1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ôn tập luật so sánh về hệ thống pháp luật anh, pháp và mỹ

104 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn Tập Luật So Sánh Về Hệ Thống Pháp Luật Anh, Pháp Và Mỹ
Tác giả ThS. Nguyễn Thị Hằng
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật So Sánh
Thể loại Đề Cương Hướng Dẫn Học Tập
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của chúa đất Việc xét xử của các toà này không thường xuyên, phương thức xét xử lạc hậu nên dễ bị thu hẹp thẩm quyền và tiêu vong khi các toà án hoàng gia vớ

Trang 1

I CÁC BỘ PHẬN CƠ BẢN CẤU THÀNH HỆ THỐNG NGUỒN LUẬT CỦA PHÁP LUẬT ANH

2 Theo bạn, tập quán của nước Anh trước năm 1066 có những hạn chế gì? Bằng cách nào người Anh biến các tập quán mang tính địa phương trở thành tập quán quốc gia?

3 Nhà vua William có vai trò gì đối với sự ra đời của thông luật Anh?

4 Vua Henry II có vai trò gì đối với sự ra đời của thông luật Anh?

5 Theo bạn, những yếu tố nào quyết định đến sự ra đời của thông luật Anh?

6 Các nhận định sau đây đúng hay sai? Giải thích:

a) Thông luật Anh (với tư cách là luật được áp dụng thống nhất toàn bộ lãnh thổ nước Anh thay thế cho luật và tập quán địa phương) ra đời dựa trên nguyên tắc Stare decisis

b) Pháp luật nước Anh không chịu ảnh hưởng từ Luật La Mã

c) Trước thế kỷ XIX, nước Anh không có luật thành văn.

1.1.1 Giai đoạn trước năm 1066: giai đoạn pháp luật Ănglô – Xắc xông

a) Bối cảnh lịch sử

- Nước Anh chịu sự đô hộ của người La Mã suốt 5 thể kỷ

- Kinh tế: có sự đan xen giữa phương thức sản xuất bộ lạc và phong kiến;

Trang 2

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 2

- Hành chính: đất nước chia cắt thành nhiều vùng dân cư hoàn toàn độc lập với nhau Đứng đầu là lãnh chúa nắm trong tay vương quyền và thần quyền

- Bắt đầu có sự du nhập của đạo Cơ đốc giáo vào Anh;

b) Pháp luật

- Tập quán pháp là nguồn luật chiếm ưu thế tuyệt đối

- Một số đạo luật thành văn ra đời trong thời kỳ này nhưng hầu như không có tác động gì nhiều đến đời sống xã hội

- Luật La Mã gần như không có ảnh hưởng gì đến pháp luật Anh ở giai đoạn này bởi:

+ Luật La Mã là đặc quyền của công dân La Mã;

+ Nước Anh không có những điều kiện để áp dụng luật La Mã: trình độ dân trí, điều kiện kinh tế xã hội;

+ Vị trí địa lý của Anh; mục đích của La Mã khi xâm lược Anh;

+ Sự chống đối từ các lãnh chúa phong kiến

- Luật tập quán là nguồn luật duy nhất được áp dụng tại các vùng dân cư của nước Anh Luật tập quán giai đoạn này có những đặc điểm:

+ Mang tính địa phương ►cùng một hành vi vi phạm pháp luật, hệ quả pháp lý

ở những địa phương khác nhau thì khác nhau;

+ Phạm vi điều chỉnh hẹp, tồn tại lâu đời ►sau này, khi sử dụng tập quán địa phương để xét xử, các thẩm phán hoàng gia phải giải thích tập quán

+ Tập quán tồn tại dưới dạng nói ►dễ bị thay đổi nên muốn áp dụng phải chứng minh

- Đến cuối thế kỷ IX, pháp luật nước Anh chia thàn 3 miền pháp luật độc lập: luật Wessex, Luật Mercian, Luật Nordic

c) Cơ quan xét xử

- Đứng đầu hệ thống tư pháp là lãnh chúa phong kiến, bên dưới là các Toà địa hạt (County court) và Toà một trăm (Hundred court)

Trang 3

- Phương thức xét xử: hết sức tuỳ nghi, duy ý chí, mang tính chất thần thánh siêu nhiên Nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của chúa đất

Việc xét xử của các toà này không thường xuyên, phương thức xét xử lạc hậu nên dễ bị thu hẹp thẩm quyền và tiêu vong khi các toà án hoàng gia với phương thức xét xử hiện đại ra đời

=.> Giai đoạn này, pháp luật tập quán chiếm vị trí độc tôn, pháp luật Anh chưa có sự thống nhất trên lãnh thổ nên ở giai đoạn sau khi đất nước thống nhất đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật thống nhất

1.1.2 Giai đoạn từ 1066 – 1485: giai đoạn hình thành thông luật

v Các cuộc cải cách của vua William

+ Xây dựng và củng cố lòng tin của những người dân bản địa vào triều đình;

- Nội dung cải cách:

+ Về quân đội,

+ Về quản lý nhà nước

+ Về tư pháp

+Về pháp luật

- Kết quả của cuộc cải cách:

+ Thiết lập được bộ máy nhà nước tập trung mang tính tập quyền;

+ Tạo nền móng cho sự ra đời của bộ phận Thông luật ở giai đoạn sau

v Sự ra đời của thông luật

Sự ra đời của thông luật Anh gắn liền với quá trình ra đời và mở rộng thẩm quyền xét xử của các toà án hoàng gia

Trang 4

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 4

- Lấy lý do tài chính, các nhà vua của nước Anh đã biến thẩm quyền xét xử từ thẩm quyền chuyên biệt sang thẩm quyền chung

- Trên cơ sở Hội đồng cố vấn nhà vua được thành lập dưới thời William, vua Henry đệ nhị đã phát triển Hội đồng này thành các toà án hoàng gia: Toà án tài chính (Court of Exchenquer), Toà án thẩm quyền chung ( Court of Common Pleas); Toà nhà vua (Court of King’s Bench)

- Thời gian đầu, ảnh hưởng của toà án hoàng gia không nhiều bởi:

+ Sự chống đối từ các lãnh chúa phong kiến;

+ Việc xét xử tại toà án hoàng gia được coi như là đặc ân;

+ Thói quen với tập quan địa phương;

+ Các toà án hoàng gia tập trung tại London;

- Thẩm quyền của toà án hoàng gia dần được mở rộng bằng hình thức xét xử lưu động Theo đó, thay vì ngồi tại London, các thẩm phán sẽ đi tới tất cả các vùng trong cả nước để thực hiện việc xét xử Xét xử lưu động có các đặc điểm sau:

Nguồn luật áp dụng: các tập quán địa phương Tuy nhiên, các thẩm phán của

hoàng gia phải giải thích tập quán vì:

§ Có nhiều tập quán có thể cùng áp dụng để giải quyết vụ việc Tình tiết của vụ việc có thay đổi trong tình hình mới;

§ Vừa đảm bảo mang lại công lý cho người dân, vưa phù hợp với lợi ích của hoàng gia;

+ Phương thức xét xử của toà án hoàng gia mang tính hiện đại, khách quan; + Việc xét xử của các thẩm phán được ghi chép một cách cẩn thận:

§ Nhà vua sẽ kiểm tra, giám sát được công việc xét xử của các thẩm phán;

§ Mặt khác những ghi chép này sẽ trở thành những kinh nghiệm cho chính các thẩm phán về sau;

- Số lượng vụ việc tại toà án hoàng gia ngày càng tăng lên, bằng những ưu thế của mình đã thay thế các toà án của lãnh chúa phong kiến trở thành hệ thống toà

án duy nhất ở Anh

Trang 5

- Qúa trình gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm xét xử của các thẩm phán vào mùa đông

đã góp phần cho các thẩm phán ngày càng chịu ảnh hưởng của những quyết định

do thẩm phán khác

Dần dần, “common law” tức “luật chung” đã ra đời thay thế cho các tập quán điạ phương vào thế kỷ XIII Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XV, một hệ thống luật chung hoàn thiện ra đời khi đáp ứng đầy đủ những điều kiện hình thành thông luật

1.2 Đặc điểm của thông luật

Câu hỏi:

1 Bạn hãy cho biết thông luật Anh có những đặc trưng gì?

2 Bạn hãy chứng minh rằng thông luật Anh (với tư cách là nguồn luật được áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ nước Anh nhằm thay thế cho luật và tập quán địa phương) hình thành bằng con đường nội tại?

3 Bạn hãy chứng minh rằng thông luật Anh (với tư cách là nguồn luật được áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ nước Anh nhằm thay thế cho luật và tập quán địa phương) hình thành bằng con đường tư pháp?

4 Bạn hãy phân tích những nguyên nhân nào có thể tạo nên tính liên tục của thông luật Anh?

5 Tại sao thông luật Anh không phân chia thành lĩnh vực luật công và lĩnh vực luật tư?

6 Nêu nội dung; điều kiện áp dụng; vai trò; ưu và nhược điểm của nguyên tắc Stare decisis?

7 Tại sao chỉ có Viện Nguyên lão (Tòa án tối cao) mới thoát khỏi sự ràng buộc của nguyên tắc Stare decisis?

8 Bạn hãy cho phân tích nguyên nhân tại sao trước thế kỷ XIX, nguyên tắc Stare Decisis không được áp dụng một cách triệt để ở nước Anh?

