TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MARX– LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.đề tài TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MARX– LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY. NỘI DUNG.....................................................................................................................4 1 Triết học Mác- Lênin và con người: .....................................................................4 1.1 Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về con người:.........................4 1.1.1 Quan điểm của các nhà triết học phương Đông trước Mác về con người: .....................................................................................................................4 1.1.2 Quan điểm của các nhà triết học phương Tây trước Mác về con người: .....................................................................................................................5 1.2 Quan niệm của triết học Marx-Lênin về con người (Chủ nghĩa duy vật lịch sử): ........................................................................................................................6 1.2.1 Bản chất con người: ..................................................................................6 1.2.2 Vai trò của chủ nghĩa Mác về con người trong đời sống xã hội: ..........7 Nguồn lực con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa...9 2.1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay .........................9 2.2 Vai trò nguồn lực con người trong Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất 2 nước. ..........................................................................................................................11 Một số giải pháp xây dựng nguồn lực con người hiện nay tại nước ta: ..........13 KẾT LUẬN: .................................................................................................................14 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................16 3 1 LỜI MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài: Mọi sự vật, sự việc đều phải luôn vận động, phát triển và đi lên là một điều tất yếu trong quá trình tồn tại của sự vật, hiện tượng đó. Nền kinh tế hay nguồn lực con người cũng vậy. Trong thời đại hội nhập và phát triển, cũng như trong thời kỳ đại dịch toàn cầu COVID-19 bùng phát và mỗi lúc càng biến thể trở nên mạnh mẽ hơn, chất lượng cuộc sống người dân giảm sút, nền kinh tế, y tế, giáo dục bị ảnh hưởng rất nhiều. Chính vì vậy, xây dựng nguồn lực con người là một điều vô cùng cấp thiết để có thể đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, đồng thời cũng để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bởi lẽ, con người được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định sự phát triển của nền kinh tế. Xã hội tồn tại dựa trên hai nguồn tài nguyên chính, đó là thiên nhiên và con người. Tuy nhiên, cả lý thuyết và thực tế đều đã chứng minh, mọi thứ tài nguyên thiên nhiên đều có giới hạn, duy chỉ có sự tồn tại và phát triển của con người là vô hạn. Trước Mác, truyền thuyết hay quan niệm duy tâm cho rằng con người được tạo nên bởi những thần linh tối thượng, vấn đề con người chưa được lý giải một cách khoa học và cụ thể. Quan niệm duy vật lịch sử được hình thành, vai trò cải tạo thế giới đi cùng tạo nên “khoảnh khắc” lịch sử: con người đã có được vị trí công nhận. Xã hội có thể phát triển là nhờ những nhóm người cầu tiến, ham học hỏi, tìm hiểu, tiếp thu và không ngừng tiến bộ, tiếp đó, họ lại truyền những kiến thức cho tinh anh đời sau, lớp trẻ học lại, tự sáng tạo, từ đó tạo thành một dây chuyền nối tiếp trường tồn.Vì vậy, có thể nói, bằng phát triển toàn diện của mình, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển lực lượng sản xuất tiên tiến. Việt Nam lấy quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người, về vai trò sáng tạo lịch sử của con người và vai trò của con người cùng với vai trò nguồn lực con người trong phát triển kinh tế-xã hội làm cơ sở lý luận. Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Với những yêu cầu bức thiết, đặc biệt trong những hoàn cảnh dịch bệnh xảy ra hết sức phức tạp đi kèm khó khăn cùng cơ hội, chúng ta cần phải xem xét, tận dụng nguồn lực Việt 2 Nam và xây dựng những chính sách phát triển bền lâu, tận dụng và nâng cao chất lượng nguồn lực người lao động chân tay và trí thức. Do muốn nghiên cứu sâu hơn vấn đề nguồn lực con người, em đã chọn đề tài tiểu luận: “Quan điểm của triết học Mác-Lênin về con người và vấn đề xây dựng nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.” Trong nội dung tiểu luận không tránh khỏi những sai sót, vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý của cô nhằm hoàn thiện tiểu luận hơn.
Quanđiểmcủa cácnhàtriếthọctrướcMácvềconngười
Quan điểm của các nhà triết học phương Đông trước Mác về conngười
Từ thời cổ đại, các trường phái triết học phương Đông lý giải con người trên cơsởthếgiớiquanduytâm,tôngiáothầnbíhoặcnhịnguyênluận.
