác và quan hệ của vạn vật
Ngũ hành là một thuyết được khởi xướng từ vài nghìn năm trước Công nguyên Theo đó, bất kì một dạng thể nào của thế giới vật chất và các thực thể sống đều được quy thuộc vào một Hành trong Ngũ hành gồm: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.Trong mối quan hệ Sinh thìThủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa; Hỏa sinh Thổ; Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy Trong mối quan hệ Khắc thì Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc Như vậy tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ kết hợp thành hệ chế hoá, biểu thị mọi
sự biến hóa phức tạp của sự vật
2 Hệ thống Tứ Tượng, Bát Quái:
a Tứ Tượng:
Trang 10Tượng là dùng hai Nghi chồng lên nhau và đảo chỗ, vì thế được Tứ Tượng
Tứ tượng là 4 tượng, bao gồm: thái dương, thiếu dương, thái âm và thiếu âm Trong thiên văn tương ứng:
Thái Dương :Mặt trời (Nhật): rất nóng, bầu
trời sáng
Thái Âm :Mặt trăng (Nguyệt): lạnh, bầu
trời tối đen
Thiếu Âm :Định tinh (Tinh): không chuyển
động, lạnh
Thiếu Dương –Hành tinh (Thần): chuyển
động trên bầu trời
Vì vậy còn gọi Nhật Nguyệt tinh thần là Tứ Tượng, và vị trí của chúng cũng gọi
là Tượng Trời
Bốn Tượng này cũng là bốn giai đoạn của mộtchu trình khép kín Trong năm, mùa xuân là Thiếu Dương, khí ấm áp tăng dần; Mùa hạ là Thái Dương, nóng đến cực đại; Mùa thu là Thiếu Âm, khí lạnh đang về, Mùa đông là Thái Âm, lạnh cực đại
Nhưng trong Âm có Dương và ngược lại.Trong mùa hè, khi nóng nực nhất vẫn
có khí lạnh, trong mùa đông, khi lạnh nhất vẫn có hơi ấm Khi con người phát triển mạnh mẽ nhất, thì hàng ngày vẫn có hàng triệu tế bào bị suy thoái và chết
đi, có điều sự tăng trưởng mạnh hơn rất nhiều sự suy thoái; tương tự, trong thời
kỳ già ốm, vẫn có những tế bào được sinh ra, nhưng không thắng được sự triệt tiêu Có chăng chỉ là làm giảm quá trình suy sụp
Trong con người cũng có đặc tính của Âm và Dương Xét về quan niệm y học hiện đại thì con người được sinh ra từ sự kết hợp giữa nhiễm săc thể X và Y, với
sự nổi trội hơn của nhiễm sắc thể X hay Y, mà đứa trẻ sinh ra là trai hay gái.Tuy vậy trong cơ thể sẽ không bao giờ thiếu yếu tố của cả nam và nữ
b Bát Quái:
Bát Quái là 8 quẻ được sử dụng trong vũ trụ học của Đạo gia, đại diện cho các yếu tố cơ bản của vũ trụ, được xem như là một chuỗi tám khái niệm có liên quan với nhau Mỗi quẻ gồm ba hàng, mỗi hàng là nét rời (được gọi là Hào âm) hoặc nét liền (được gọi là Hào dương), tương ứng đại diện cho âm hoặc dương, bao gồm: Quẻ Càn, quẻ Khôn, quẻ Đoài, quẻ Ly, quẻ Chấn, quẻ Tốn, quẻ Khảm, quẻ Cấn