Trang 6

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 6

a) Thông luật Anh được hình thành thông qua thực tiễn xét xử

b) Thông luật Anh coi trọng luật tố tụng hơn luật nội dung

Biểu hiện rõ ràng nhất cho đặc điểm này phải nói đến sự tồn tại của hệ thống trát (Writ) hay còn gọi là lệnh, các hình thức kiện

- Hiểu chung nhất, trát là một loại giấy nhân danh đức vua ra lệnh cho bị đơn hoặc phải tuân thủ các yêu cầu của bên nguyên hoặc bị xét xử và tuân thủ phán quyết

- Điều kiện để có được trát: trình bày thỉnh cầu lên nhà vua thông qua Văn phòng hoàng gia Nếu được Văn phòng chấp nhận bên nguyên sẽ đóng phí rồi được cấp trat

- Nội dung của trat:

+ Tình tiết của vụ việc;

+ Yêu cầu của bên nguyên;

+ Cơ sở pháp lý cho các yêu cầu

+ Thủ tục tố tụng: các hành vi tố tụng, đại diện cho các bên, trình tự đưa dẫn chứng, bồi thẩm đoàn, phương thức thi hành án v v Mỗi loại trat sẽ có một thủ tục tố tụng tương ứng

- Sự tồn tại của trat là một trong những biểu hiện bên ngoài cho thấy pháp luật Anh coi trọng thủ tục khiến cho người dân khó tiếp cận được với công lý:

+ “Không có trát, không có quyền”

+ Nếu không lựa chọn đúng loại trat, vụ việc sẽ bị bãi bỏ sau vài năm theo đuổi

vụ kiện tụng và phải tiến hành theo đuổi lại việc khiếu kiện từ đầu

c) Thông luật Anh không có sự phân chia thàn luật công và luật tư

d) Qúa trình hình thành của thông luật Anh mang tính chất liên tục, kế thừa

- Tính kề thừa: thể hiện ở việc thông luật Anh hình thành trên cơ sở các tập quán địa phương chứ không tiếp nhận pháp luật nước ngoài (Luật La Mã);

- Tính liên tục:

Trang 7

+ Do xã hội Anh chưa trải qua một cuộc biến động nào sâu sắc tới mức làm thay đổi bản chất của pháp luật

+ Chưa trải qua một cuộc pháp điển hóa nào toàn diện

e) Trong lĩnh vực dân sự, thông luật chỉ có một hình thức chế tài là phạt tiền

- Khoản tiền bồi thường mà bên nguyên nhận được có thể ít hơn, bằng hoặc nhiều hơn giá trị phần thiệt hại do bên bị đơn gây ra

- Hình thức chế tài này không ngăn chặn hiệu quả hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra;

f) Nguyên tắc “stare decisis” – nguyên tắc xương sống tạo tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của thông luật

Nguyên tắc “stare decisis” – nguyên tắc tiền lệ phải được tuân thủ Theo nguyên tắc này các thẩm phán khi xét xử phải căn cứ vào những bản án đã có trước đó nếu như có sự tương tự về mặt tình tiết

- Nguyên tắc này được coi là nguyên tắc xương sống cho sự tồn tại và ổn định của thông luật

- Nội dung của quy tắc án lệ gồm 3 nội dung sau:

§ Những quyết định do Tòa án tối cao đưa ra có tính chất bắt buộc đối với mọi toà án;

§ Những quyết định do toà phúc thẩm đưa ra có tính chất bắt buộc đối với mọi toà án cấp dưới (ngoài toà hình sự) và đối với chính toà án đó;

§ Những quyết định do toà Tối thượng đưa ra có tính chất bắt buộc đối với mọi toà cấp dưới

- Ở một chừng mực nhất định, nguyên tắc này lại làm cho thông luật Anh trở nên cứng nhắc, mất dần đi tính linh hoạt

- Hạn chế của nguyên tắc này được khắc phục bởi:

+ Tính độc lập của thẩm phán xem tính sự tương tự về mặt tình tiết;

+ Ngay cả khi có sự tương tự về mặt tình tiết, thẩm phán vẫn có thể né tránh việc

áp dụng bằng cách:

Trang 8

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 8

(1) Thẩm phán không đồng ý với phán quyết đó

(2) Thẩm phán không tìm thấy nguyên tắc pháp lý làm cơ sở cho phán quyết + Viện nguyên lão (Tòa án tối cao) – cấp xét xử cao nhất từ 1966 không buộc phải tuân thủ chính những phán quyết của mình đã đưa ra

=> Do tính cứng nhắc của hệ thống trát, của nguyên tắc “stare decisis” và hình thức chế tài nhiều khi không làm cho các bên khởi kiện đồng tình, đến cuối thế kỷ XV sự phát triển của thông luật gặp cản trở nghiêm trọng đòi hỏi thông luật phải thay đổi Tuy nhiên, người Anh đã không tiến hành cải tổ những quy định tồn tại mà xây dựng ra một hệ thống các quy định pháp luật mới song song tồn tại với thông luật – Luật công bằng ra đời

1.3 Các cách hiểu về thuật ngữ “common law”

- Thuật ngữ “common law” (viết thường) thường được hiểu như sau

+ Thứ nhất, “common law” có nghĩa là luật chung áp dụng thống nhất cho toàn

nước Anh chứ không phải luật địa phương

+ Thứ hai, khi equity ra đời thì thuật ngữ “common law” dùng để chỉ “luật” chứ

không phải là những lẽ phải hay công bằng (equity)

+ Thứ ba, “common law” tức là những luật không phải do cơ quan lập pháp tạo

ra Theo cách hiểu này, “common law” còn bao gồm cả equity law

+ Thứ tư, “common law” còn là luật không phải luật nước ngoài “Common law” hiểu theo cách như vậy thì nó bao gồm toàn bộ pháp luật Anh: luật thành văn, luật án lệ, luật công bằng

- Thuật ngữ “Common Law” (viết hoa) dùng để chỉ nhóm pháp luật của các

nước có nguồn gốc từ pháp luật Anh, theo đó án lệ được coi là nguồn luật chính thống và cơ bản

Trang 9

Thuật ngữ “common law” có rất nhiều cách hiểu, tuỳ từng hoàn cảnh, common law sẽ có những nghĩa khác nhau

5 Nêu mối quan hệ của luật công bằng và thông luật?

6 Trình bày nguyên nhân, mục đích, kết quả của cải cách tòa án 1873-1875 của nước Anh?

7 Nêu mối tương quan về giá trị pháp lý giữa thông luật và luật công bằng trước và sau cải cách tòa án 1873-1875?

8 Bạn hãy so sánh thủ tục tố tụng của tòa công bằng và tòa thông luật?

9 Bạn hãy so sánh bộ phận thông luật và luật công bằng?

10 Bạn hãy cho biết các khẳng định sau đúng hay sai? Giải thích ngắn gọn

a) Sau thế kỉ XV, nước Anh chỉ còn duy nhất các tòa thông luật b) Mục đích của các cuộc cải cách tòa án từ 1873-1875 của nước Anh nhắm mục đích thống nhất thông luật và luật công bằng c) Trong các bộ phận pháp luật của nước Anh, chỉ có bộ phận Luật Công bằng mới đem lại được công lý cho người dân

d) Thẩm phán của tòa công bằng là các linh mục.

Trang 10

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 10

2.1 Lịch sử hình thành của luật công bằng

- Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của luật công bằng:

+ Trong lĩnh vực dân sự: Không có án lệ để điều chỉnh những quan hệ mới nên

thẩm phán thường áp dụng những án lệ cũ để giải quyết vụ việc;

Chế tài duy nhất của thông luật

+ Trong lĩnh vực hình sự, các chế tài ngày càng trở nên nghiêm khắc;

+ Sự tồn tại của hệ thống trát đã khiến cho common law dần trở nên phức tạp

=> Những thực tế trên đã làm nảy sinh nhu cầu tìm kiếm giải pháp để khắc phục những hạn chế của thông luật trong những trường hợp:

+ Người dân không thể tiếp cận được với công lý;

+ Người dân khôn thỏa mãn với các giải pháp được đưa ra bởi tòa thông luật

- Người dân thường tìm cách thỉnh cầu lên nhà vua để có thể tìm thấy được sự công bằng Thỉnh cầu của nguyên đơn sẽ do Đổng lý văn phòng (Lord Chancellor) xem xét trước khi tới nhà vua

Dần dần, nhà vua giao toàn quyền cho Đổng lý văn phòng giải quyết các thỉnh cầu này Vì là linh mục cơ đốc giáo nên quyết định giải quyết vụ việc của ông ta chịu ảnh hưởng sâu sắc của những luật lệ, quy tắc của giáo hội và một phần của luật La Mã

+ Cuối thế kỷ XV, Nhà vua đã thành lập ra toà án công bằng được xét xử bằng

các thẩm phán xuất thân từ linh mục

─ Thủ tục tố tụng ở toà công bằng khác với thủ tục tố tụng sử dụng tại toà án hoàng gia:

+ Căn cứ cho việc xét xử của tòa công bằng là đơn thỉnh cầu (bill hoặc petition)

chứ không phải là trát như ở toà thông luật

+ Đại pháp quan sẽ phát hành trát triệu tập đòi bên bị cáo phải có mặt tại toà mà

không cần nêu lý do hay cơ sở pháp lý Bên bị sẽ bị tịch thu tài sản, bắt giữ, thậm chí bị bỏ tù nếu không đến có mặt tại toà

Trang 11

+ Tố tụng thẩm vấn: Bên bị sẽ trả lời chất vấn của Đại pháp quan trên cơ sở

tuyên thệ để buộc bị đơn tự khai các tình tiết của vụ việc là thủ tục tố tụng đặc biệt không có ở các toà án thông luật;

+ Ngôn ngữ được sử dụng ở toà công bằng ban đầu là tiếng La tinh sau đó đã

chuyển sang tiếng Anh trong khi tiếng Pháp vẫn đựợc duy trì ở toà thông luật trong một thời gian dài;

+ Phiên toà sẽ không có sự tham gia của bồi thẩm đoàn;

+ Các biện pháp khắc phục công lý của toà công bằng đưa ra cũng rất khác với

toà án thông luật: (1) Tuyên bố quyền của bên nguyên; (2) Lệnh buộc bên bị phải thực hiện hành vi nào đó; (3) Lệnh cấm bên bị tiếp tục thực hiện hành vi xâm phạm tới lợi ích của bên nguyên