Triết học Phật giáo nhận định rằng con người là sự hòa quyện giữa vật chất và tinh thần Cuộc sống trần gian chỉ là một ảo giác tạm thời của cái "Vô thường", vì vậy con người cần hướng tới cõi "Niết bàn", nơi linh hồn được giải thoát và trở thành bất diệt.
Triết học Nho giáo và Lão giáo đều khám phá về bản chất con người và số phận của họ Khổng Tử nhấn mạnh rằng bản chất con người bị chi phối bởi “Thiên mệnh”, trong khi đức “Nhân” được coi là giá trị cao nhất Ngược lại, Lão giáo cho rằng con người sinh ra từ “Đạo” và cần sống theo nguyên tắc “Vô vi”, tức là theo lẽ tự nhiên và thuần phác.
Triết học phương Đông thể hiện sự đa dạng và phong phú qua nhiều hệ thống triết lý khác nhau, tập trung vào con người trong mối quan hệ chính trị và đạo đức Trong triết học này, con người không chỉ mang yếu tố duy tâm mà còn phản ánh tính chất duy vật, thể hiện sự tương tác giữa con người với tự nhiên và xã hội.
Quan điểm của các nhà triết học phương Tây trước Mác về conngười: 5
Các trường phái triết học tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Kitô giáo, xem xét vấn đề con người từ góc độ thế giới quan duy tâm và thần bí Theo quan điểm này, cuộc sống của con người được đấng tối cao an bài và sắp đặt Con người được coi là có bản chất tội lỗi, bao gồm hai phần: thể xác và linh hồn, trong đó linh hồn được xem là giá trị cao nhất Mặc dù thể xác sẽ mất đi, nhưng linh hồn sẽ tồn tại vĩnh cửu.
Trong triết học Hy Lạp cổ đại, con người được coi là tiểu vũ trụ, với Prôtago cho rằng “con người là thước đo của vũ trụ” và Aristót cho rằng “con người là bậc thang cao nhất của vũ trụ” Tuy nhiên, theo quan niệm duy tâm của Platôn, con người chỉ là ảo ảnh của thế giới ý niệm Mặc dù triết học thời kỳ này đã bắt đầu phân biệt con người với giới tự nhiên, nhưng sự phân biệt này vẫn chỉ dừng lại ở việc hiểu biết bên ngoài của con người.
Triết học thời kỳ trung cổ coi con người là sản phẩm của Thượng đế và đã quyđặctrưngbảnchấtcon ngườilàmộtthựcthểthuầntúy–thựcthểtinhthần.
Triết học thời kỳ phục hưng và cận đại nhấn mạnh vai trò trí tuệ và lý tính của con người, coi con người là thực thể có trí tuệ Điều này giúp giải phóng con người khỏi sự nô dịch của thần quyền tôn giáo thời trung cổ và thúc đẩy tư tưởng giải phóng Tuy nhiên, giai đoạn này chủ yếu tập trung vào khía cạnh cá nhân, trong khi các khía cạnh xã hội và bản chất con người trong mối quan hệ với xã hội vẫn chưa được nhận thức đầy đủ.
Trong triết học cổ điển Đức, Hêghen nghiên cứu bản chất con người thông qua quá trình tư duy, khái quát các quy luật cơ bản và trình bày một cách hệ thống Ông khẳng định vai trò chủ thể của con người trong lịch sử, đồng thời coi kết quả của sự phát triển lịch sử là sản phẩm của quá trình này Tuy nhiên, Hêghen xem ý niệm tuyệt đối là yếu tố quyết định đối với con người, cho thấy rằng con người thực chất là sản phẩm thuần túy của "ý niệm tuyệt đối".
Đến Phoiơbắc, quan niệm duy vật của ông đã vượt qua những hạn chế củaHêghen để hy vọng tìm đến bản chất con người một cách đích thực
Hêghen đã tuyệt đối hóa khía cạnh sinh học của con người, tách rời con người khỏi mối quan hệ thực tiễn trong xã hội Ông quy bản chất con người vào tính độc lập, với những đặc trưng nổi bật như tình cảm đạo đức, tôn giáo và tình yêu.