=> Thủ tục tố tụng của toà công bằng đơn giản hơn toà thông luật rất nhiều

─ Từ cuối thế kỷ XVI, các phán quyết của toà công bằng đã được xuất bản

─ Cuối XVII, nước Anh cho phép kháng cáo đối với những quyết định của toà công bằng lên Thượng nghị viện

Như vậy, đến đầu thế kỷ XVI hệ thống pháp luật Anh được bổ sung thêm một nguồn pháp luật khác nhằm khắc phục cho những khiếm khuyết của thông luật là luật công bằng

v Mối tương quan giữa thông luật và luật công bằng

Cuộc cải cách toà án 1873 – 1875 có thể được coi là mốc quan trọng thể hiện mối tương quan giữa thông luật và luật công bằng:

─ Giai đoạn trước cải cách toà án: luật công bằng ra đời để bổ sung, lấp chỗ trống cho thông luật – “luật công bằng đi sau thông luật” (Equity follows the law)

§ Luật công bằng đưa ra nguyên tắc này nhằm tránh gây ra xung đột với các toà thông luật;

§ Được toà thông luật tham khảo với khía cạnh là những lẽ phải, lẽ công bằng bổ sung cho “luật” tức common law mà thôi

Trang 12

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 12

Tuy nhiên, chính thủ tục tố tụng đơn giản của toà công bằng đã khiến người có lợi ích bị xâm phạm dễ dàng tiếp cận được với công lý hơn là ở tòa thông luật nên uy tín của các toà này ngày càng cao

=> Như vậy, tính đến trước cuộc cải cách toà án, nước Anh đã tồn tại 2 hệ thống toà án độc lập với nhau, trong đó mỗi toà áp dụng thủ tục tố tụng cũng như áp dụng các quy phạm pháp luật khác nhau

─ Giai đoạn sau cải cách toà án: thông luật và luật công bằng được xem là hai

bộ phận độc lập, bình đẳng trong pháp luật Anh

+ Nguyên nhân của cuộc cải cách toà án 1873 – 1875:

Trước cải cách toà án, nước Anh tồn tại hai hệ thống toà án độc lập với nhau Mỗi toà lại sử dụng một thủ tục tố tụng cũng như pháp luật hoàn toàn khác nhau

đã làm tăng thêm tính phức tạp, tốn kém vốn có của thủ tục tố tụng của toà án Anh

+ Mục đích: nhằm chấm dứt tính hai mặt của thủ tục tố tụng bằng việc sát nhập

hai hệ thống toà án làm một

+ Kết quả: Đã xóa bỏ tình trạng tồn tại song song hai nhánh tòa án, sáp nhập hai

tòa làm một, chấm dứt tính chất hai mặt của thủ tục tố tụng

=> Sau cải cách toà án, bằng việc hợp nhất hai hệ thống toà án tồn tại song song vào một toà án duy nhất đã làm cho luật công bằng có vị trí ngang với thông luật, không còn là một bộ phận bổ sung cho thông luật như giai đoạn trước cải cách toà án

2.2 Đặc điểm của luật công bằng

a) Luật công bằng có một hệ thống những phương tiện pháp lý hoàn toàn mới mẻ, linh hoạt hơn thông luật

- Tính mềm dẻo:

Vì là quan điểm của cá nhân thẩm phán nên luật công bằng mang tính mềm dẻo, linh hoạt, mềm dẻo hơn thông luật nhằm giải quyết các vụ việc không được giải quyết hoặc chưa được giải quyết một cách thoả đáng bới toà thông luật

Trang 13

- Phương tiện pháp lý mới mẻ, linh hoạt:

Trong khi biện pháp duy nhất mà thông luật có được là bồi thường thiệt hại thì luật công bằng có các biện pháp:

(1) Tuyên bố quyền của bên nguyên;

(2) Lệnh buộc bên bị phải thực hiện hành vi nào đó;

(3) Lệnh cấm bên bị tiếp tục thực hiện hành vi xâm phạm tới lợi ích của bên nguyên

Với các các biện pháp này, luật công băng có thể cấm bị đơn thực hiện hành vi tiêu cực để gây ra thiệt hại cho nguyên đơn tức là mang tính chất ngăn ngừa thiệt hại có thể xảy ra trên thực tế trong khi thông luật chỉ có thể buộc bị đơn phải bồi thường sau khi đã thực hiện hành vi bất công Bên cạnh đó, luật công bằng cũng

có thể bắt buộc thực hiện một hành vi cụ thể

v Chính nhờ những biện pháp mới của luật công bằng mà các quy định về chế định uỷ thác “trust” của thông luật trở nên hoàn thiện hơn và là một trong những chế định đặc thù trong pháp luật Anh

b) Thủ tục tố tụng của toà công bằng đơn giản hơn của toà thông luật

- Không sử dụng bồi thẩm đoàn trong quá trình xem xét các khiếu kiện;

- Thủ tố tụng tố tụng của toà công bằng cũng đơn giản

- Đối với chứng cứ, thẩm phán ở toà công bằng có thể can thiệp và bắt buộc một trong các bên trình ra một chứng cứ nào đó

c) Luật công bằng có một số nguyên tắc không có trong thông luật

─ “Luật công bình đi sau thông luật” (Equity follows the law)

─ Nguyên tắc “ người gõ cửa toà công bình phải có bàn tay sạch

=> Các nguyên tắc của toà công bằng cho thấy thẩm phán công thực hiện công việc “vì công lý” và không có kỳ vọng thay đổi các quy phạm của toà án thông qua luật lập ra Nhờ vậy, luật công bằng đã vượt qua sự cản trở của toà thông luật để tạo ra một hệ thống pháp luật mới – luật công bằng tồn tại song song với thông luật do toà án hoàng gia tạo nên

Trang 14

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 14

3) Luật thành văn

Câu hỏi:

1 Bạn hay cho biết mối tương quan giữa luật thành văn và án lệ trong hệ thống pháp luật Anh?

2 Bạn hãy cho biết cách thức giải thích luật của thẩm phán Anh khác gì

so với cách thức giải thích luật của thẩm phán trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa và hệ thống XHCN? Tại sao thẩm phán Anh lại có cách thức giải thích như vậy đối với pháp luật thành văn?

3.1 Sơ lược về pháp luật thành văn

─ Sau Cách mạng tư sản Anh vào thế kỷ XVII, Nghị viện trở thành cơ quan quyền lực tối cao thì các văn bản do Nghị viện ban hành (luật) có giá trị pháp lý cao nhất trong trật tự thứ bậc các nguồn luật

─ Luật thành văn của Anh có tính liên tục và có mối quan hệ chặt chẽ với quá khứ

─ Luật thành văn chỉ điều chỉnh một phạm vi nhỏ hẹp những quan hệ xã hội chưa có án lệ để điều chỉnh hoặc những lĩnh vực mới hoàn toàn xa lạ với thông luật

3.2 Mối tương quan giữa thông luật và luật thành văn

v Về phương diện pháp lý, Luật ban hành của Nghị viện có giá trị cao hơn

II HỆ THỐNG TÒA ÁN ANH

1 Đặc điểm hệ thống toà án Anh

Câu hỏi:

Trang 15

1 Bạn hãy cho biết nguyên tắc phân chia hệ thống tòa án Anh thành các tòa cấp thấp và cấp cao?

2 Bạn hãy chứng minh rằng hệ thống tòa án Anh không có sự phân chia

5 Hãy trình bày về một số loại thẩm phán của nước Anh?

6 Theo bạn, Việt Nam có nên sử dụng thẩm phán không chuyên như trong hệ thống pháp luật Anh?

7 Theo bạn, tại sao thẩm phán của nước Anh thường được bổ nhiệm từ các luật sư?

8 Các nhận định sau đây đúng hay sai? Giải thích

a) Mọi tòa án cấp cao đều có khả năng tạo ra án lệ

b) Mọi bản án của tòa án có thẩm quyền tạo ra án lệ đều trở thành án lệ c) Án lệ do Viện Nguyên lão (ngày nay là Tòa án tối cao) có giá trị ràng buộc đối với mọi tòa án của nước Anh

d) Mọi án lệ của Tòa án tối cao của Vương quốc Anh đều có giá trị bắt buộc đối với các tòa án cấp dưới của nước Anh và xứ Wales

─ Hệ thống tòa án Anh không có sự phân định rõ ràng về thẩm quyền xét xử và cấp xét xử;

─ Cấu trúc của tòa án Anh nếu nhìn từ góc độ của các luật gia châu Âu lục địa thì không được xem là một hệ thống tòa án thống nhất;

─ Hệ thống toà án của Anh chủ yếu sử dụng mô hình tố tụng tranh tụng;

─ Không có nguyên tắc rõ ràng nào trong việc thiết lập hệ thống toà án Anh;

Trang 16

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 16

─ Toà án Anh không chỉ thực hiện chức năng xét xử mà còn thực hiện chức năng làm luật và tạo lập chính sách;

─ Chế độ bổ nhiệm thẩm phán của Anh khá phức tạp;

─ Thủ tục tố tụng của Anh phức tạp, chi phí cao nên hầu hết các tranh chấp liên quan đến dân sự, thương mại người dân thường đưa ra giải quyết bằng các thủ tục ngoài tư pháp

2 Cấu trúc của hệ thống toà án Anh

─ Hệ thống tư pháp của Anh có thể chia thành :

+ Các toà có thẩm quyền chung: có thẩm quyền xét xử hầu hết các vụ việc dân

sự và hình sự trừ một số vụ việc thuộc thẩm quyền của các toà án đặc biệt;

+ Các toà án đặc biệt: có thẩm quyền xét xử chuyên biệt đối với một số loại vụ

việc nhất định Có thể kể tới các toà sau:

§ Toà công nghiệp;

§ Toà phúc thẩm về việc làm để giải quyết các tranh chấp lao động;

§ Toà về các hành nghề có điều kiện dành cho các vụ việc liên quan tới cạnh tranh