Trong lịch sử triết học trước Mác, quan niệm về con người chủ yếu mang tính duy tâm, tôn giáo hoặc siêu hình Mặc dù triết học duy vật trước Mác xem con người là thực thể tự nhiên và xã hội, nhưng vẫn không thoát khỏi tính siêu hình và duy tâm Họ thường tuyệt đối hóa các thuộc tính tự nhiên hoặc xã hội của con người mà không nhận thức được vai trò của thực tiễn xã hội.
Quan niệm của triết học Marx-Lênin về con người (Chủ nghĩa duy vậtlịchsử)
Bảnchất conngười
Từquanniệm khoahọc củachủnghĩaMarx-Lêninvềconngười,có thểthấy:
Để giải thích một cách khoa học các vấn đề liên quan đến con người, cần phải xem xét từ góc độ bản tính xã hội tổng hòa của họ, chứ không chỉ dừng lại ở bản tính tự nhiên Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của các mối quan hệ kinh tế - xã hội trong việc hình thành và phát triển con người.
Năng lực sáng tạo của con người là động lực chính cho sự tiến bộ và phát triển xã hội Việc phát huy khả năng sáng tạo cá nhân sẽ thúc đẩy nguồn lực quan trọng này, giúp xã hội tiến bộ hơn Con người không chỉ là chủ thể mà còn là sản phẩm của lịch sử, với vai trò là thực thể xã hội, họ hoạt động thực tiễn để tác động và cải biến tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội.
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa không chỉ nhằm xóa bỏ các quan hệ kinh tế – xã hội áp bức mà còn giải phóng khả năng sáng tạo lịch sử của con người Mục tiêu của nó là xây dựng mối quan hệ kinh tế – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, từ đó mang lại tự do cho toàn nhân loại Qua đó, tự do và sáng tạo của mỗi cá nhân sẽ trở thành điều kiện cho sự phát triển tự do và sáng tạo của người khác, thực hiện triết lý đạo đức nhân sinh cao đẹp nhất của chủ nghĩa cộng sản: “Một người vì mọi người, mọi người vì một người.”
Vaitròcủachủnghĩa Mácvềconngườitrongđờisốngxãhội
Nhận thức rõ vai trò của con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng và nhân dân ta đang xây dựng và phát triển đất nước với nhiều chiến lược tập trung vào con người Cần đào tạo con người một cách sâu sắc, lấy tư tưởng và chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng Chiến lược phát triển con người có ý nghĩa quan trọng, đòi hỏi chính sách phát triển bền vững để không đi lệch khỏi tư tưởng Trong bối cảnh hiện tại, nhiều người tìm kiếm sự hoàn thiện qua tôn giáo và hệ tư tưởng truyền thống, trong khi một số khác sáng tạo tư tưởng mới phù hợp với người Việt Nam Không thể phủ nhận vai trò và triển vọng của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc phát triển con người, tạo đà cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để nâng cao chất lượng lao động, cần xây dựng chính sách phát triển lâu dài, có tầm nhìn xa Lĩnh vực phát triển con người là mục tiêu cao nhất của toàn dân, mở ra nhiều khả năng cho sự nghiệp phát triển đất nước Việc vận dụng khoa học và sáng tạo trong phát triển con người đã được khẳng định qua nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII.
Động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, là phát triển con người toàn diện về trí tuệ, thể chất, tinh thần và đạo đức Người lao động ngày càng giữ vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và sự phát triển kinh tế đất nước Theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chất lượng lao động là yếu tố quyết định thành công trong công cuộc đổi mới Thực tiễn xã hội hiện nay cho thấy sự mất hài hòa trong phát triển cá nhân, vì vậy mục tiêu xây dựng con người trong chủ nghĩa xã hội cần tập trung vào việc phát triển đồng bộ về đạo đức, trí tuệ và thể lực, với con người trở thành nhân tố quyết định trong lịch sử xã hội và lịch sử chính mình.
C.Mác đã coi giải phóng con người, “phát triển sự phong phú của bản chất conngười” là “mục đích tự thân” của sự phát triển và tiến bộ xã hội Sự nghiệp giải phóngcon người, phát triển con người toàn diện cùng với phát triển lực lượng sản xuất là“phương hướng duy nhất” để không chỉ “làm tăng thêm nền sản xuất xã hội”, mà cònđể “sản xuất ra những con người phát triển toàn diện” Theo C Mác, “sự thay thế xãhội tư bản với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, xuất hiện một liên hợptrong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tấtcả mọi người” Cùng với việc đưa ra những tiền đề vật chất cho sự giải phóng conngười, C.Mác còn phác họa ra một chế độ xã hội mới, mà ở đó các cá nhân không cònlệ thuộc vào thứ lao động khiến họ bị tha hoá, không có được tự do thật sự, thứ laođộng đã khiến họ trở nên “phiến diện, méo mó và bị hạn chế”, bởi khi đó “xã hội điềutiết toàn bộ nền sản xuất” và con người có thể tự hoàn thiện mình trong bất cứ lĩnh vựcnào mà mình thích Trong xã hội đó, cá nhân được phát triển một cách toàn diện,nhưngcánhânkhôngthểcóđượctự doriênglẻcủamình,bởi“trongđiềukiệncó cộng đồng thực sự, các cá nhân có được tự do khi họ liên hợp lại và nhờ sự liên hợpấy” Ở đây, C Mác đã giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ cá nhân và xã hội,đặt con người trong những mối quan hệ với các cá nhân khác, trong những quan hệ xãhội hiện thực và xác định C.Mác chỉ ra: “con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thìhoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy” Như vậy, quá trình giải phóng conngười là một quá trình tương tác biện chứng giữa con người và hoàn cảnh Nếu hoàncảnh càng tiến bộ, môi trường xã hội nhân văn bao nhiêu thì con người càng được giảiphóng,tự dopháttriểnnănglực củamình.
ThựctrạngpháttriểnnguồnnhânlựcViệt Namhiệnnay
Theo điều tra dân số quốc gia, tính đến tháng 12/2020, Việt Nam có tổng dân số 98.361.025 người, đứng thứ 15 thế giới về số lượng dân cư Đến cuối năm 2020, khoảng 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên đã chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch Covid-19, bao gồm những người mất việc, phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên, hoặc giảm giờ làm và thu nhập.
69,2%người bị giảm thu nhập, 39,9% phải giảm giờ làm/nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên vàkhoảng14,0%buộcphảitạmnghỉhoặctạmngừnghoạtđộngsảnxuấtkinhdoanh.
Khu vực dịch vụ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19, với 71,6% lao động chịu tác động Tiếp theo là khu vực công nghiệp và xây dựng, nơi có 64,7% lao động bị ảnh hưởng, trong khi tỷ lệ lao động bị ảnh hưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 26,4% Đối với lao động theo độ tuổi, tỷ lệ thiếu việc làm giảm dần theo trình độ chuyên môn kỹ thuật Cụ thể, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2020 của lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 2,87%, sơ cấp 2,25%, trung cấp 1,58%, cao đẳng 1,52% và từ đại học trở lên là 1,04% Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên năm 2020 đạt 24,1%, cao hơn 1,3 điểm phần trăm so với năm 2019 Tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 39,9%, trong khi ở khu vực nông thôn chỉ là 16,3%.
Sự khác biệt giữa lao động khu vực thành thị và nông thôn chủ yếu đến từ điều kiện tiếp cận đào tạo Lao động ở khu vực thành thị thường có nhiều cơ hội tham gia các khóa đào tạo, trong khi lao động nông thôn chủ yếu thực hiện các công việc đơn giản trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản Đặc thù công việc ở thành phố yêu cầu kỹ năng và tay nghề cao hơn, tạo ra sự chênh lệch rõ rệt về chất lượng lao động giữa hai khu vực này.
Nguồn nhân lực Việt Nam có nhiều điểm mạnh, bao gồm lực lượng lao động đông đảo, dân số trẻ và có trình độ đào tạo cơ bản, cùng khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào công việc Nhà nước cũng đã có nhiều chính sách hỗ trợ người lao động và các công ty đang triển khai kế hoạch sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế như tính chuyên môn hóa thấp, văn hóa kỷ luật lao động chưa cao, và tư tưởng lao động chưa công nghiệp Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng tiêu cực của COVID-19 đã làm gia tăng tình trạng thất nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam diễn ra chậm so với các nước khác, với sự thiếu hụt nhân lực có kỹ thuật cao và tình trạng "chảy chất xám" vẫn là thách thức lớn do kinh tế chưa đủ mạnh để hỗ trợ chính sách bồi dưỡng nhân tài Tuy nhiên, đại dịch đã tạo ra cơ hội để cả nước đoàn kết chống dịch và cải thiện nền kinh tế Những hành động nhân văn như đón công dân về nước và chi trả chi phí chữa trị đã tạo niềm tin cho người lao động gốc Việt ở nước ngoài Trong bối cảnh dịch bệnh, việc hiện đại hóa các phương thức làm việc không cần gặp mặt trực tiếp ngày càng trở nên phổ biến, đánh dấu một bước tiến tích cực trong quá trình ứng dụng công nghệ.