+ Ngoài ra, hệ thống tư pháp của Anh còn phải kể điến một số cơ quan xét xử

bán tư pháp khác trong lĩnh vực hành chính

2.1 Các toà án cấp dưới (Các toà án địa phương)

─ Toà này được thành lập ở mỗi khu nhất định.Tuy nhiên, người dân có thể lựa chọn bất kỳ toà án nào trong khoảng 400 toà án địa phương phụ trách việc xét xử

sơ thẩm;

─ Các toà án cơ sở có thẩm quyền đối với những vụ dân sự đơn giản đặc biệt là

có liên quan đến hôn nhân, gia đinh; các tội hình sự ít nghiêm trọng (98% các vụ hình sự)

─ Thủ tục xét xử ở toà này thường đơn giản và không quá trang trọng, do một thẩm phán tiến hành và không có bồi thẩm đoàn;

─ Phán quyết của các toà án này tạo ra không bao giờ trở thành án lệ

Trang 17

a) Toà án địa hạt 1 (County courts)

─ Đựơc thành lập theo Luật năm 1846 Hiện nay, có khoảng 270 County courts

─ Thẩm quyền: chỉ giới hạn trong các vụ việc dân sự và một số rất ít các vụ việc liên quan tới cảnh sát Công việc của Toà này thường liên quan tới2:

§ Các vụ việc liên quan tới việc kiện đòi nhà và đất trong khu vực;

§ Các vụ bồi thường thương tật;

§ Các vụ liên quan tới vi phạm hợp đồng;

Điều kiện để toà này thụ lý các vụ việc dân sự là giá trị tranh chấp không vượt quá 50.000 bản Anh Những vụ việc còn lại sẽ được chuyển lên cho Toà án cấp

cao (High court) trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác

─ Hội đồng xét xử: các vụ việc của toà này thường được xét xử bằng 1 thẩm phán

─ Thẩm phán: mỗi toà địa hạt sẽ có ít nhất một thẩm phán quản hạt (circuit jude) ở toà County court hay 1 thẩm phán quận (district judge) ở toà District court

+ Thẩm phán quản hạt: có thẩm quyền xét xử tại nhiều thành phố khác nhau

trong phạm vi thẩm quyền lãnh thổ của toà án Thẩm phán quản hạt do Nữ hoàng bổ nhiệm chủ yếu từ các luật sư bào chữa có hơn 10 năm kinh nghiệm hoặc những đối tượng khác chủ yếu là luật sư tư vấn Có nhiệm kỳ suốt đời và chỉ bị Đại pháp quan miễn nhiệm trong trường hợp thiếu năng lực hoặc có cư xử sai lệch

1 Ở nông thôn toà này có tên là County Courts (Toà án quản hạt, Toà án địa hạt), còn ở các quận có tên District Courts (Toà án quận)

Trang 18

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 18

+ Thẩm phán quận: Thẩm phán quận được bổ nhiệm trong số những người có

quyền tham gia bào chữa ở toà toà án cấp thấp3 Như vậy thẩm phán quận có thể được bổ nhiệm từ cả luật sư bào chữa và luật sư tư vấn

─ Các phán quyết của toà địa hạt có thể bị kháng cáo, kháng nghị tới Toà án cấp cao (High court) hoặc trực tiếp lên Toà phúc thẩm (Court of Appeal)

b) Toà pháp quan (Magistrates’ Court)

Hiện nay trên toàn lãnh thổ nước Anh có khoảng 700 toà án này với 30.000 thẩm phán4

─ Đây là toà có thẩm quyền đối với cả vụ việc dân sự và hình sự Tuy nhiên việc xét xử các vụ án hình sự vẫn là công việc chủ yếu của toà này Cụ thể:

+ Lĩnh vực hình sự: các vụ vi phạm luật giao thông nhỏ mà phần bị cáo nhận

tội và đồng ý nộp tiền phạt qua đường bưu điện để tránh phải hầu toà, các tội ít nghiêm trọng, tội phạm vị thành niên, ngoài ra toà này còn có thẩm quyền đối với những vụ hình sự tương đối nghiêm trọng mà bị đơn có thể lựa chọn toà này hoặc Toà hình sự cấp cao (High court) để giải quyết5

+ Lĩnh vực dân sự: có thẩm quyền đối với các vụ việc dân sự nhỏ có liên quan

tới nghĩa vụ tài chính với nhà nước (bảo hiểm quốc gia, đóng lệ phí sử dụng dịch

vụ công cộng; những vụ liên quan tới hôn nhân, gia đình

3 Xem, Michel Fromont, Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới, Bản dịch của Nxb Tư pháp Tr 141

4 Xem, Michel Fromont, Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới, Bản dịch của Nxb Tư pháp Tr 140

5 Xem ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật So sánh Nxb CAND Tr236

6 Còn có tên gọi là thẩm phán không chuyên, thẩm phán hoà bình

Trang 19

lương Việc sử dụng thẩm phán không chuyên thay vì chuyên nghiệp để giải quyết những vụ việc ít nghiêm trọng mang nặng yếu tố lịch sử7

§ Vì không có kiến thức pháp lý nên họ được sự tư vấn của 1 viên thư ký toà là người được đào tạo về luật, người này cũng có thể tham gia nghị án nếu thẩm phán yêu cầu Để tránh sự tuỳ nghi thẩm phán hoà giải xét xử trong hội đồng gồm ít nhất 2 người và nhiều nhất là 7 người;

+ Thẩm phán hưởng lương8 (stipendiary magistrate) làm việc tại các toà đại pháp quan tại London

§ Do Nữ hoàng bổ nhiệm trong số các luật sư bào chữa hoặc luật sư tư vấn

đã có ít nhất 7 năm kinh nghiệm theo đề nghị của Chủ tịch thượng viện Họ làm việc cả ngày, được hưởng lương, có nhiệm kỳ suốt đời;

─ Phiên xét xử tại toà này do một thẩm phán đảm nhiệm với sự giúp đỡ của thư

ký Tại phiên xét xử cả thẩm phán và thư ký đều có thể mặc thường phục

─ Phán quyết của toà này có thể được kháng cáo ở toà Toà hình sự cao cấp (Crown court) hoặc Toà vành móng ngựa Hoàng gia (Queen’s Bench Division)

2.2 Toà án tối cao (Supreme Court of Judicature)

─ Toà tối cao ở Anh ra đời sau cải cách toà án 1873 – 1875 bằng việc tập hợp toàn bộ các toà án cao cấp của Anh

─ Trước tháng 10 năm 2009, toà án tối cao ở Anh không phải là toà án cao nhất trong hệ thống toà án Khi Luật cải tổ Hiến pháp năm 2005 có hiệu lực vào tháng 10/2009 thì Tòa Án Tối Cao đã tiếp nhận toàn bộ chức năng xét xử của ủy ban phúc thẩm của Thượng Nghị Viện và trở thành tòa án tối cao thực sự của Vương quốc Anh

─ Cấu trúc của Toà án tối cao (Supreme Court of Judicature) gồm có:

(1) Toà án cao cấp thẩm quyền chung (High court);

7 Xem ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật So sánh Nxb CAND Tr235

Trang 20

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 20

(2) Toà án phúc thẩm (Court of Appeal);

(3) Toà Hình sự trung ương (Crown court)

─ Các toà trong Toà án tối cao có những đặc trưng sau:

(1) Các toà này đều tập trung ở những thành phố lớn, đặc biệt là Lodon (2) Thẩm quyền của toà này có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ nước Anh mà không bị giới hạn trong một khu vực dân cư như ở các toà cấp dưới;

(3) Tất cả các thẩm phán ở các toà này đều là các thẩm phán chuyên nghiệp được bổ nhiệm từ các luật sư tranh tụng; xet xử theo nguyên tắc tập thể;

(4) Bồi thẩm đoàn được sử dụng ở Toà tối cao trong một số trường hợp; (5) Đây là các toà có khả năng tạo ra án lệ

a Toà án cao cấp thẩm quyền chung (High court);

─ Vừa thực hiện chức năng của một toà dân sự sơ thẩm vừa là toà hình sự

phúc thẩm đối với những kháng cáo, kháng nghị từ các toà cấp dưới

─ Toà cấp cao thẩm quyền chung gồm 3 bộ phận:

+ Toà Nữ hoàng (Queen’s Bench Divisiony) chuyên về những vụ việc thuộc common law,

+ Toà đại pháp chuyên trách ( Chancery Division) chuyên về những vụ việc của equity law,

+ Toà gia đình chuyên trách ( Family Division) giải quyết những vụ việc về gia đình

+ Toà Nữ hoàng (Queen’s Bench Divisiony) là bộ phận lớn nhất của Toà cấp

cao Toà nữ hoàng còn bao gồm 2 toà: Toà thương mại và Toà hàng hải Toà này có 2 thẩm quyền chính là thẩm quyền xét xử và thẩm quyền giám sát

§ Chức năng xét xử: toà này vừa thực hiện việc xét xử đối với những vụ

việc liên quan đến hợp đồng và trách nhiệm bồi thường, và trong lĩnh vực hàng hải, thương mại Toà này thực hiện chức năng xét xử phúc thẩm đối với những

Trang 21

kháng cáo, kháng nghị từ toà Toà pháp quan (Magistrates’ Court) và Toà Hình

sự trung ương (Crown court) Ngoài ra toà này còn xét xử đối với các quyết định hành chính

§ Chức năng giám sát: Toà này thay mặt cho Nữ hoàng giám sát hoạt động

của các toà án cấp dưới và các cơ quan của chính phủ

+ Toà đại pháp chuyên trách ( Chancery Division) Toà này chuyên giải quyết

những vấn đề thuộc lĩnh vực luật kinh doanh, luật uỷ thác, luật tài sản và luật đất đai Tất cả các kháng cáo về thuế đều được giải quyết tại Toà đại pháp Toà đại pháp còn có toà chuyên biệt trực thuộc toà này để giải quyết những vụ việc về sở hữu trí tuệ và luật công ty

+ Toà gia đình chuyên trách ( Family Division) toà này chuyên giải quyết

những vụ việc liên quan đến ly dị, nuôi con, tài sản, điều trị bênh cũng như tất cả những vụ việc liên quan tới sức khoẻ và lợi ích của trẻ em, độc quyền xét xử các

vụ giám hộ trẻ em

─ Người đứng đầu Phân toà Nữ hoàng là Huân tước Chánh án (Lord Chief

Justice), người đứng đầu Phân toà đại pháp là Phó Chưởng ấn (Vice – Chancelleor), người đứng đầu Toà gia đình là Chánh án (Prescident) Tất cả những người này có quy chế giống như các thẩm phán ở Toà tối cao trừ việc họ được Nữ hoàng bổ nhiệm theo đề nghị của Thủ tướng chính phủ9

=> Tất cả những phán quyết của Toà cấp cao về dân sự sẽ có thể bị kháng cáo, kháng nghị ở Toà dân sự của Toà phúc thẩm; đối với hình sự sẽ được gửi trực tiếp lên Thượng nghị viện10

─ Khả năng tạo ra án lệ:

+ Có 10% án lệ của tòa này được công bố

+ Án lệ của Toà cấp cao có giá trị bắt buộc đối với tất cả các toà án cấp dưới

nhưng chỉ có giá trị tham khảo đối với các toà án khác thuộc Toà cấp cao Án lệ của Toà cấp cao cũng có giá trị tham khảo đối với các toà án cấp cao hơn vì các

9 Xem, Michel Fromont, Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới, Bản dịch của Nxb Tư pháp Tr 143

Trang 22

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 22

toà án cấp cao hơn thường ngại thay đổi những quy định đang tồn tại, đặc biệt nếu các quy định đó đã được chấp nhận trong một thời gian dài và các chủ thể đã quen dựa vào chúng để hành xử trong cuộc sống hàng ngày11

b Toà án phúc thẩm (Court of Appeal)

─ Trong nhóm Toà tối cao, Toà phúc thẩm đứng trên hai tòa còn lại nếu xét theo cấp xét xử vì hầu hết các phán quyết của hai toà còn lại sẽ được phúc thẩm tại toà này (trừ các phán quyết về hình sự của Toà cấp cao – High court)

─ Để thực hiện chức năng xét xử phúc thẩm của mình, Toà phúc thẩm bao gồm

2 bộ phận toà:

+ Bộ phận Toà dân sự: xét xử những vụ việc đã được giải quyết bởi Toà cấp

cao, Toà địa hạt và một số cơ quan tài phán khác (cơ quan tài phán lao động; đất đai, tị nạn và nhập cư) Đứng đầu toà dân sự là một trưởng ban

+ Bộ phận Toà hình sự : chỉ xét xử các bản án của Toà hình sự trung ương khi

có đơn yêu cầu12 Đứng đầu toà hình sự chuyên trách là người đứng đầu Phân toà Nữ hoàng của Toà tối cao

─ Vì số lượng kháng cáo, kháng nghị đựơc giải quyết tại toà này lớn bất kỳ một toà án nào khác kể cả Thượng nghị viện nên người ta cho rằng Chánh án toà phúc thẩm trên thực tế là thẩm phán có thế lực nhất ở Anh

─ Khả năng tạo ra án lệ:

+ Có tới 25% các bản án của toà này được xuất bản;

+ Án lệ của Toà phúc thẩm có giá trị bắt buộc đối với tất cả các toà án cấp dưới

(trừ một số trường hợp) và ngay cả với Toà phúc thẩm Ngày nay, Toà phúc thẩm là toà án duy nhất chịu sự ràng buộc bởi chính những án lệ của mình Các toà phúc thẩm sẽ không đi chệch các quyết định trước đó của mình nếu các bản

án đó không bị “bác bỏ” bởi Thượng viện Tuy nhiên, để phán quyết của mình

11 Xem Micheal Bogdan, Luật So sánh Tr 95

12 Xem ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật So sánh Nxb CAND Tr240

Trang 23

phù hợp với những thay đổi của điều kiện mới, Toà án phúc thẩm sẽ vận dụng phương pháp phân tích sự khác biệt nhằm chỉ ra sự khác nhau về mặt tình tiết để cởi trói khỏi chính án lệ do mình tạo ra13

c Toà Hình sự trung ương (Crown court)

─ Toà Hình sự trung ương là sản phẩm của quá trình phát triển toà hình sự qua nhiều thế kỷ Đây là toà án cấp trên của Toà pháp quan

─ Thẩm quyền: có cả thẩm quyền xét xử sơ thẩm và phúc thẩm

+ Thẩm quyền sơ thẩm đối với các vụ việc hình sự nghiêm trọng (là những vụ

việc xét xử đòi hỏi phải có đoàn bồi thẩm gồm 12 thành viên để xem xét người

bị buộc tội là có tội hay vô tội)14 và một vài vụ việc dân sự15

+ Thẩm quyền phúc thẩm đối với những vụ việc của Toà đại pháp

─ Thẩm phán của Toà hình sự trung ương là thẩm phán của Toà cấp cao (High

court), thẩm phán của Toà quản hạt (circuit judge) và thẩm phán không chuyên (recorders) Các thẩm phán quản hạt chính là những thẩm phán của Toà địa hạt (County court), còn thẩm phán không chuyên là các luật sư tranh tụng và luật sư

tư vấn hành nghề riêng lẻ và hành nghề thẩm phán bán thời gian Những vụ án nghiêm trọng nhất sẽ được xét xử bởi thẩm phán toà cấp cao và thẩm phán quản hạt lâu năm xét xử16

─ Khả năng tạo ra án lệ: Không có khả năng tạo ra án lệ

2.3 Ủy ban phúc thẩm của Thượng nghị viện (The House of Lords Appellate, The House of Lords Judicial Committee) 17

13 Xem Micheal Bogdan, Luật So sánh Tr 96

14 Xem Micheal Bogdan, Luật So sánh Tr 95

15 Xem ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật So sánh Nxb CAND Tr240

16 Xem ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật So sánh Nxb CAND Tr241

17 Từ tháng 10 năm 2009 trở đi, Viện Nguyên lão bị xóa bỏ thay thế bằng Tòa án tối cao Tuy nhiên, tác

Trang 24

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 24

─ Khác với quốc hội của các nước khác, Thượng nghị viện Anh là cấp xét xử cao nhất nhưng theo Luật tổ chức toà án không phải là một toà án nằm trong cấu trúc toà án Tuy nhiên không phải tất cả các thượng nghị sĩ tiến hành xét xử mà

Ủy ban phúc thẩm của Thượng viện là cơ quan tiến hành xét xử

─ Ủy ban phúc thẩm (Apeal Committee) bao gồm Đại chưởng ấn, các thượng nghị sĩ được hưởng lương để giúp Thượng nghị viện xét xử phúc thẩm (Lords of Ordinary) và các thượng nghị sĩ phụ trách vấn đề tư pháp (Law Lord)18 Các thượng nghị sĩ phụ trách vấn đề tư pháp được bổ nhiệm từ các luật sư bào chữa

đã có 15 năm kinh nghiệm hành nghề hoặc trong số các thẩm phán của Toà tối cao Những người này được mang chức danh thượng nghị sĩ suốt đời Tổng số thượng nghị sỹ trong Ủy ban không quá 12 người, trong đó thường có 1 thẩm phán North Irland và 2 thẩm phán Scotland19

─ Thẩm quyền của Ủy ban phúc thẩm:

+ Trong lĩnh vực dân sự:

§ Các phấn quyết của Toà án tối cao (trước năm 1969 Thượng nghị viện chỉ

có thẩm quyền đối với Toà phúc thẩm trong Toà án tối cao mà thôi)

§ Các phán quyết của Toà án tối cao Scotland (Court of Session)

§ Các phán quyết của Toà án tối cao North Irland (Supreme Court of North Irland)

+ Trong lĩnh vực hình sự:

§ Các bản án hình sự của Toà án cao cấp;

§ Các bản án hình sự của toá án cao cấp North Irland

Để được Ủy ban phúc thẩm thụ lý, bên có đơn kháng cáo phải có giấy phép kháng cáo do chính toà án có phán quyết bị kháng cáo cấp hoặc do Ủy ban phúc thẩm cấp Riêng đối với các vụ án hình sự, bên kháng cáo còn phải có thêm xác

18 Xem ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật So sánh Nxb CAND Tr244

19 Xem, Michel Fromont, Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới, Bản dịch của Nxb Tư pháp Tr 146

Trang 25

nhận của toà án cấp dưới rằng vụ việc bị kháng cáo có liên quan đến cộng đồng,

xã hội Thực tế chỉ có những bản án quan trọng và đặc biệt phức tạp thì mới được xem xét20

─ Khi xét xử phúc thẩm đối với các phán quyết của toà Scotland hay North Irland, Thượng nghị viện phải áp dụng pháp luật của Scotland hay của North Irland để giải quyết Nếu các quy định pháp luật của Scotland hay của North Irland đưa ra giải thích, áp dụng giống như pháp luật của Anh quyết định của Thượng viện nghị viện đưa ra cũng có giá trị như án lệ ở nước Anh21

Trên thực tế, Thượng nghị viện hoạt động như một toà thượng thẩm, nghĩa là nó

tự giữ nguyên hoặc huỷ bỏ quyết định phúc thẩm mà không ra một bản án khác

để thay thế Đối với những bản án bị huỷ, Thượng viện sẽ trả lại cho toà cấp dưới đã xét đã xét xử sơ thẩm kèm theo quan điểm của mình22

─ Phiên toà do Ủy ban phúc thẩm tiến hành thường có sự tham gia của 5 thượng nghị sỹ hưởng lương tham dự, những vụ việc nghiêm trọng hơn thì số lượng thẩm phán tham gia là 7 người, thậm chí là 9 người23