Việt Nam đang tích cực áp dụng trí tuệ nhân tạo trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong ngành công nghiệp Ngành công nghiệp nước ta đã có những bước tiến đáng kể, với tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân, đóng góp khoảng 30% GDP Ngành này không chỉ là trụ cột xuất khẩu chủ lực mà còn giúp Việt Nam vươn lên vị trí thứ 22 trong bảng xếp hạng các quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới vào năm 2018 Một số ngành công nghiệp ưu tiên đã trở thành những ngành lớn nhất, góp phần đưa Việt Nam hội nhập thành công vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay và tình hình quốc tế, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt cho sự phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế bền vững Việt Nam cần rút ngắn thời gian và thực hiện các bước nhảy vọt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để nâng cao đời sống xã hội Do đó, mọi kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội cần gắn liền với việc đầu tư vào sự phát triển của từng cá nhân, gia đình và cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Vai trò nguồn lực con người trong Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xu hướng phát triển tất yếu mà các nước đang theo đuổi, trong đó Việt Nam cần hướng tới mục tiêu phát triển mạnh mẽ theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện thành công quá trình này, cần có môi trường chính trị ổn định và các nguồn lực thiết yếu như nguồn nhân lực, vốn, tài nguyên thiên nhiên và cơ sở vật chất kỹ thuật Các nguồn lực này tương tác chặt chẽ và cùng tham gia vào quá trình tân tiến hóa quốc gia, nhưng vai trò và mức độ tác động của chúng khác nhau Trong đó, nguồn nhân lực cần đảm bảo đủ số lượng và chất lượng, trở thành yếu tố phát triển chính yếu, đáp ứng nhu cầu mới phát sinh từ lực lượng con người.
Vai trò quyết định của nguồn lực con người đến sự thành bại của công cuộc đổimớiđấtnướcđược biểuhiệnởnhữngđiểmsau:
Các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và khí hậu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia, nhưng chúng chỉ là tiềm năng và không thể tự phát huy tác dụng Yếu tố quyết định chính là nguồn lực con người, đóng vai trò trung tâm trong việc kết hợp và khai thác các nguồn lực khác Con người không chỉ khởi dậy mà còn phát huy tiềm năng của những nguồn lực sẵn có, kết nối chúng để tạo ra giá trị tổng hợp và tác động tích cực vào quá trình sản xuất đổi mới Do đó, trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố quan trọng nhất.
Trong bối cảnh các nguồn lực khác ngày càng hạn chế và dễ bị cạn kiệt, nguồn lực con người nổi bật với trí tuệ vô tận Tính vô tận này không chỉ thể hiện qua khả năng tái sinh của bộ não, mà còn ở khả năng phát triển và nâng cao chất lượng kiến thức khi được chăm sóc và khai thác đúng cách Năng lực học tập và nhận thức của con người không có giới hạn, cho phép họ vượt qua cả những rào cản của thời đại mình đang sống.
Trí tuệ con người, khi được vật thể hóa, trở thành một lực lượng sản xuất mạnh mẽ, thúc đẩy nền kinh tế tiến bộ hướng tới nền kinh tế trí thức Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang diễn ra với tốc độ chóng mặt, nhờ vào sức mạnh sáng tạo của con người, giúp nâng cao các nguồn lực sẵn có Sự phát triển của công nghệ hóa và trí tuệ nhân tạo đã mang đến những biến đổi kỳ diệu cho thế giới, minh chứng cho khả năng vô hạn của trí tuệ con người trong việc khám phá và cải tiến.
Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia và thực tiễn trong nước cho thấy sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa chủ yếu phụ thuộc vào việc hoạch định đường lối chính sách con người và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh tế - xã hội, tức là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Nguồn lực con người đóng vai trò quyết định trong thành công của công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Xu hướng phát huy nguồn nhân lực đang trở thành một xu thế toàn cầu, với nguồn nhân lực chất lượng cao về trí tuệ và tay nghề sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ cho mỗi quốc gia Các nước đang phát triển đang tăng cường đầu tư cho giáo dục và đào tạo nhân tài, đồng thời áp dụng các chính sách ưu đãi nhằm ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cho đất nước, tôi xin đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo và phát triển kỹ năng cho người lao động, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Nâng cao hơn nữa đến chất lượng con người và chất lượng cuộc sống
Nghiên cứu và phát triển các chính sách liên quan đến việc làm, tiền lương, an sinh xã hội, bảo trợ thất nghiệp, nhà ở xã hội, trợ giá và hỗ trợ lao động vùng khó khăn là cần thiết để nâng cao chất lượng sống Những cải thiện này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nguồn lực con người mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Để nâng cao chất lượng con người, cần chú trọng đến chất lượng cuộc sống, bao gồm việc nuôi dưỡng cả về vật chất lẫn tinh thần Điều này đảm bảo rằng con người có thể lực tốt, trí tuệ sáng suốt và an tâm tập trung vào nghiên cứu cũng như phát triển kinh tế.
Nhà nước cần xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, xác định rõ trách nhiệm của các nhà hoạch định chính sách và toàn bộ hệ thống chính trị Doanh nghiệp và tổ chức cần chủ động tham gia và áp dụng các phương pháp quản lý phù hợp Đặc biệt, cần chú trọng đến sự phù hợp giữa người lao động và tổ chức, chế độ lương thưởng, đào tạo và phát triển nghiệp vụ, cơ hội thực hiện nhiệm vụ, cũng như các yếu tố tổ chức như hành vi lãnh đạo, mối quan hệ trong tổ chức, văn hóa và chính sách của tổ chức cùng môi trường làm việc.
Chính phủ và các cơ quan chức năng đang triển khai các biện pháp hiệu quả để giải quyết những vấn đề cấp bách và lâu dài liên quan đến nguồn nhân lực Điều này bao gồm việc khai thác, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực một cách hợp lý, nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc phát huy tiềm năng của công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân và các lĩnh vực dịch vụ.
Giáo dục và đào tạo nguồn lực con người là ưu tiên hàng đầu đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là ở nước ta, nơi mà việc tận dụng lợi thế lao động là rất cần thiết Để đạt được điều này, cần phải chú trọng từ khâu giáo dục kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp đến năng lực chuyên sâu Các Ban, Bộ, ngành cần đầu tư nghiên cứu để trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng thiết yếu phục vụ cho nghề nghiệp Đồng thời, cần liên tục điều chỉnh, đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy nhằm truyền tải hiệu quả đến người học, khuyến khích tư duy sáng tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển kinh tế, làm chủ công nghệ và tri thức Tập trung vào thực hành sẽ mang lại giá trị hơn là chỉ cung cấp kiến thức không có tính ứng dụng thực tế.
Đảng và Nhà nước cần xây dựng chính sách rõ ràng và minh bạch để trọng dụng nhân tài, đặc biệt là các nhà khoa học và chuyên gia có năng lực thực sự Cần phân biệt rõ ràng giữa tài năng thật và tài giả, giữa những người có tinh thần cống hiến và những người cơ hội trong các cơ quan công quyền.
Chính phủ cần đưa ra những quyết định đúng đắn về đầu tư vào nguồn nhân lực, cải thiện chính sách tiền tệ và tài chính, phát triển cơ sở hạ tầng, cũng như hiện đại hóa giáo dục Đây là những vấn đề quan trọng cần được chú trọng trong bối cảnh hiện nay.
Cải thiện thông tin về nguồn nhân lực một cách rộng rãi và dân chủ là rất cần thiết, giúp mọi người nhận thức rõ tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực ở cả cấp độ quốc gia và toàn cầu Cần tổ chức các đợt tuyên truyền sâu rộng để nâng cao nhận thức về chất lượng sống, học tập và giáo dục nghề nghiệp trong cộng đồng, đặc biệt là đối với thanh niên và học sinh.