─ Phán quyết do Ủy ban phúc thẩm của Thượng viện là phán quyết cuối cùng nhưng Thượng viện vẫn giữ lại thẩm quyền xem xét lại những phán quyết của mình trong quá khứ và nếu thấy thoả đáng, Thượng viện có thể huỷ bản án cũ và

ra bản án mới24

─ Khả năng tạo ra án lệ:

+ 3/4 án lệ của Thượng viện đựơc xuất bản;

+ Án lệ của Thượng nghị viện có giá trị bắt buộc đối với tất cả các toà án cấp

dưới và ngay cả đối với Thượng nghị viện cho đến năm 1966

20 Xem ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật So sánh Nxb CAND Tr244

21 Xem Micheal Bogdan, Luật So sánh Tr 97

22 Xem Micheal Bogdan, Luật So sánh Tr 97

23 Xem ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật So sánh Nxb CAND Tr245

Trang 26

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 26

2.4 Hội đồng cơ mật (Privil Council) 25

─ Xét xử phúc thẩm đối với các quyết định của Tòa án tối cao của các quốc gia thành viên Liên hiệp Anh hoặc những nước thuộc hệ thống thông luật trước đây

là thuộc địa của Anh

─ Khi xét xử, Hội đồng cơ mật phải áp dụng pháp luật của quốc gia có bản án được xem xét

─ Không phải vụ việc nào Hội đồng cơ mật cũng đưa ra bản án mà sẽ đưa ra lời

1 Bạn hãy phân tích các điều kiện để bản án trở thành án lệ?

2 Bạn hãy nêu cấu trúc của án lệ? Tại sao bộ phận Obiter dictum chỉ có giá trị tham khảo?

3 Những trường hợp nào thẩm phán có thể từ chối áp dụng án lệ ngay cả khi có sự tương tự về mặt tình tiết?

3.1 Các cách hiểu về án lệ

Hiện nay, án lệ có rất nhiều cách hiểu trong đó có 2 cách hiểu phổ biến hơn cả:

─ Cách hiểu thứ nhất cho rằng án lệ là một phương thức làm luật của thẩm phán

─ Cách hiểu thứ 2 cho rằng án lệ bao gồm các quy tắc đã được lập ra trong một bản án ban hành trước đó và có giá trị ràng buộc đối với các thẩm phán khi xét

xử các vụ việc khi có các tình tiết tương tự

25 Từ tháng 10 năm 2009 đã bị xóa bỏ cùng với Viện Nguyên lão

Trang 27

(1) Bản án chỉ trở thành án lệ khi có hiệu lực pháp luật;

(2) Bản án phải được ban hành bởi toà án có thẩm quyền tạo ra án lệ;

(3) Bản án phải đảm bảo về mặt hình thức: tên của các bên của vụ án, cấu trúc rõ ràng;

(4) Nội dung của bản án phải có tính mới về mặt tình tiết;

(5) Bản án phải được công bố

3.2 Nhận dạng án lệ

Khi được công bố tên của án lệ có dạng như sau: David v Peter(1), [1982(2)] 1 Q.B(3) 111(4) Tên nay thể hiện:

(1) Tên của các bên tham gia vào vụ án Đối vơi các vụ án hình sự là tên của

bị cáo; đối với các vụ dân sự là tên của nguyên đơn và bị đơn Chữ “v” là viết tắt của từ “verus” có nghĩa là “chống lại” trong các vụ hình sự, đối với vụ dân sự là

“và”

David v Peter => David là tên nguyên đơn, Peter là bị đơn

(2) Năm tuyên bản án hoặc năm bản án đựợc trở thành án lệ;

1982 =>Bản án này được trở thành án lệ vào năm 1982

Trang 28

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 28

(3) Tên tập văn bản có lưu trữ án lệ đó

[1982] 1 => Tập thứ nhất xuất bản vào năm 1982

Q.B => Án lệ được trích dẫn từ báo cáo của phân tòa vành móng ngựa hoàng gia (Queen’s Bench Division)

(4) Số trang có án lệ đó (có thể là trang đầu hoặc trang cuối)

111 => Án lệ ở trang 111 của báo cáo

3.4 Cấu trúc của án lệ

─ Bản án thường có 2 phần chính: phần lập luật và phần phán quyết Phần lập luận hay còn gọi là phần giải thích cho việc đi đến phần quyết định mới được xem là án lệ

─ Phần lập luận bao gồm 2 phần: lý do để ra quyết định (ratio decidendi) và lời nhận xét bình luận (obiter dictum)

Ratio decidendi: là phần chứa đựng những cơ sở lập luận quan trọng để đi đến

phán quyết; là những nguyên tắc, quy phạm pháp luật dựa vào đó thẩm phán có thể ra quyết định đối với các đương sự trong vụ kiện

Bộ phận này có tính ràng buộc đối với thẩm phán Tuy nhiên, thẩm phán có thể

từ chối áp dụng án lệ (Ratio decidendi) với nhưng trường hợp sau :

(1) Thẩm phán không đồng ý với phán quyết đó

(2) Thẩm phán không tìm thấy nguyên tắc pháp lý

(3) Khó xác định phần phán quyết

Tuy nhiên, việc từ chối áp dụng án lệ không phải là hiện tượng phổ biến và cũng không phải là xu hướng của các thẩm phán

Obiter dictum: là phần bình luận, nhận xét hoặc ý kiến của thẩm phán đưa ra

trong quá trình xét xử vụ việc chứ không phải là những lý lẽ cần thiết để đi đến phán quyết do đó nó không mang tính bắt buộc

III ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT Ở ANH

Trang 29

4 Tại sao nghề luật của nước Anh đề cao yếu tố kinh nghiệm?

5 Tại sao thẩm phán của nước Anh thường được bổ nhiệm từ luật

sư bào chữa?

6 Bạn hãy phân tích các nguyên nhân tạo ra tính độc lập trong hoạt động xét xử của thẩm phán Anh?

1 Đào tạo luật

Pháp luật đề cao thủ tục tố tụng nên trong đào tạo luật của Anh vẫn mang nặng tính truyền nghề Đào tạo luật của Anh hướng tới 2 cấp độ mục tiêu:

─ Nhằm trang bị những kiến thức khoa học pháp lý (academic) cho người học Với mục tiêu này, người học sẽ được cấp bằng cử nhân luật sau khi kết thúc khoá học;

─ Dạy nghề Với mục tiêu này, người học sẽ được cấp chứng chỉ hành nghề luật

1.1 Đào tạo cử nhân luật

Được thực hiện tại một trường đại học chuyên trách về luật hoặc khoa luật tại các trường đại học khác

Trang 30

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 30

─ Điều kiện để học: các ứng viên phải trải qua kỳ thi vào các trường này

Thông thường điểm thi đầu vào của các thí sinh phải đạt mức A thì mới có cơ hội được tuyển Do đó, những sinh viên luật ở Anh thường là những người học xuất sắc thời kỳ phổ thông

─ Chương trình đào tạo cử nhân luật kéo dài khoảng 3 năm Trải qua khoá học

này, người học sẽ được trang bị những kiến thức khoa học pháp lý cơ bản mà bất

kỳ người hành nghề luật nào cũng cần phải có khi hành nghề: hệ thống pháp luật Anh, luật đất đai (luật sở hữu), luật hình sự, luật hợp đồng, luật hiến pháp, luật hành chính, luật công lý và uỷ thác Các khoa luật ở Anh có toàn quyền trong việc thiết kế chương trình giảng dạy và chế độ thi cử

─ Phương pháp giảng dạy dưới dạng lý thuyết, thảo luận và phù đạo Hình

thức thi thường cho dạng đề giải quyết tình huống hoặc tranh luận về một nhận định nào đó Bên cạnh đó, sinh viên được tạo điều kiện tham gia vào các buổi thảo luận hay diễn án để rèn luyện kỷ năng lập luận rõ ràng và thuyết phục cho sinh viên

─ Sau khi tốt nghiêp sinh viên có thể lựa chọn việc trở thành luật sư tư vấn hay luật sư bào chữa hoặc giáo sư luật Tuỳ thuộc vào quyết định của mình, cử nhân luật sẽ phải theo học những khoá học khác nhau

1.2 Đào tạo nghề luật

Khác với đào tạo nghề luật ở châu Âu lục địa, đào tạo nghề luật ở Anh thực hiện với cả những người không có bằng cử nhân luật nhưng phải có một bằng cử nhân khác26

Do nghề luật ở anh được chia ra thàn luật sư tư vấn và luật sư bào chữa với chức năng, cơ hôi nghề nghiệp cũng như khả năng thăng tiến khác nhau nên việc đào tạo nghề luật đối với mỗi loại là không giống nhau Mặc dù vậy cách thức đào

26 Những người này phải trải qua kì thi sát hạch nghề nghiệp (CPE) hoặc học để lấy bằng diplom về luật

Trang 31

tạo hai loại luật sư này đều mang tính nghề truyền cao nhằm tạo ra những luật sư

có khả năng thắng kiện

1.2.1 Đào tạo luật sư tư vấn

─ Việc đào tạo nghề cho luật sư tư vấn sẽ được diễn ra qua 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn thứ nhất: cử nhân luật sẽ tham dự khoá học đào tạo thực hành luật

(legal practice cource) trong một năm tại các một số cơ sở đào tạo được Hội luật gia cấp phép đào tạo nghề luật;

+ Giai đoạn thứ hai: giai đoạn thực tập 2 năm tại một công ty của một luật sư tư

vấn

Kết thúc giai đoạn thứ 2, thực tập sinh sẽ được Toà án tối cao ở England và xứ Wales thừa nhận đủ tư cách của một luật sư tư vấn

1.2.2 Đào tạo luật sư bào chữa

Việc học nghề của cử nhân luật muốn trở thành luật sư bào chữa chỉ diễn ra trong 2 năm

─ Năm thứ nhất sinh viên sẽ tham dự khoá đào tạo nghề 1 năm tại các cơ sở đào tạo luật được phép Thông thường, mỗi học viên phải là thành viên của một trong bốn câu lạc bộ luật sư bào chữa gọi là Inns of Court ( Lincoln’s Inn, Gray’s Inn, Inner Temple và Middle Temple) mà một trong những điều kiện để trở thành thành viên là anh ta phải tham dự một số lượng nhất định các bữa ăn tối Tại các bữa ăn tối này, họ sẽ được tiếp xúc với những thẩm phán, luật sư danh tiếng, giàu kinh nghiệm để trao học hỏi kinh nghiệm Thông qua các bữa

ăn tối, người học dần dần sẽ phát triển được khả năng tranh luận, cũng như bản

Trang 32

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 32

lĩnh khi hành nghề vì rất có thể có thể trở thành đối thủ với những luật sư khác

đã dày dặn kinh nghiêm

─ Năm thứ hai, tốt nghiệp sinh sẽ phải thực tập 1 năm dưới sự giám sát của một luật sư tranh tụng

2 Nghề luật

2.1 Nghề luật sư

Nghề luật sư của Anh được phân thành luật sư tư vấn và luật sư bào chữa Sự phân chia này bắt nguồn từ thế kỷ XIII, nhưng xu hướng ngày nay là dần dần xóa bỏ sự phân biệt giữa hai nhóm luật sư này Luật tòa án và các dịch vụ pháp

lý năm 1990 được ban hành đã thu hẹp sự khác biệt giữa luật sư tư vấn và luật sư bào chữa, cho phép luật sư bào chữa được quảng cáo đồng thời mở rộng cơ hội cho luật sư tư vấn xuất hiện trước các tòa cấp cao Ngày nay sự phân biệt hai nhóm luật sư này vẫn tiếp diễn thể hiện ở cách thức đào tạo, chức năng, hành nghề, cơ hội thăng tiến giữa hai loại luật sư này

2.1.1 Luật sư tư vấn

─ Luật sư tư vấn của Anh thực hiện hầu hết các nhiệm vụ mà các luật sư khác

trên thế giới đảm nhiệm, trừ việc tham gia tranh tụng tại phiên toà Cụ thể: đưa

ra tư vấn pháp lý; soạn thảo hợp đồng, di chúc; thay mặt khách hàng đàm phán,

─ Hành nghề: luât sư tư vấn có thể hành nghề riêng lẻ hoặc tham gia vào hành

nghề tại các công ty luật địa phương, các công ty luật lớn ở thành thị hay các công ty luật quốc tế Quy mô từ vài người đến hàng trăm người Hình thức cùng

mở công ty luật hợp danh để cùng chia lợi nhuận và rủi ro kinh doanh được các luật sư này ưa chuộng hơn cả

Trang 33

─ Quyền tranh tụng của luật sư tư vấn là hết sức hạn chế mặc dù sau năm 1990

tình hình này đã được cải thiện về mặt pháp lý nhưng về mặt thực tế thì nó còn gặp phải tư duy bảo thủ cố hữu của luật gia Anh Theo đó, họ chỉ được tranh tụng ở các toà cấp dưới, một số rất ít những luật sư tư vấn giàu kinh nghiệm có thể tranh tụng ở toà cấp cao sau khi tham dự kỳ thi sát hạch để giành quyền tham

dự những phiên toà cấp cao

─ Cơ hội thăng tiến của luật sư tư vấn cũng thấp hơn luật sư bào chữa bởi họ chỉ có thể trở thành thẩm phán ở các toà cấp dưới

─ Luật sư tư vấn chịu sự quản lý của tổ chức Hội luật sư riêng của mình (Law Society) Hội này sẽ quản lý việc gia nhập Hội của các luật sư tư vấn, thực thi và cưỡng chế các quy chế của Hội và đại diện cho lợi ích của các luật sư tư vấn27

2.1.2 Luật sư bào chữa

─ Theo truyền thống luật sư bào chữa có chức năng chính là tham gia tranh tụng tại tất cả các phiên toà và việc biện hộ ở ở các toà cấp cao là độc quyền của nhóm luật sư này Luật sư bào chữa cũng có quyền đưa ra ý kiến như một chuyên gia pháp lý khi được các luật sư tư vấn tham khảo

─ Hành nghề: khác với các luật sư tư vấn, các luật sư tranh tụng hành nghề một cách độc lập với sự giúp việc của thư ký riêng Các toà án tập của Anh thường tập trung ở các thành phố lớn, đặc biệt là London nên các văn phòng của luật sư bào chữa ở thành phố này

─ Xuất phát nhận định cho rằng luật sư bào chữa không nên dính dáng vào vấn

đề gây tranh cãi mà anh ta không hề nhìn thấy và việc trình bày vụ việc của khách hàng được khách quan và thuyết phục thì anh ta không liên hệ trực tiếp với khách hàng, không được tư vấn cho khách hàng khi không có mặt của luật

sư tư vấn Cũng xuất phát từ nhận định cho rằng luật sư bào chữa là nghề phục

Trang 34

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 34

vụ cho công lý nên anh ta không được từ chối xét xử khi có yêu cầu28 và không được trực tiếp thoả thuận giá với khách Việc này sẽ do thư ký của anh ta đàm phán với khách hàng

─ Khả năng thăng tiến những luật sư bào chữa giỏi, có uy tín thường có nhiều

cơ hội được bổ nhiệm làm thẩm phán ở các toà cấp cao Bên cạnh đó, luật sư bào chữa giỏi và thành đạt cũng có cơ hội được Văng phòng Hoàng gia (Lord Chancellor) bổ nhiệm làm cố vấn cho Nữ hoàng Lúc đó anh ta sẽ có thêm hai chữ Q.C (Queen’s Counsel) hoặc K.C (King’s Counsel), được mặc áo choàng lụa, được từ chối khách hàng mà anh ta không muốn nhận Luật sư có danh hiệu Q.C thường được trả phí rất cao và anh ta thường chỉ nhận bào chữa cho những

vụ đặc biệt nghiêm trọng mà thôi.29

─ Cơ quan quản lý luật sư bào chữa chính là các Đoàn luật sư (Inns) Trước đây các đoàn luật sư cũng là các cơ sở đào tạo luật sư tranh tụng nhưng ngày nay, chức năng này sẽ do Trường toà án đảm nhiệm Bên cạnh những Đoàn luật sư (Inns of Court), luật sư bào chữa còn chịu sự quản lý của Hiệp hội của các luật

sư bào chữa được (Bar Council tương tự như chức năng của Hội luật sư tư vấn (Law Society) đối với các luật sư tư vấn30

=> Chính sự phân chia luật sư theo kiểu truyền thống ở Anh đã khiến cho quá trình tố tụng của Anh thêm phức tạp Nếu vụ việc được giải quyết ở toà cấp thấp nhưng sau đó được chuyển lên toà cấp cao để xem xét kéo theo hệ luỵ là các bên phải tìm kiếm luật sư bào chữa thay cho luật sư vấn để tham gia tố tụng tại các tòa cấp cao Đồng nghĩa việc này, các bên sẽ phải tốn thêm rất nhiều chi phí cho việc theo đuổi vụ kiện: chi phí môi giới phải trả cho luật sư tư vấn, chi phí phải trả cho luật sư bào chữa (trong đó có cả phần của thư ký thay mặt luật sư bào

28 Họ chỉ có thể từ chối một vụ án nào đó trong những hoàn cảnh hết sức giới hạn Ví dụ: khi họ thiếu kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực pháp luật có liên quan Ngoài ra, với những luật sư được bổ nhiệm làm cố vấn cho Nữ hoàng thì anh ta được phép từ chối các khách hàng mà anh ta không muốn nhận

29 Xem Micheal Bogdan, Luật So sánh Tr 104

30 Xem ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật So sánh Nxb CAND Tr269

Trang 35

chữa thoả thuận với khách hàng) Do một luật gia của Anh đã nhận xét rằng

“Một nguyên tắc lớn của pháp luật Anh là đem lại lợi nhuận cho chính bản thân nó”31

2.2 Nghề thẩm phán

Ở một đất nước mà hệ thống pháp luật được hình thành từ thực tiễn xét xử như ở Anh thì thẩm phán là chức danh cao quý nhất trong các chức danh tư pháp Là mục tiêu phấn đấu của những sinh viên luật và những luật sư đang hành nghề

─ Ngoại trừ các pháp quan không chuyên, các thẩm phán còn lại đều được bổ nhiệm từ các luật sư tranh tụng, còn luật sư tư vấn chỉ có thể được bổ nhiệm làm thẩm phán ở các toà cấp thấp Quan điểm truyền thống cho rằng bản thân các thẩm phán buộc phải là người đã có kinh nghiệm trong việc trình bày và phân tích các vụ việc Do đó chỉ có luật sư tranh tụng mới là người thích hợp vì họ đã quá quen thuộc với công việc đó khi hành nghề Ngày nay, nhiều người đã hoài nghi tính hoàn thiện của quy trình bổ nhiệm này khi cho rằng kinh nghiệm tranh tụng của luật sư không thể giúp anh ta đảm nhiệm tốt công việc xét xử của một thẩm phán nếu không được đào tạo Để khắc phục, Hội đồng nghiên cứu toà án được thành lập với chức năng đào tạo thẩm phán

─ Việc đào tạo được thực hiện bởi chính các thẩm phán giảng dạy Một số trường đại học cũng gián tiếp tham gia vào quá trình đào tạo thẩm phán thông qua chương trình đào tạo ra những thầy dạy thẩm phán (Training of Trainer program) để giúp cho thẩm phấn có kỹ năng sư phạm trong việc truyền nghề

─ Tất cả các chức danh của toà án: thẩm phán (judges), pháp quan (magistrates), các thành viên cơ quan tài phán khác (tribunal members) trước đây chỉ do Đại pháp quan có toàn quyền bổ nhiệm Từ sau luật cải tổ Hiến pháp

Trang 36

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn 36

năm 2005, Đại pháp quan chỉ thực hiện việc bổ nhiệm theo sự tuyển chọn của

Ủy ban bổ nhiệm thẩm phán

─ Các thẩm phán Anh thường được bổ nhiệm từ các luật sư có năng lực và phẩm chất tốt mà những yếu tố này chỉ có được sau nhiều năm hành nghề luật sư tranh tụng Trước khi được bổ nhiệm làm thẩm phán thì họ đã là những người giàu có, có tiếng tăm, độ tuổi khá cao là một trong những yếu tố quan trọng tạo tính độc lập và bảo thủ của thẩm phán Anh trong xét xử

v Tính độc lập của thẩm phán Anh

Các thẩm phán Anh có quyền tự hào vì họ chính là những người xây dựng được

hệ thống pháp luật thống nhất trên toàn bộ nước Anh thông qua thực tiễn xét xử của mình Ngaỳ nay các án lệ do họ tạo ra vẫn đóng vai trò là nguồn luật xét xử quan trọng nhất trong cấu trúc nguồn luật của Anh Để có thể có được thành công ấy, nước Anh đã dành cho thẩm phán Anh tính độc lập trong quá trình xét

xử cụ thể:

─ Hầu hết các thẩm phán đều do Nữ hoàng bổ nhiệm chứ không phải do Nghi viện hay chính phủ nên thẩm phán Anh có được sự độc lập với 2 thiết chế còn lại của Bộ máy nhà nước Anh;

─ Nhiệm kỳ của các thẩm phán là suốt đời Điều này giống với các thẩm phán

Mỹ tuy nhiên khác với Mỹ, Anh quy định độ tuổi về hưu của thẩm phán là 70 tuổi Với quy định này, người Anh vẫn có thể tận dụng được kinh nghiệm của thẩm phán – yếu tố quyết định trong bổ nhiệm thẩm phán vừa hạn chế được mặt trái của chế độ bổ nhiệm suốt đời gây ra là tránh trường hợp những thẩm phán không còn đủ sáng suốt, minh mẫn nữa nhưng vẫn muốn tại vị Với cách này người Anh cũng góp phần cải cách những quy định cua thông luật vì những thẩm phán vào thay sẽ làm bớt đi sự cứng nhắc của thông luật do các vị thẩm phán cũ tạo ra trong thời gian tại vị;

Trang 37

─ Thẩm phán của tòa cấp cao chỉ bị bãi miễn khi có yêu cầu từ cả 2 Viện của Anh Thẩm phán củ tòa cấp thấp chỉ bị Đại chưởng ấn bãi miễn trong trường hợp phạm lỗi nghiêm trọng;

─ Chính sự mềm dẻo của thông luật của thông luật cũng góp phần làm tăng tính độc lập của thẩm phán Thông luật linh hoạt ở chỗ, thẩm phán được toàn quyền đưa ra quyết định về yếu tố tình tiết tương tự - điều kiện tiên quyết buộc thẩm phán phải tuân thủ phán quyết trước đó Do vậy, nếu thẩm phán không muốn ràng buộc vào án lệ có sẵn thì chỉ cần lập luận rằng không có sự tương tự về mặt tình tiết trong án lệ với vụ việc mình đang thụ lý Từ đó, ông ta có thể giải quyết

vụ việc theo quan điểm cá nhân của mình

─ Như đã nói ở trên, trước khi trở thành thẩm phán, thẩm phán Anh phải trải qua thời gian hành nghề luật sư tranh tụng nhất định Thường khi trở thành thẩm phán họ đã là những luật sư có tên tuổi, uy tín và giàu có nên cái tôi của thẩm phán rất cao

Tính độc lập của thẩm phán Anh cũng phần nào tạo ra tính độc lập của nhánh tư pháp Anh đối với 2 nhánh quyền lực còn lại, tạo điều kiện cho ngành tư pháp phát triển Tuy nhiên, chính tính độc lập cao của thẩm phán Anh đã dẫn đến tính bảo thủ trong thẩm phán làm cho hệ thống thông luật càng trở nên trì trệ, cứng nhắc

Trang 38

2

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn

I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH NƯỚC MỸ VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT MỸ

1 Lịch sử hình thành nhà nước Mĩ

Câu hỏi:

1 Tại sao pháp luật Mỹ có nguồn gốc từ thông luật Anh?

2 Tại sao pháp luật Mỹ chỉ là sự tiếp thu có chọn lọc thông luật Anh?

3 Tại sao cuộc di dân của người Anh đóng vai trò quyết định đến sự ra đời nhà nước và pháp luật Mỹ?

4 Việc tiếp thu thông luật Anh trước và sau năm 1776 có gì khác nhau?

5 Tại sao pháp luật Mỹ vẫn “ở lại” trong thệ thống thông luật?

6 Những khía cạnh nào trong lịch sử hình thành nhà nước Mỹ ảnh hưởng đến

hệ thống pháp luật Liên bang Mỹ?

a Quá trình di dân từ châu Âu qua Bắc Mĩ:

— Thời điểm di dân và thành phần các nước chủ yếu tham gia vào quá trình di dân:

Năm 1492 khi châu Mĩ được ra, đã diễn ra quá trình di dân kéo dài suốt hơn 3 thế kỉ

+ Những nước tiên phong: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Thụy Điển, Hà Lan…

+ Năm 1607 được tính là thời điểm di cư của người Anh với việc hình thành khu

dân cư đầu tiên của người Anh ở Bắc Mỹ - Jamestown

Ä Lịch sử nhà nước và pháp luật Mỹ bắt đầu từ năm 1607, người Anh đóng vai trò quan trọng hơn các nước khác ở châu Âu đối với sự ra đời của nhà nước Liên bang

Mỹ

— Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến quá trình di dân của nước Anh:

+ Về kinh tế:

Trang 39

sản xuất TBCN, đặt ra nhu cầu về nguyên liệu và mở rộng thị trường

+ Về chính trị:

• Những tư tưởng tự do, dân chủ, đề cao các quyền tự do cá nhân phát triển ở nước Anh làm cho mâu thuẫn vốn có giữa nhân dân với chế độ quân chủ chuyên chế Anh trở nên gay gắt hơn bao giờ hết

Chính những mâu thuẫn, bất đồng về chính trị khiến nhiều người đã dời bỏ nước Anh để thoát khỏi sự cai trị của Hoàng gia, nhiều người với tham vọng cao hơn là xây dựng một nền chính trị tự do, dân chủ tại vùng đất mới

Ä Nước Mỹ sau này không thể là nhà nước phong kiến và quyền lực nhà nước không thể tập trung trong tay một cá nhân hay một cơ quan nào đó để tránh sự tập quyền

+ Về tôn giáo:

Do Hoàng gia Anh lợi dụng tôn giáo để cai trị nhân dân à một bộ phận Thanh giáo tìm cách sang châu Mĩ để tìm đến tự do về tôn giáo, xây dựng một xã hội trong đó tách biệt giữa nhà thờ và tôn giáo;

à Những nguyên nhân trên đã dẫn tới:

+ Thành phần di dân từ Anh rất đa dạng; đa số họ dù ít hay nhiều đều bất mãn với

sự cai trị hà khắc của hoàng gia Anh trong đó có thông luật Anh

+ Những người di dân cũng chuyển dần từ tính cách bảo thủ cố hữu của người Anh

thành những tính cách: đề cao tự do cá nhân, đề cao quyền bình đẳng, luôn thỏa thuận và rất thực dụng những tính cách này có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nhà nước và pháp luật Mỹ sau này

Trang 40

4

ThS Nguyễn Thị Hằng_Email: nthang@hcmulaw.edu.vn

Đến đầu thế kỉ XVIII, 13 khu dân cư của Anh đã hình thành trên miền đất Bắc Mĩ

— Đặc điểm của các khu dân cư:

+ Mối quan hệ với Hoàng gia Anh: lỏng lẻo

• Về mặt chủ quan: do chính quyền Anh phải lo đối phó với các cuộc nổi dậy

và tình trạng phản đối của người dân trong nước và mở rộng thuộc địa trên các châu lục khác

• Về mặt khách quan:

ü Do vị trí địa lý: khoảng cách giữa nước Anh và châu Mỹ là Đại Tây Dương rộng lớn;

ü Do chính ý chí tự chủ của những người di dân

Ä Pháp luật của Anh không thể được tiếp nhận một cách triệt để ở châu Mỹ Người

Mỹ sẽ lợi dụng sự sao lãng của Hoàng gia để chuyển tải những tư tưởng tự do, dân chủ đặc trưng của người Mỹ pháp luật

+ Mối quan hệ giữa các khu dân cư với nhau: độc lập nhau

+ Về chính quyền: bên cạnh các quan Thống sứ do Hoàng gia Anh cử tới để bảo vệ

lợi ích của triều đình Anh ở châu Mỹ, các khu dân cư đều hình thành cho mình cơ quan quản lý thông qua hình thức bầu cử

+ Về pháp luật: các thuộc địa đều ban hành hiến chương thành văn để ghi nhận và

bảo vệ những quyền tự do và bình đẳng của nhân dân; hạn chế sự lạm quyền từ cơ quan nhà nước

Ä Chính sự độc lập hoàn toàn và bình đẳng với nhau giữa các khu dân cư phần nào giải thích cho hình thức nhà nước Mỹ sau này

b Cuộc đấu tranh giành độc lập của thuộc địa (1773-1783)

— Ngày 5/9/1774: Đại hội châu lục lần thứ nhất (First Continetal Congrees) diễn ra nhằm thương thuyết hòa bình với hoàng gia Anh

— Tháng 5/1775 các thuộc địa tổ chức Đại hội châu lục lần thứ hai Các đại biểu tham dự đã bỏ phiếu tiến hành tham chiến và tổ chức lực lượng để đối phó với Anh Đây được coi là chính phủ đầu tiên của thuộc địa

Ngày đăng: 20/03/2022, 14:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w